giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Nút tai, âm nền và kích thích âm khi ngủ

Chương 7 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 19 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi bốn can thiệp âm thanh cá nhân được đo bằng gì và cho kết quả gì: nút tai, âm nền liên tục, tai nghe che ồn và kích thích âm theo pha sóng chậm. Thử nghiệm có đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) mới nhất, không do hãng thiết bị tài trợ, cho thấy, ở 25 người trẻ khoẻ trong phòng thí nghiệm, nút tai bọt nở giữ được giấc ngủ sâu và REM trước tiếng ồn ngắt quãng. Cũng thử nghiệm đó cho thấy tiếng ồn hồng liên tục làm giảm REM theo liều. Các nghiên cứu có kết quả thuận lợi cho âm nền đều rất nhỏ; hai nghiên cứu dùng PSG chỉ có 4 và 18 người, nghiên cứu còn lại đo bằng nhật ký và actigraphy, và nhiều nghiên cứu có tài trợ của hãng. Kích thích âm theo pha làm thay đổi sóng não khá nhất quán, nhưng lợi ích lên trí nhớ yếu dần qua các lần lặp lại.

Chương không xếp hạng và không khuyên dùng thiết bị nào; tên sản phẩm chỉ xuất hiện khi chính sản phẩm là đối tượng nghiên cứu, kèm thông tin ai tài trợ. Chúng tôi tách giấc ngủ đo được với giấc ngủ tự báo cáo. Actigraphy là phép ước tính ngủ–thức từ cử động, thường bằng thiết bị đeo cổ tay; các cách đo được so sánh ở trang đo giấc ngủ.

Nút tai: nhãn, tai người đeo và giấc ngủ đo được#

Mức giảm âm trên bao bì và mức đạt được ở tai#

Ở Mỹ, nút tai được bán kèm chỉ số giảm ồn (noise reduction rating, NRR) đo trong phòng thí nghiệm. Sổ tay kỹ thuật của Cơ quan An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp Mỹ (Occupational Safety and Health Administration, OSHA) ghi rằng mức bảo vệ thực tế thường thấp hơn nhãn (OSHA, 2022). Lý do là phần lớn người dùng không được thử độ khít, và cách đeo khi thử không đại diện cho cách đeo thực tế.

Một phép đo thực địa ở 60 lao động nông nghiệp Mỹ đo độ giảm âm cá nhân (personal attenuation rating, PAR) trên 255 cặp nút tai thuộc 4 mẫu phổ biến (Anthony và cs., 2017). Dưới 6% người đeo nút bọt nở đạt mức gần NRR trên bao bì. Nút đẩy vào và nút ba tầng chỉ đạt PAR 12–13 dB. Người từ 60 tuổi trở lên có PAR thấp hơn. Đây là tóm tắt hội nghị, chưa bình duyệt đầy đủ, và người tham gia đeo nút tai khi làm việc chứ không phải khi ngủ.

Thử nghiệm PSG năm 2026 trình bày ở mục sau đo độ giảm âm riêng cho từng người đeo bằng một hệ thống đo tại tai (Basner và cs., 2026). Trung bình là 25,5 dB, độ lệch chuẩn 9,2 dB, và trải từ 10,8 đến 41,6 dB. Cùng một loại nút tai, mức giảm âm ở tai người này và người kia khác nhau rất xa.

Theo chúng tôi SL, con số trên bao bì vì vậy không cho biết mức giảm âm ở tai một người cụ thể khi nằm nghiêng trên gối.

Thử nghiệm PSG năm 2026: nút tai trước tiếng ồn ngắt quãng#

Basner và cộng sự thực hiện một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) thiết kế chéo trên 25 người khoẻ, tuổi trung bình 28,5, gồm 7 nam (Basner và cs., 2026). Mỗi người ngủ 7 đêm trong phòng thí nghiệm, gồm 6 điều kiện. Đêm ồn có 93 sự kiện giao thông và báo động, mức đỉnh LAS,max (mức tối đa trọng số A, hằng số thời gian chậm) 45, 55 và 65 dB, hiệu chuẩn bằng máy đo lớp 1 tại vị trí đầu người ngủ. Đêm chứng có LAeq 23,7 dB.

So với đêm yên tĩnh, đêm ồn làm giảm giấc ngủ sâu N3 từ 101,0 xuống 77,6 phút, tức khoảng 23 phút (p < 0,0001). Khi người tham gia đeo nút tai bọt nở trong đêm ồn, tổng N3 và REM dài hơn đêm ồn không nút tai 21,0 phút. Trên kết cục chính, đêm ồn có nút tai không khác đêm yên tĩnh. Nút tai trong thử nghiệm là loại bọt nở của Mack's, có ba cỡ.

Theo Crossref, nghiên cứu do Cục Hàng không Liên bang Mỹ (Federal Aviation Administration, FAA) tài trợ qua chương trình ASCENT, không phải hãng nút tai hay máy tạo âm. Mục công bố xung đột lợi ích chúng tôi chưa đọc được. Xã luận đi kèm ghi rằng hiệu quả của nút tai có vẻ giảm ở mức sự kiện 65 dB (Garcia Molina, 2026). Tác giả xã luận là nhân viên Sleep Number, một hãng giường thông minh, và khai không có xung đột tài chính liên quan. Người tham gia đều trẻ, khoẻ, mỗi điều kiện ngủ một đêm trong phòng thí nghiệm.

Thai phụ: cảm nhận và số đo tách nhau#

Một RCT ở Malaysia tuyển 56 thai phụ con so tuổi thai 34–36 tuần, ngủ dưới 6 giờ mỗi đêm (Teo và cs., 2022). Nhóm can thiệp (29 người) đeo nút tai và bịt mắt. Nhóm chứng (27 người) đeo một băng đô đàn hồi đóng vai giả dược. Thời gian ngủ đêm đo bằng actigraphy tăng 24,7 ± 14,9 phút ở nhóm can thiệp và 18,1 ± 17,3 phút ở nhóm chứng. Khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa (p = 0,13).

Ở kết cục phụ tự báo cáo, 66% nhóm can thiệp cho biết ngủ tốt hơn, so với 26% ở nhóm chứng (RR 2,2; KTC 95% 1,1–4,6). Điểm hài lòng trung vị là 7 so với 6 (p = 0,003). Nghiên cứu không có tài trợ và tác giả khai không xung đột. Nhóm chứng cũng ngủ thêm khoảng 18 phút, gợi ý hiệu ứng kỳ vọng hoặc hồi quy về trung bình. Theo chúng tôi SL, đây là ví dụ rõ về việc cảm nhận tốt lên có thể đi trước, hoặc đi riêng, với số đo khách quan.

Ráy tai#

Hướng dẫn lâm sàng năm 2017 của Hội Tai Mũi Họng Hoa Kỳ (AAO-HNSF) ghi rằng vật trong ống tai như máy trợ thính hay nút tai có thể cản trở quá trình tự làm sạch ráy tai (Schwartz và cs., 2017). Cùng hướng dẫn ước tính nút ráy tai có ở khoảng 10% trẻ em, 5% người lớn khoẻ và 19–65% người trên 65 tuổi. Hướng dẫn không đưa số đo nguy cơ riêng cho việc đeo nút tai khi ngủ.

Âm nền liên tục: tiếng ồn trắng và tiếng ồn hồng#

Tiếng ồn trắng (white noise) có năng lượng bằng nhau ở mọi tần số. Tiếng ồn hồng (pink noise) giảm dần năng lượng về phía tần số cao, nên nghe trầm hơn. Ý tưởng dùng chúng khi ngủ dựa trên hiện tượng che âm (masking): khi nền âm cao lên, một sự kiện ồn nổi lên ít hơn so với nền. Cơ chế thức giấc do tiếng ồn được trình bày ở trang tiếng ồn và thức giấc.

Cơ chế che âm trong một thực nghiệm nhỏ#

Một thực nghiệm PSG minh hoạ cơ chế này (Stanchina và cs., 2005). Ở 4 người khoẻ ngủ với tiếng ồn đơn vị hồi sức tích cực (intensive care unit, ICU) ghi âm, chỉ số vi thức giấc tăng từ 13,3 lên 48,4 lần mỗi giờ. Khi thêm tiếng ồn trắng, chỉ số còn 15,7 lần mỗi giờ. Mức chênh nền–đỉnh gây vi thức giấc ở hai đêm gần như bằng nhau, khoảng 17,5 dB; tác giả suy ra âm nền làm giảm số sự kiện vượt ngưỡng chênh lệch. Đó là suy luận trên mẫu rất nhỏ, không phải số đo trực tiếp.

Tổng quan hệ thống và thử nghiệm PSG năm 2026#

Tổng quan hệ thống của Riedy và cộng sự gom 38 nghiên cứu về tiếng ồn trắng hoặc âm băng rộng liên tục khi ngủ (Riedy và cs., 2021). Kết quả trải từ tốt lên đến xấu đi. Chất lượng bằng chứng cho giả thuyết âm liên tục giúp giấc ngủ tốt lên được xếp rất thấp theo hệ GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation). Tác giả lưu ý âm liên tục có thể hại giấc ngủ và thính lực, và đề nghị đo giấc ngủ khách quan trước khi khuyến khích dùng.

Thử nghiệm của Basner và cộng sự có hai điều kiện thêm tiếng ồn hồng liên tục 40 hoặc 50 dBA vào đêm ồn (Basner và cs., 2026). So với 118,1 phút REM của đêm yên tĩnh (không phải so với đêm chỉ có ồn ngắt quãng), đêm ồn kèm tiếng ồn hồng 40 dBA mất 21,5 phút REM. Đêm ồn kèm tiếng ồn hồng 50 dBA mất 29,0 phút. Thời gian thức trên giường ở hai đêm này là 46,0–48,0 phút, so với 32,6 phút ở đêm yên tĩnh.

Đêm chỉ có tiếng ồn hồng 50 dBA, không có sự kiện ồn nào, vẫn có REM ít hơn đêm yên tĩnh 18,6 phút (99,5 so với 118,1 phút; p < 0,001). Xã luận đi kèm tóm lại rằng tiếng ồn hồng chỉ cải thiện nhẹ phân mảnh và N3 (Garcia Molina, 2026). Theo xã luận, cấu trúc giấc ngủ tổng thể khi thêm tiếng ồn hồng còn xấu hơn khi chỉ có ồn môi trường. Người tham gia không quen ngủ với âm nền, nên chưa biết kết quả ở người đã dùng lâu năm.

Các nghiên cứu có kết quả thuận lợi#

Một RCT chéo mù đơn trên 18 người khoẻ dùng mô hình mất ngủ thoáng qua: đi ngủ sớm 90 phút so với thường lệ (Messineo và cs., 2017). Âm băng rộng 46 dB phát liên tục, so với nền 40 dB, đi kèm thời gian đến giai đoạn N2 ngắn hơn. Trung vị giảm từ 19 xuống 13 phút, tức 38% (p = 0,011). Nghiên cứu do Cambridge Sound Management, hãng sản xuất thiết bị âm được thử, tài trợ cùng Harvard Catalyst. Ba tác giả nhận phí tư vấn từ hãng. Tác giả tự ghi rằng mô hình "đi ngủ sớm 90 phút" chưa được thẩm định, và 2/20 người bỏ cuộc vì không chịu được thiết bị đo.

Một nghiên cứu thiết kế ABA trong cùng người, mỗi pha 1 tuần, theo dõi 10 người lớn sống nơi ồn ở New York (Ebben và cs., 2021). Khi dùng máy tạo tiếng ồn trắng, thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO) đo bằng actigraphy giảm (p = 0,007). Thời gian vào giấc theo nhật ký cũng giảm (p = 0,016), còn hiệu quả giấc ngủ chỉ có xu hướng (p = 0,063). Thiết bị là máy Dohm Classic của Marpac. Theo thông cáo của Yogasleep, nghiên cứu được Marpac LLC, công ty mẹ của Yogasleep, tài trợ một phần. Nghiên cứu không có nhóm chứng và không mù.

Nghiên cứu tại nhà không có tài trợ#

Vickrey và Lerner chia 72 người thành ba nhóm song song: thức, ngủ yên lặng, và ngủ với tiếng ồn hồng liên tục 55 dB cả đêm (Vickrey và Lerner, 2023). Giấc ngủ đo tại nhà bằng băng đô điện não đồ (electroencephalography, EEG) khô 4 kênh, chấm giai đoạn tự động. Nhóm tiếng ồn hồng có nhiều phút N2 hơn nhóm yên lặng (t(44) = −2,66, p < 0,01, kiểm định một phía). Thời lượng và tỉ lệ giấc ngủ sóng chậm không khác.

Tỉ lệ đạt "bừng hiểu" (insight) trong nhiệm vụ nhận thức là 36,4% ở nhóm yên lặng, 16% ở nhóm thức và 12% ở nhóm tiếng ồn hồng. Không so sánh nào có ý nghĩa (mọi p > 0,19), nên tiêu đề bài, rằng tiếng ồn hồng "có thể gây hại", mạnh hơn số liệu. Nghiên cứu không có tài trợ và không xung đột lợi ích. Theo chúng tôi SL, mức 55 dB là khá to: hướng dẫn AVO của Anh đặt mục tiêu nền phòng ngủ ban đêm LAeq,8h 30 dB, như trình bày ở chương về cách âm cửa sổ và đo tiếng ồn.

Một tổng quan đăng ở Việt Nam#

Một tổng quan hệ thống đăng trên Tạp chí Giáo dục năm 2026 tổng hợp 20 nghiên cứu theo PRISMA 2020 (Bùi Hoài Nam và Hà Thị Minh Chính, 2026). Tác giả kết luận tiếng ồn trắng cải thiện chất lượng giấc ngủ "một cách nhất quán", nhưng tóm tắt không báo cỡ hiệu ứng. Theo danh mục tham khảo, không nghiên cứu nào được làm ở Việt Nam. Tác giả thứ nhất thuộc một phòng khám nha khoa.

Vì sao các kết quả đi ngược nhau#

Nghiên cứuThiết kế, cỡ mẫuĐo giấc ngủ bằngÂm nềnKết quả chínhTài trợ
Stanchina và cs., 2005Thực nghiệm phòng thí nghiệm, n = 4PSGỒn trắng thêm vào ồn ICUVi thức giấc 48,4 → 15,7 lần/giờChưa đọc được
Messineo và cs., 2017RCT chéo mù đơn, n = 18PSGBăng rộng 46 dBThời gian đến N2 giảm 38%Hãng thiết bị được thử
Ebben và cs., 2021ABA, không nhóm chứng, n = 10Actigraphy, nhật kýỒn trắngWASO giảm (p = 0,007)Hãng thiết bị, một phần
Vickrey và Lerner, 2023Ba nhóm song song, n = 72EEG khô tại nhàỒn hồng 55 dBN2 tăng; sóng chậm không đổiKhông tài trợ
Basner và cs., 2026RCT chéo, n = 25PSGỒn hồng 40–50 dBAREM giảm 21,5–29,0 phútFAA

Các nghiên cứu có kết quả thuận lợi đều nhỏ và phần lớn có tài trợ của hãng thiết bị; hai trong ba nghiên cứu đo kết cục ngắn như thời gian vào giấc hoặc dùng actigraphy và nhật ký, còn nghiên cứu PSG cả đêm duy nhất chỉ có 4 người. Các nghiên cứu cho kết quả bất lợi hoặc trung tính dùng PSG hoặc EEG cả đêm, đo cấu trúc giấc ngủ, và không có tài trợ của hãng. Chúng tôi SL chưa thể tách phần khác biệt do tài trợ, do cách đo hay do loại kết cục. Theo chúng tôi SL, bằng chứng đo khách quan không do hãng thiết bị tài trợ hiện có không ủng hộ niềm tin rằng tiếng ồn hồng làm giấc ngủ sâu thêm ở người khoẻ; xã luận chỉ ghi cải thiện nhẹ N3 khi thêm tiếng ồn hồng vào ồn môi trường.

Trẻ sơ sinh và máy tạo âm#

Thử nghiệm ngẫu nhiên năm 1990 ở 40 trẻ sơ sinh 2–7 ngày tuổi thường được dẫn để nói tiếng ồn trắng giúp trẻ vào giấc (Spencer và cs., 1990). Trong nghiên cứu này, 16/20 trẻ (80%) nghe tiếng ồn trắng ngủ trong vòng 5 phút, so với 5/20 trẻ (25%) ở nhóm chứng. Kết cục được quan sát bằng mắt, không dùng PSG. Nghiên cứu không báo mức âm trong tóm tắt, và không đo thời lượng ngủ hay thính lực.

Một nghiên cứu khác đo chính thiết bị, không đo trẻ (Hugh và cs., 2014). Nhóm tác giả đo 14 máy tạo âm cho trẻ sơ sinh ở âm lượng tối đa, có hiệu chỉnh theo ống tai trẻ 6 tháng tuổi. Ở khoảng cách 30 cm, cả 14 máy đều vượt 50 dB(A), giới hạn khuyến nghị cho phòng trẻ sơ sinh trong bệnh viện. Ba máy vượt 85 dB(A), mức được so với giới hạn nghề nghiệp 8 giờ của người lớn. Theo một bài tường thuật trên Science News, 13/14 máy vẫn từ 50 dB trở lên khi đặt cách 200 cm. Chúng tôi không đọc được mục tài trợ của nghiên cứu.

Về khuyến nghị, chúng tôi chỉ có nguồn thứ cấp. Một bài năm 2024 của Bệnh viện Nhi Quốc gia Children's National (Mỹ) dẫn báo cáo năm 2023 của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP). Theo bài, báo cáo này ghi âm lượng máy tạo âm cho trẻ nên dưới 50 dB (Robbins, 2024). Bài viết còn tự thêm hai gợi ý về khoảng cách đặt máy và hẹn giờ tắt, không gán cho AAP. Bản tóm lược của Hiệp hội Ngôn ngữ – Nghe nói Hoa Kỳ (ASHA) về cùng báo cáo chỉ nêu đặt máy xa trẻ, để âm lượng thấp và dùng dưới 8 giờ, không có con số 50 dB. Con số này vì vậy là thuật lại qua nguồn thứ cấp, chưa đối chiếu với văn bản AAP.

Tai nghe che ồn khi ngủ#

Về tai nghe khi ngủ, chúng tôi chỉ tìm được một nghiên cứu một nhóm tự đối chứng ở bác sĩ nội trú cấp cứu (Duggan và cs., 2022). Mỗi người có 14 ngày nền và 14 ngày can thiệp với tai nghe che ồn SleepBuds. Giấc ngủ được tự báo cáo qua tin nhắn trên thang Likert, không dùng PSG hay actigraphy. Có 26 người được phân tích.

Những ngày có dùng tai nghe đi kèm chất lượng giấc ngủ tự đánh giá cao hơn 0,5 điểm trên thang 0–7 (KTC 95% 0,23–0,80). Buồn ngủ thấp hơn 0,6 điểm (KTC 95% −0,90 đến −0,34). Người tham gia dùng tai nghe trung vị 5/14 ngày. Dữ liệu phép thử thời gian phản ứng chỉ có ở 3 người, nên không đánh giá được độ tỉnh táo khách quan.

Sau 6 tháng, chỉ 12/26 người trả lời khảo sát. Năm người còn dùng tai nghe, và đều dùng dưới 25% số giấc ngủ. Thiết bị do Bose tặng, kinh phí đến từ quỹ thí điểm của Brigham, và tác giả khai không xung đột. Nghiên cứu không có nhóm chứng ngẫu nhiên, không mù, và không có số liệu về thính lực hay ống tai.

Kích thích âm theo pha sóng chậm#

Nguyên lý và nghiên cứu khởi đầu#

Ở can thiệp này, thiết bị đọc điện não liên tục và phát xung âm ngắn đúng lúc dao động chậm của giấc ngủ sâu ở pha lên (up-state), theo vòng kín (closed-loop). Nghiên cứu khởi đầu của Ngo và cộng sự ở người trẻ khoẻ cho thấy kích thích đúng pha làm tăng dao động chậm và hoạt động thoi ngủ đi kèm (Ngo và cs., 2013). Nghiên cứu cũng ghi nhận củng cố trí nhớ khai báo tốt hơn, còn kích thích lệch pha không có tác dụng. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt, không có cỡ mẫu và không đọc được mục tài trợ.

Sóng não thay đổi, trí nhớ thì chưa chắc#

Henin và cộng sự làm hai thí nghiệm lặp lại, một với giấc ngủ trưa (n = 12) và một qua đêm có mù đôi (n = 19) (Henin và cs., 2019). Kích thích âm vòng kín làm tăng rõ dao động chậm và thoi ngủ. Nhưng trí nhớ cặp từ không khác (t(18) = 0,51, p = 0,62), định hướng không gian cũng không (t(11) = −0,19, p = 0,85). Nghiên cứu do Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) tài trợ, không thấy hãng thiết bị.

Ba phân tích gộp cho ba bức tranh khác nhau. Wunderlin và cộng sự gộp 10 nghiên cứu (11 thí nghiệm, 177 người); hiệu ứng chung lên trí nhớ qua đêm chỉ là g = 0,25 (p = 0,07) (Wunderlin và cs., 2021). Ở người trẻ, g = 0,31 (p = 0,051). Riêng kích thích khoá pha, g = 0,36 (p = 0,047), và khi kết hợp hai yếu tố, g = 0,44 (p = 0,01). Tác giả kết luận bằng chứng chưa đủ để khuyến nghị thiết bị thương mại.

Stanyer và cộng sự gộp 16 nghiên cứu và thấy hiệu ứng trung bình ở người trẻ, g = 0,68 (p = 0,031) (Stanyer và cs., 2022). Hiệu ứng tập trung ở trí nhớ khai báo (g = 0,87; p = 0,014), không có ở trí nhớ không khai báo (g = −0,25; p = 0,357). Cấu trúc giấc ngủ trên PSG không khác giữa kích thích và giả ở cả người trẻ lẫn người cao tuổi. Tác giả nhấn mạnh số nghiên cứu ít, cỡ mẫu nhỏ, và cần thử nghiệm lớn, dài hạn.

Harlow và cộng sự xem độ lặp lại của 12 nghiên cứu (14 cỡ hiệu ứng, 206 người) (Harlow và cs., 2023). Hiệu ứng lên trí nhớ giảm đều theo năm công bố. Mô hình dự báo d = 0,99 (KTC 95% 0,49–1,49) cho nghiên cứu năm 2013, nhưng d = −0,39 (KTC 95% −0,73 đến −0,05) cho năm 2021. Xu hướng thời gian giải thích 91,8% dị biệt giữa các nghiên cứu. Cùng phân tích ước tính khoảng 34% người tham gia không thật sự mù về điều kiện kích thích, có thể vì nghe được tiếng xung âm. Điểm chênh trí nhớ trước–sau gần như không có độ tin cậy lặp lại.

Theo chúng tôi SL, hiệu ứng suy giảm theo thời gian thường gặp khi nghiên cứu đầu tiên nhỏ và phóng đại.

Tuổi tác: người cao tuổi và trung niên#

Ở 13 người cao tuổi nhận thức bình thường, tuổi trung bình 75,2 (60–84), một đêm kích thích xung tiếng ồn hồng khoá pha được so với một đêm giả (Papalambros và cs., 2017). Hoạt động sóng chậm (slow-wave activity, SWA) tăng 8% trong các khoảng đang kích thích. SWA trung bình cả giai đoạn ngủ không REM (NREM) thì không khác đêm giả. Sau đêm kích thích, người tham gia nhớ thêm 9,2 (2,1) từ, so với 3,1 (1,8) từ sau đêm giả, tức cải thiện 26,8% so với 5,7%. Mức tăng SWA tương quan với mức cải thiện trí nhớ (r = 0,64, p = 0,018).

Nghiên cứu dùng tai nghe ngủ Acoustic Sheep, do Viện Quốc gia về Lão hoá Mỹ (NIA) và Đại học Northwestern tài trợ. Ba tác giả đã nộp đơn sáng chế tạm thời cho kỹ thuật khoá pha dùng trong nghiên cứu. Chỉ có một đêm mỗi điều kiện, cỡ mẫu nhỏ, và tương quan trên 13 người không cho phép kết luận nhân quả.

Ở chiều ngược lại, Schneider và cộng sự nghiên cứu 17 người trung niên, 49–63 tuổi, trung bình 55,7 ± 1,0 tuổi (Schneider và cs., 2020). Kích thích âm vòng kín vẫn kéo dài chuỗi dao động chậm và tạo thoi ngủ, nhưng đáp ứng giảm rõ so với 11 người trẻ (24,2 ± 0,9 tuổi) của bộ dữ liệu trước. Kích thích không mang lại lợi ích cho giữ trí nhớ qua đêm hay mã hoá sau ngủ. Nó còn đi kèm giữ cặp từ khai báo kém hơn. Nghiên cứu có tài trợ học thuật, không thấy hãng thiết bị, và tác giả cuối là tác giả đầu của nghiên cứu khởi đầu năm 2013.

Số liệu từ hãng và từ nghiên cứu có hãng tham gia#

Sách trắng của Philips về sản phẩm SmartSleep, do hai nhân viên hãng viết và không qua bình duyệt, báo SWA tăng trung bình 6,8% (Mahadevan và Garcia-Molina, 2017). Chỉ 14/27 người hoàn thành là "người đáp ứng", tăng trung bình 18%.

Một RCT chéo mù đôi 2 đêm ở 25 người tự hạn chế giấc ngủ do Philips Healthcare đồng tài trợ (Diep và cs., 2021). Năng lượng sóng chậm tăng 17,7% đêm 1 (p = 0,01) và 22,2% đêm 2 (p = 0,08). Chỉ 11/25 người đáp ứng ổn định. Người tham gia tự thấy tỉnh táo hơn (p < 0,05) và chú ý đo khách quan tốt hơn sau 2 đêm. Một đồng tác giả là tác giả sách trắng của Philips.

Một thử nghiệm tại nhà dùng băng đô EEG khô Dreem do Rythm, hãng làm Dreem, tài trợ; 7/9 tác giả là nhân viên hãng (Debellemaniere và cs., 2018). Ở phần RCT chéo mù đôi (20 người phân tích), công suất delta tăng 43,9% trong 4 giây sau xung đầu so với giả, và phản ứng giữ nguyên sau 10 đêm. Tác giả không đánh giá buồn ngủ hay nhận thức.

NguồnChỉ sốCửa sổ đoMức tăngAi tài trợ, ai viết
Papalambros và cs., 2017 ĐOSWAKhoảng đang kích thích8%; không khác trên toàn NREMNIA, Northwestern; 3 tác giả có đơn sáng chế
Mahadevan và Garcia-Molina, 2017 NGÀNHSWAKhi kích thích6,8%; 14/27 người đáp ứngNhân viên Philips; không bình duyệt
Diep và cs., 2021 ĐONăng lượng sóng chậmCả đêm kích thích17,7% đêm 1; 22,2% đêm 2 (không ý nghĩa)Philips Healthcare đồng tài trợ
Debellemaniere và cs., 2018 ĐOCông suất delta4 giây sau xung43,9%Rythm tài trợ; 7/9 tác giả là nhân viên

Các con số trong bảng không so trực tiếp được: chúng khác cửa sổ đo, khác chỉ số, và phần lớn có hãng tham gia. Theo chúng tôi SL, một mức tăng sóng chậm trong vài giây sau xung âm không cho biết giấc ngủ cả đêm hay chức năng ban ngày thay đổi ra sao. Henin 2019 và Stanyer 2022 cho thấy rõ khoảng cách giữa "thay đổi sóng não" và "lợi ích chức năng".

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu đo mức giảm âm của nút tai khi nằm ngủ qua cả đêm; số liệu PAR hiện có là của người lao động ban ngày, trừ thử nghiệm Basner 2026.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu định lượng nguy cơ nút ráy tai hay viêm tai ngoài do đeo nút tai mỗi đêm.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu về việc nút tai hoặc tai nghe che ồn làm giảm khả năng nghe chuông báo cháy hay báo động khi ngủ.
  • Chưa biết kết quả của tiếng ồn hồng ở người đã quen ngủ với âm nền nhiều năm, vì người tham gia thử nghiệm PSG năm 2026 đều chưa quen.
  • Chúng tôi chưa đọc được mục công bố xung đột lợi ích của Basner 2026, và chưa đọc được mục tài trợ của Hugh 2014 và Ngo 2013.
  • Chúng tôi chưa mở được tuyên bố chính sách AAP 2023, nên con số 50 dB cho máy tạo âm chưa được đối chiếu với văn bản gốc.
  • Chúng tôi chưa mở được bản bình duyệt của Philips về kích thích âm, chỉ có sách trắng của hãng.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu ở Việt Nam về nút tai, máy tạo âm hay tai nghe khi ngủ.

Viết tắt trong trang

EEG
điện não đồ (electroencephalography)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
RR
nguy cơ tương đối (relative risk)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Nút tai, âm nền và kích thích âm khi ngủ. Trong: Tập 11 — Tiếng ồn và giấc ngủ: thức giấc, tim mạch, khảo sát dân số và các biện pháp giảm ồn. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/tieng-on-va-giac-ngu/nut-tai-am-nen-va-kich-thich-am/