giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ lục C. Dữ kiện: can thiệp và cách đo

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 32 phút đọc

Trong trang này

Phụ lục này liệt kê toàn bộ 81 dữ kiện của nhánh Can thiệp, thiết bị và cách đo tiếng ồn đã qua kiểm chứng độc lập: một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại từng dữ kiện với nguồn gốc (siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, loài, mức khẳng định). Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người, trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b3-056) dùng để đối chiếu khi cần sửa.

Một tiếng ồn làm thức giấc thế nào#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b3-056Thực nghiệm PSG ở nam giới khoẻ: hai đêm tiếng ồn ICU có cùng mức tương đương 47 dB LAeq nhưng LAFmax khác nhau (64 so với 56 dB) đều đi kèm giấc ngủ phân mảnh hơn, ít sóng chậm hơn, nhiều vi thức giấc và thời gian thức hơn so với đêm tham chiếu; theo tác giả, hạ mức đỉnh từ 64 xuống 56 dB không đủ để cải thiện rõ chất lượng giấc ngủ.LAeq 47 dB ở cả hai đêm; LAFmax 64 → 56 dB; không cải thiện rõNgườiThực nghiệm phòng lab, PSG 4 đêm (thích nghi, tham chiếu, 2 đêm phơi nhiễm); tiếng ồn ICU ghi âm thật và bản đã cắt đỉnh · Nam giới khoẻ (cỡ mẫu không có trong tóm tắt đã đọc)Persson Waye và cs., 2013 (tóm tắt)

Bệnh viện, hàng xóm và tiếng ngáy#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b3-001Trong phân tích gộp các nghiên cứu ở bệnh nhân hồi sức tích cực (intensive care unit, ICU), dùng nút tai ban đêm đi kèm nguy cơ mê sảng (delirium) thấp hơn khoảng 41%; các nghiên cứu nhỏ và đều có nguy cơ sai lệch cao.RR 0,59 (KTC 95% 0,44–0,78); 9 nghiên cứu, 1.455 bệnh nhânTổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp: 6 RCT và 3 nghiên cứu trước–sau không có nhóm chứng; kết cục chính mê sảng. Nguồn đọc là bản tóm lược thứ cấp của NIHR Evidence, chưa mở được tóm tắt/toàn văn gốc. · 9 nghiên cứu, 1.455 bệnh nhân ICU người lớnLitton và cs., 2016 (tóm tắt)
b3-002Trong một RCT ở ICU Bỉ, nhóm ngủ với nút tai có nguy cơ xuất hiện lú lẫn hoặc mê sảng thấp hơn nhóm chứng (tỉ số rủi ro tức thời (hazard ratio, HR) 0,47); tỉ lệ mê sảng thật sự gần như bằng nhau (19% so với 20%), khác biệt nằm ở lú lẫn nhẹ (15% so với 40%).HR 0,47 (KTC 95% 0,27–0,82); mê sảng 19% so với 20%; lú lẫn nhẹ 15% so với 40%NgườiRCT song song, không mù; nút tai polyurethane Bilsom 303 (SNR 33 dB(A)) mỗi đêm; mê sảng đo bằng thang NEECHAM; cảm nhận giấc ngủ bằng 5 câu hỏi tự báo cáo (chưa thẩm định), không PSG · n = 136 bệnh nhân ICU (69 nút tai, 67 chứng)Van Rompaey và cs., 2012
b3-003Trong cùng RCT ở ICU, bệnh nhân dùng nút tai tự báo cáo giấc ngủ tốt hơn từ sau đêm đầu tiên; đêm đầu không khác biệt.p = 0,042 (sau đêm đầu)NgườiRCT song song, không mù; giấc ngủ tự báo cáo bằng 5 câu hỏi, không đo khách quan · n = 136 bệnh nhân ICUVan Rompaey và cs., 2012
b3-004Tổng quan Cochrane về can thiệp không dùng thuốc ở ICU gộp 2 nghiên cứu cho thấy nút tai và/hoặc bịt mắt đi kèm tỉ lệ mê sảng thấp hơn; chất lượng bằng chứng thấp.RR 0,55 (KTC 95% 0,38–0,80); 2 nghiên cứu, 177 ngườiTổng quanTổng quan hệ thống Cochrane, 30 thử nghiệm (1.569 người); chỉ 3 thử nghiệm (đều về nút tai/bịt mắt) đủ dữ liệu gộp; GRADE thấp · 30 thử nghiệm, 1.569 người; gộp mê sảng 2 nghiên cứu, 177 ngườiHu và cs., 2015 (tóm tắt)
b3-005Gộp 2 nghiên cứu, nút tai và/hoặc bịt mắt đi kèm tổng thời gian ngủ dài hơn khoảng 2,2 giờ; nhưng phần lớn nghiên cứu đo giấc ngủ bằng máy (khách quan) không thấy lợi ích.Chênh lệch trung bình 2,19 giờ (KTC 95% 0,41–3,96); 2 nghiên cứu, 116 ngườiTổng quanTổng quan hệ thống Cochrane; phân tích gộp 2 nghiên cứu; GRADE thấp · 2 nghiên cứu, 116 ngườiHu và cs., 2015 (tóm tắt)
b3-006Ở người khoẻ ngủ trong tiếng ồn và ánh sáng ICU phát lại (khoảng 66 dB(A), 100 lux), đeo nút tai và bịt mắt đi kèm nhiều giấc ngủ REM hơn và ít vi thức giấc hơn trên PSG.REM 12,9% (có nút tai + bịt mắt) so với 9,3% (chỉ ồn/sáng), p = 0,005; vi thức giấc ít hơn p = 0,04NgườiThực nghiệm phòng lab, đo lặp (4 đêm 9 giờ: thích nghi, nền, ồn+sáng, ồn+sáng+nút tai+bịt mắt); PSG chấm tay bởi 2 người làm mù; âm phát lại trung bình 66,1 ± 4,2 dB(A) — ghi từ ICU thật (70,1 ± 11,9 dB(A), đỉnh 95,3 dB(A)) · n = 14 người khoẻ (15 tuyển, 1 loại vì mất ngủ); 8 nữ, 6 nam; 31,1 ± 15,6 tuổiHu và cs., 2010
b3-007Trong cùng thực nghiệm, đêm có nút tai và bịt mắt đi kèm melatonin niệu (6-SMT) cao hơn; cortisol niệu không khác.6-SMT 22,3 ± 22,9 so với 15,1 ± 13,6 μg/kg (p = 0,002); cortisol p = 0,14NgườiThực nghiệm phòng lab đo lặp; 100 lux + ồn ICU phát lại · n = 14 người khoẻHu và cs., 2010
b3-033RCT 64 bệnh nhân ICU đo bằng PSG: nút tai + bịt mắt không làm tăng có ý nghĩa tỉ lệ giấc ngủ N3 (kết cục chính), nhưng đi kèm ít lần thức kéo dài hơn.N3 21% [7–28] so với 11% [3–23], p = 0,09; thức kéo dài 21 [19–26] so với 31 [21–47], p = 0,02NgườiRCT đơn trung tâm, song song; PSG đêm đầu sau khi vào nghiên cứu; nút tai + bịt mắt 22h–8h mỗi đêm · n = 64 bệnh nhân ICU (32/nhóm), 3 rút luiDemoule và cs., 2017
b3-034Trong RCT của Demoule, 30% bệnh nhân nhóm can thiệp không đeo nút tai suốt đêm; lý do chính là khó chịu và lo âu. Phân tích theo người tuân thủ (post hoc) cho thấy N3 dài hơn, nhưng đây không còn là so sánh ngẫu nhiên.9/30 (30%) không đeo suốt đêm; N3 74 [32–106] so với 31 [7–76] phút (p = 0,039, theo người tuân thủ)NgườiRCT, PSG; phân tích theo phác đồ (per-protocol) hậu kiểm · n = 64Demoule và cs., 2017
b3-036Ở người khoẻ ngủ với tiếng ồn ICU ghi âm, chỉ số vi thức giấc tăng gấp khoảng 3,6 lần so với đêm nền; khi thêm tiếng ồn trắng, chỉ số trở về gần mức nền. Điều quyết định thức giấc là mức chênh từ nền lên đỉnh, không phải mức đỉnh tuyệt đối.Vi thức giấc/giờ: 13,3 ± 1,8 (nền); 48,4 ± 7,6 (ồn ICU); 15,7 ± 4,5 (ồn ICU + ồn trắng), p < 0,004NgườiThực nghiệm phòng lab, PSG ba điều kiện (nền, ồn ICU ghi âm, ồn ICU + ồn trắng tần số hỗn hợp) · n = 4 người khoẻ (thêm 1 người làm 2 điều kiện); 1.178 vi thức giấcStanchina và cs., 2005 (tóm tắt)
b3-037Trong cùng nghiên cứu, mức chênh từ nền lên đỉnh gây vi thức giấc như nhau ở đêm ồn ICU và đêm ồn ICU + ồn trắng (khoảng 17,5 dB), gợi ý âm nền làm giảm số sự kiện vượt ngưỡng chênh lệch.17,7 ± 0,4 so với 17,5 ± 0,3 dB, p = 0,65NgườiNhư trên · n = 4–5Stanchina và cs., 2005 (tóm tắt)
b3-057Tổng quan hệ thống (tóm tắt hội nghị) về máy tạo âm cho người lớn nằm viện tìm được 7 RCT với 496 người; không gộp được do dị biệt lớn về thời gian dùng âm che; 8 người bỏ vì khó chịu hoặc không chấp nhận.7 RCT, 496 người; 8 người bỏ cuộcTổng quanTổng quan hệ thống theo PRISMA, 8 cơ sở dữ liệu đến 13/8/2024; không phân tích gộp · 7 RCT, n = 496Khandelwal và cs., 2025 (tóm tắt)
b3-058RCT ở ICU 3 bệnh viện công Tây Java (Indonesia): tiếng ồn trắng 2 lần/ngày trong 3 ngày đi kèm cải thiện chất lượng giấc ngủ tự báo cáo (thang Richards-Campbell, RCSQ) ở lần đo thứ ba, hiệu ứng mức trung bình.Cohen's d = 0,42; GEE β = 6,43, p < 0,001NgườiRCT song song; giấc ngủ đo bằng thang tự báo cáo RCSQ, không PSG; mức âm (dB) không có trong tóm tắt · n = 50 (25/nhóm) bệnh nhân ICU người lớnNurhayati và cs., 2025 (tóm tắt)
b3-059Phân tích gộp 35 nghiên cứu: nút tai và bịt mắt đi kèm điểm chất lượng ngủ tự báo cáo (RCSQ) cao hơn khoảng 11,5 điểm, nhưng dị biệt rất cao.RCSQ MD 11,46 (KTC 95% 7,04–15,88), I² = 88,7%; PSQI MD −5,02 (KTC 95% −6,16 đến −3,89), I² = 59%Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp (20 RCT, 6 bán thực nghiệm ngẫu nhiên, 4 trước–sau, 2 chéo, 3 không ngẫu nhiên); 21 nghiên cứu vào phân tích gộp · 35 nghiên cứu, 2.687 người (Kết quả ghi 2.678)Karimi và cs., 2021
b3-060Phần PSG của phân tích gộp 2021 chỉ dựa trên 3 nghiên cứu nhỏ ở người khoẻ trong ICU mô phỏng: tổng thời gian ngủ +25 phút, REM +4,7%, ít vi thức giấc hơn; giấc ngủ sâu N3 không thay đổi.TST +25,4 phút (KTC 95% 8,05–42,9); REM +4,66% (2,70–6,62); vi thức giấc −5,17/giờ (−6,58 đến −3,75); N3 −0,35% (−2,10 đến 1,41), p = 0,70Tổng quanPhân tích gộp 3 nghiên cứu PSG trong ICU mô phỏng · 5 nghiên cứu có PSG (128 người); 3 nghiên cứu ở người khoẻ trong ICU mô phỏng được đưa vào phân tích gộp PSGKarimi và cs., 2021
b3-071Tổng quan Cochrane 2024 về quản lý tiếng ồn ở đơn vị hồi sức sơ sinh (NICU) chỉ tìm được 1 RCT (34 trẻ) dùng nút tai silicon; chỉ số phát triển trí tuệ Bayley II lúc 18–22 tháng cao hơn ở nhóm nút tai nhưng độ chắc chắn rất thấp.MDI Bayley II MD 14,00 (KTC 95% 3,13–24,87); bại não RR 3,00 (KTC 95% 0,15–61,74)Tổng quanTổng quan hệ thống Cochrane; GRADE rất thấp cho mọi kết cục · 1 RCT, 34 trẻ sinh non/cân nặng rất thấpSibrecht và cs., 2024 (tóm tắt)
b3-072Tác giả Cochrane kết luận bằng chứng về giảm ồn ở NICU rất không chắc chắn và không thể rút ra kết luận; cần thử nghiệm lớn hơn có kết cục ngắn và dài hạn.GRADE rất thấpTổng quanNhư trên · 1 RCT, 34 trẻSibrecht và cs., 2024 (tóm tắt)

Nút tai, âm nền và kích thích âm khi ngủ#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b3-008Ở 60 nông dân Mỹ đo độ giảm âm cá nhân (personal attenuation rating, PAR), dưới 6% đạt mức gần NRR ghi trên bao bì của nút tai bọt nở; nút đẩy vào và nút ba tầng chỉ đạt PAR 12–13 dB.PAR 12 dB (push-in) và 13 dB (ba tầng); < 6% đạt gần NRR với nút bọt nởNgườiĐo PAR thực địa (fit-testing) trên 255 cặp nút tai, 4 mẫu phổ biến · n = 60 lao động nông nghiệpAnthony và cs., 2017 (tóm tắt)
b3-009Sổ tay kỹ thuật OSHA ghi mức bảo vệ thực tế của dụng cụ bảo vệ tai thường thấp hơn nhãn vì phần lớn người dùng không được thử độ khít, và cách đeo trong phòng lab không đại diện cho cách đeo thực tế.Định tínhHướng dẫn, tiêu chuẩnTài liệu hướng dẫn kỹ thuật của cơ quan an toàn lao động Mỹ · Không áp dụngOccupational Safety and Health Administration, 2022
b3-010Tổng quan hệ thống 38 nghiên cứu về tiếng ồn trắng hoặc âm băng rộng liên tục khi ngủ: kết quả trải từ cải thiện đến làm xấu giấc ngủ; chất lượng bằng chứng cho giả thuyết âm liên tục giúp giấc ngủ tốt lên là rất thấp (GRADE).38 nghiên cứu; GRADE rất thấpTổng quanTổng quan hệ thống đăng ký PROSPERO CRD42020148736; 3 cơ sở dữ liệu; loại nghiên cứu động vật và ồn ngắt quãng; kết cục: thời gian vào giấc, phân mảnh, chất lượng, thời lượng ngủ/thức · 38 nghiên cứuRiedy và cs., 2021 (tóm tắt)
b3-011Trong thử nghiệm chéo ngẫu nhiên 7 đêm có PSG, tiếng ồn môi trường ngắt quãng (93 sự kiện, LAmax 45–65 dBA) làm giảm giấc ngủ sâu N3 khoảng 23 phút so với đêm yên tĩnh.N3: 101,0 phút (đêm chứng) → 77,6 phút (ồn môi trường); chênh −23,4 phút; p < 0,0001NgườiRCT chéo, phòng lab 7 đêm (6 điều kiện, hình vuông Latin); PSG (F3-A2, F4-A2, EOG, EMG; Cerebra Prodigy 2), chấm tự động có giám sát (Somnolyzer); 93 sự kiện ồn mỗi đêm (giao thông + báo động) ở LAS,max 45, 55 và 65 dB; ồn phát qua loa, hiệu chuẩn bằng máy đo lớp 1 tại vị trí đầu người ngủ; ồn nền ~24 dB (LAeq đêm chứng 23,7 dB) · n = 25 người khoẻ, 28,5 ± 5,9 tuổi, 7 namBasner và cs., 2026
b3-012Trong cùng thử nghiệm, thêm tiếng ồn hồng liên tục (pink noise) vào tiếng ồn môi trường làm giảm REM theo liều so với đêm yên tĩnh, và tăng thời gian thức trên giường.REM −21,5 phút (ồn + hồng 40 dBA) và −29,0 phút (ồn + hồng 50 dBA) so với 118,1 phút đêm chứng; thức 46,0–48,0 phút so với 32,6 phút đêm chứngNgườiRCT chéo phòng lab 7 đêm, PSG · n = 25 người khoẻ 21–41 tuổiBasner và cs., 2026
b3-013Trái với tiếng ồn hồng, nút tai bọt nở giúp giữ thời gian N3 + REM: đêm ồn có nút tai không khác đêm yên tĩnh về kết cục chính, và dài hơn đêm ồn không nút tai khoảng 21 phút.+21,0 phút N3+REM (ồn + nút tai so với chỉ ồn); độ giảm âm đo được 25,5 dB (SD 9,2; 10,8–41,6 dB)NgườiRCT chéo phòng lab, PSG; độ giảm âm đo riêng từng người bằng hệ thống WAHTS · n = 25 người khoẻBasner và cs., 2026
b3-014Xã luận đi kèm nghiên cứu Basner 2026 tóm lại: thêm tiếng ồn hồng vào ồn môi trường chỉ cải thiện nhẹ phân mảnh và N3, nhưng cấu trúc giấc ngủ tổng thể còn xấu hơn khi chỉ có ồn môi trường; hiệu quả nút tai có vẻ giảm ở 65 dB.Định tính; mức sự kiện 45–65 dB, tiếng ồn hồng 40 hoặc 50 dBATổng quanXã luận bình luận RCT chéo PSG · n = 25 (nghiên cứu gốc)Garcia Molina, 2026
b3-015Đo 14 máy tạo âm cho trẻ sơ sinh (infant sleep machine) ở âm lượng tối đa: tại 30 cm, cả 14 máy đều vượt 50 dB(A) — giới hạn khuyến nghị cho phòng trẻ sơ sinh trong bệnh viện; 3 máy vượt 85 dB(A).14/14 máy > 50 dB(A) ở 30 cm; 3/14 > 85 dB(A)Đo đạc, thử thiết bị, mô hìnhĐo đạc thiết bị trong phòng thí nghiệm âm, âm lượng tối đa, khoảng cách 30, 100, 200 cm; hiệu chỉnh theo ống tai trẻ 6 tháng tuổi · 14 thiết bị (không có người tham gia)Hugh và cs., 2014 (tóm tắt)
b3-016Theo bài tường thuật nghiên cứu Hugh 2014, gần như mọi máy vẫn phát trên 50 dB khi đặt cách 200 cm; các mức vượt 85 dB đo ở 30 cm (mô phỏng đặt trên thành cũi).13/14 máy ≥ 50 dB ở 200 cmĐo đạc, thử thiết bị, mô hìnhĐo đạc thiết bị (như trên); thông tin qua bài báo khoa học phổ thông · 14 thiết bịHugh và cs., 2014 (tóm tắt)
b3-017Nghiên cứu khởi đầu của Ngo và cộng sự (2013): phát các xung âm theo vòng kín (closed-loop) trùng pha lên (up-state) của dao động chậm khi ngủ làm tăng dao động chậm, hoạt động thoi ngủ đi kèm và củng cố trí nhớ khai báo; kích thích lệch pha không có tác dụng.Định tính trong tóm tắtNgườiThực nghiệm phòng lab, PSG/EEG, so sánh kích thích đúng pha với giả (sham) và lệch pha; trí nhớ cặp từ · Người trẻ khoẻ (cỡ mẫu không có trong tóm tắt đã đọc)Ngo và cs., 2013 (tóm tắt)
b3-018Phân tích gộp 10 nghiên cứu (11 thí nghiệm) cho thấy kích thích âm trong giấc ngủ sóng chậm chỉ tăng nhẹ củng cố trí nhớ qua đêm, không đạt ý nghĩa thống kê ở mức gộp chung; tác giả kết luận bằng chứng chưa đủ để khuyến nghị thiết bị thương mại.Hedges' g = 0,25 (p = 0,07); người trẻ g = 0,31 (p = 0,051); kích thích khoá pha g = 0,36 (p = 0,047); kết hợp g = 0,44 (p = 0,01)Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp; kết cục trí nhớ hồi tưởng (episodic) qua đêm · 10 nghiên cứu, 11 thí nghiệm, 177 ngườiWunderlin và cs., 2021 (tóm tắt)
b3-019Một phân tích gộp về độ lặp lại cho thấy hiệu ứng lên trí nhớ của kích thích âm trong giấc ngủ sóng chậm giảm đều theo năm công bố: dự báo d ≈ 0,99 cho nghiên cứu năm 2013 nhưng âm (−0,39) cho năm 2021; xu hướng thời gian giải thích 91,8% dị biệt giữa các nghiên cứu.d(2013) = 0,99 (KTC 95% 0,49–1,49); d(2021) = −0,39 (KTC 95% −0,73 đến −0,05); 91,8% dị biệtTổng quanPhân tích gộp hồi quy theo năm công bố; đánh giá chất lượng đo · 12 nghiên cứu, 14 cỡ hiệu ứng, 206 ngườiHarlow và cs., 2023 (tóm tắt)
b3-020Cùng phân tích ước tính khoảng 34% người tham gia không thật sự mù về điều kiện kích thích âm, và điểm chênh trí nhớ trước–sau gần như không có độ tin cậy lặp lại.34% không mù; độ tin cậy test–retest gần 0Tổng quanPhân tích gộp như trên · 12 nghiên cứu, 206 ngườiHarlow và cs., 2023 (tóm tắt)
b3-021Ở 13 người cao tuổi khoẻ, một đêm kích thích xung tiếng ồn hồng khoá pha làm tăng hoạt động sóng chậm (SWA) 8% trong các khoảng đang kích thích, nhưng SWA trung bình cả giai đoạn NREM không khác đêm giả; số từ nhớ được tăng nhiều hơn sau đêm kích thích.SWA +8% (khoảng ON); nhớ thêm 9,2 (2,1) từ sau kích thích so với 3,1 (1,8) từ sau giả; cải thiện 26,8% so với 5,7%NgườiThử nghiệm chéo ngẫu nhiên, 1 đêm kích thích và 1 đêm giả (sham); EEG/PSG phòng lab; tai nghe ngủ Acoustic Sheep; nhiệm vụ cặp từ · n = 13 người cao tuổi nhận thức bình thường, trung bình 75,2 tuổi (60–84)Papalambros và cs., 2017
b3-022Sách trắng của Philips về sản phẩm SmartSleep báo cáo SWA tăng trung bình 6,8% khi kích thích; chỉ 14/27 người là "người đáp ứng" (tăng trung bình 18%).SWA +6,8% trung bình; 14/27 người đáp ứng, +18% ở nhóm nàyTài liệu ngànhTài liệu kỹ thuật của hãng (không bình duyệt); người hạn chế ngủ nhẹ mạn tính (6–7,5 giờ/đêm) · 34 người tuyển, 27 hoàn thành; 30–50 tuổiMahadevan và Garcia-Molina, 2017
b3-023Thử nghiệm tại nhà với băng đô EEG khô Dreem: kích thích âm làm tăng công suất delta 43,9% trong 4 giây sau xung đầu so với giả, và phản ứng giữ nguyên sau 10 đêm liên tiếp; tác giả không đánh giá hiệu quả lên buồn ngủ hay nhận thức.Công suất delta +43,9% (4 giây sau kích thích); pha trung bình 45 ± 52° với đích 45°NgườiPhần 1: RCT chéo mù đôi, 4 đêm tại nhà (bỏ đêm đầu), có PSG thu nhỏ; Phần 2: quan sát thí điểm trên người tự mua thiết bị · Phần 1: 24 tuyển, 20 phân tích (23,1 tuổi); Phần 2: 90 người (40,8 ± 10,9 tuổi)Debellemaniere và cs., 2018
b3-024Hai thí nghiệm (một giấc ngủ trưa, một qua đêm có mù đôi lặp lại nghiên cứu trước) cho thấy kích thích âm vòng kín làm tăng rõ dao động chậm và thoi ngủ nhưng không cải thiện trí nhớ.Cặp từ: t(18) = 0,51, p = 0,62; định hướng không gian: t(11) = −0,19, p = 0,85NgườiThí nghiệm 1: chéo ngẫu nhiên trong cùng người, 2 giấc ngủ trưa; Thí nghiệm 2: qua đêm mù đôi, 3 đêm (thích nghi, kích thích, giả); EEG · n = 12 (ngủ trưa) và n = 19 (qua đêm)Henin và cs., 2019
b3-035Thử nghiệm ngẫu nhiên nhỏ năm 1990 ở trẻ sơ sinh 2–7 ngày tuổi: 80% trẻ nghe tiếng ồn trắng ngủ trong vòng 5 phút so với 25% trẻ nhóm chứng.16/20 (80%) so với 5/20 (25%)NgườiRCT song song; kết cục ngủ trong 5 phút (quan sát, không PSG); mức âm không có trong tóm tắt đã đọc · n = 40 trẻ sơ sinh (2 nhóm 20)Spencer và cs., 1990 (tóm tắt)
b3-038Thử nghiệm chéo ngẫu nhiên mù đơn có PSG ở người khoẻ, trong mô hình mất ngủ thoáng qua (đi ngủ sớm 90 phút): âm băng rộng 46 dB (so với nền 40 dB) đi kèm thời gian vào N2 ngắn hơn khoảng 38%.Thời gian đến N2: 19 phút (IQR 16) → 13 phút (IQR 23), p = 0,011; giảm trung vị 38%NgườiRCT chéo mù đơn, PSG có giám sát, chấm mù theo AASM; 2 loa phát âm lọc liên tục 46 ± 0,9 dB so với nền 40,1 ± 1,3 dB · n = 18 người khoẻ (20 tuyển, 2 bỏ)Messineo và cs., 2017
b3-039Tác giả nghiên cứu Messineo tự ghi rằng mô hình "đi ngủ sớm 90 phút" để gây mất ngủ thoáng qua chưa được thẩm định; 2/20 người bỏ cuộc vì không chịu được thiết bị đo.2/20 bỏ cuộcNgườiNhư trên · n = 20 tuyểnMessineo và cs., 2017
b3-040Hướng dẫn lâm sàng AAO-HNSF 2017 về nút ráy tai ghi rằng quá trình tự làm sạch ráy tai có thể bị cản trở bởi vật trong ống tai như máy trợ thính hay nút tai.Định tínhHướng dẫn, tiêu chuẩnHướng dẫn thực hành lâm sàng (cập nhật) của Hội Tai Mũi Họng Hoa Kỳ · Không áp dụngSchwartz và cs., 2017
b3-041Theo cùng hướng dẫn, nút ráy tai có ở khoảng 10% trẻ em, 5% người lớn khoẻ, và 19–65% người trên 65 tuổi.~10% trẻ em; ~5% người lớn; 19–65% người > 65 tuổiHướng dẫn, tiêu chuẩnHướng dẫn lâm sàng tổng hợp ước tính · Không áp dụngSchwartz và cs., 2017
b3-050Nghiên cứu một nhóm tự đối chứng ở bác sĩ nội trú cấp cứu: những ngày có dùng tai nghe che ồn (SleepBuds) đi kèm chất lượng giấc ngủ tự đánh giá cao hơn 0,5 điểm (thang 0–7) và buồn ngủ thấp hơn 0,6 điểm; dữ liệu PVT chỉ có ở 3 người nên không đánh giá được độ tỉnh táo khách quan.Chất lượng ngủ +0,5 (KTC 95% 0,23–0,80); buồn ngủ −0,6 (KTC 95% −0,90 đến −0,34); dùng trung vị 5/14 ngàyNgườiThiết kế một nhóm tự đối chứng (single-subject), 14 ngày nền + 14 ngày can thiệp; giấc ngủ tự báo cáo qua SMS (thang Likert 8 điểm), không PSG/actigraphy; PVT 3 phút · n = 26 phân tích (36 tuyển theo tóm tắt, 38 theo phần kết quả); bác sĩ nội trú cấp cứu 25–35 tuổi, 19 namDuggan và cs., 2022
b3-051Sau 6 tháng, chỉ 12/26 người trả lời; 5 người còn dùng tai nghe che ồn và đều dùng dưới 25% số giấc ngủ.5/12 người trả lời còn dùng, đều < 25% giấc ngủNgườiKhảo sát theo dõi 6 tháng · 12/26 trả lời (46%)Duggan và cs., 2022
b3-052Thử nghiệm chéo mù đôi 2 đêm liên tiếp ở người tự hạn chế giấc ngủ ngày làm việc: đêm 1 năng lượng sóng chậm tăng trung bình 17,7% (68% người có tăng), đêm 2 tăng 22,2% nhưng không có ý nghĩa; chỉ khoảng một nửa số người được phân loại ổn định.Đêm 1: +17,7% (p = 0,01); đêm 2: +22,2% SWA (p = 0,08); 11/25 người đáp ứng ổn định, 3/25 không đáp ứng ổn địnhNgườiRCT chéo mù đôi; thiết bị kích thích âm tự động 2 đêm so với giả (âm không nghe được); EEG; KSS, Samn-Perelli, MSLT, PVT · n = 25 người khoẻ (32,9 ± 8,2 tuổi; 16 nữ)Diep và cs., 2021 (tóm tắt)
b3-053Cùng thử nghiệm: người tham gia tự cảm thấy tỉnh táo hơn sau mỗi đêm kích thích, và chú ý đo khách quan tốt hơn trong ngày sau 2 đêm kích thích.p < 0,05 (tỉnh táo chủ quan)NgườiRCT chéo mù đôi như trên · n = 25Diep và cs., 2021 (tóm tắt)
b3-054Phân tích gộp 16 nghiên cứu: kích thích âm khi ngủ đi kèm hiệu ứng trung bình lên trí nhớ ở người trẻ (chủ yếu trí nhớ khai báo), không có hiệu ứng với trí nhớ không khai báo; cấu trúc giấc ngủ trên PSG không khác giữa kích thích và giả ở cả người trẻ lẫn người cao tuổi.Người trẻ: g = 0,68 (p = 0,031); khai báo g = 0,87 (p = 0,014); không khai báo g = −0,25 (p = 0,357)Tổng quanTổng quan hệ thống và phân tích gộp; cấu trúc giấc ngủ đo bằng PSG · 16 nghiên cứu (tổng số người không có trong tóm tắt)Stanyer và cs., 2022 (tóm tắt)
b3-055Phân tích gộp 2022 kết luận kích thích âm khi ngủ có vẻ chỉ hiệu quả với củng cố trí nhớ khai báo ở người trẻ; tác giả nhấn mạnh số nghiên cứu ít, cỡ mẫu nhỏ và cần thử nghiệm lớn, dài hạn.Định tínhTổng quanPhân tích gộp như trên · 16 nghiên cứuStanyer và cs., 2022 (tóm tắt)
b3-068Nghiên cứu 3 nhóm ngủ tại nhà đo bằng băng đô EEG khô: nhóm bật tiếng ồn hồng liên tục 55 dB cả đêm có nhiều phút N2 hơn nhóm ngủ yên lặng; thời lượng và tỉ lệ giấc ngủ sóng chậm không khác.N2 nhiều hơn: t(44) = −2,66, p < 0,01 (một phía); SWS không khác; tiếng ồn hồng 55 dBNgườiThử nghiệm 3 nhóm song song (thức, ngủ yên lặng, ngủ với tiếng ồn hồng) tại nhà; EEG khô 4 kênh Dreem 3, chấm giai đoạn tự động · n = 72 phân tích (87 tuyển): thức 25, yên lặng 22, tiếng ồn hồng 25Vickrey và Lerner, 2023
b3-069Cùng nghiên cứu: tiếng ồn hồng không làm tăng "bừng hiểu" (insight) sau ngủ so với ngủ yên lặng; tỉ lệ đạt insight theo thành tích là 36% (yên lặng), 16% (thức) và 12% (tiếng ồn hồng), không so sánh nào có ý nghĩa.8/22 (36,4%) yên lặng; 4/25 (16%) thức; 3/25 (12%) tiếng ồn hồng; mọi p > 0,19NgườiNhư trên; nhiệm vụ Number Reduction Task cách 12 giờ · n = 72Vickrey và Lerner, 2023
b3-070Trong cùng RCT chéo PSG, đêm chỉ có tiếng ồn hồng 50 dBA (không có ồn môi trường) đi kèm REM ít hơn đêm yên tĩnh trung bình 18,6 phút.REM 99,5 phút (PN50) so với 118,1 phút (đêm chứng); chênh −18,6 phút (SE 4,7), p < 0,001NgườiRCT chéo phòng lab 7 đêm, PSG; điều kiện PN50 (tiếng ồn hồng liên tục 50 dBA, không có sự kiện ồn) · n = 25 người khoẻ, 28,5 tuổiBasner và cs., 2026
b3-073RCT ở thai phụ con so 34–36 tuần tại Malaysia, so với băng đô giả (sham): thời gian ngủ đêm đo bằng actigraphy tăng ở cả hai nhóm, khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa.+24,7 ± 14,9 phút (nút tai + bịt mắt) so với +18,1 ± 17,3 phút (băng đô giả), p = 0,13NgườiRCT song song có nhóm chứng giả dược (băng đô đàn hồi), phân tích theo nhóm phân bổ ban đầu (intention-to-treat); ngủ đêm đo bằng actigraphy cổ tay · n = 56 thai phụ ngủ < 6 giờ/đêm (29 can thiệp, 27 giả)Teo và cs., 2022
b3-074Cùng RCT: tự báo cáo ngủ tốt hơn và hài lòng cao hơn rõ ở nhóm nút tai + bịt mắt, dù số đo actigraphy không khác có ý nghĩa giữa hai nhóm.Tự báo cáo ngủ tốt hơn 66% so với 26%, RR 2,2 (KTC 95% 1,1–4,6); hài lòng trung vị 7 so với 6, p = 0,003NgườiRCT, như trên; kết cục phụ tự báo cáo · n = 56Teo và cs., 2022
b3-075Nghiên cứu thiết kế ABA trong cùng người (mỗi pha 1 tuần) ở 10 người lớn sống nơi ồn tại New York: thời gian thức sau khi ngủ (WASO) đo bằng actigraphy và thời gian vào giấc theo nhật ký giảm khi dùng máy tạo tiếng ồn trắng; hiệu quả giấc ngủ chỉ có xu hướng.WASO t(9) = 3,438, p = 0,007; thời gian vào giấc (nhật ký) t(9) = 2,947, p = 0,016; hiệu quả ngủ p = 0,063NgườiThiết kế ABA trong cùng người, không nhóm chứng, không mù; actigraphy Motionlogger + Consensus Sleep Diary; máy Dohm Classic (Marpac) · n = 10 người lớn từ một phòng khám giấc ngủ ở New YorkEbben và cs., 2021 (tóm tắt)
b3-076Một tổng quan hệ thống đăng trên Tạp chí Giáo dục (Việt Nam) năm 2026 tổng hợp 20 nghiên cứu và kết luận tiếng ồn trắng cải thiện chất lượng giấc ngủ "một cách nhất quán", nhưng không báo cỡ hiệu ứng; bằng chứng về lo âu và stress còn hạn chế.20 nghiên cứu; không có cỡ hiệu ứng trong tóm tắtTổng quanTổng quan theo PRISMA 2020; PubMed, Scopus, Google Scholar; không phân tích gộp, không thấy đánh giá GRADE trong tóm tắt · 20 nghiên cứu (không có nghiên cứu nào ở Việt Nam theo danh mục tham khảo)Bùi Hoài Nam và Hà Thị Minh Chính, 2026 (tóm tắt)
b3-077Ở 17 người trung niên (~56 tuổi), kích thích âm vòng kín vẫn kéo dài chuỗi dao động chậm và tạo thoi ngủ, nhưng đáp ứng giảm rõ so với nhóm trẻ (~24 tuổi) trước đó.n = 17 (55,7 ± 1,0 tuổi) so với n = 11 (24,2 ± 0,9 tuổi); đáp ứng "giảm rõ" (định tính trong tóm tắt)NgườiThiết kế trong cùng người (kích thích so với giả), PSG/EEG phòng lab; so sánh với nhóm trẻ của nghiên cứu trước · n = 17 người trung niênSchneider và cs., 2020 (tóm tắt)
b3-078Cùng nghiên cứu: ở nhóm trung niên (49–63 tuổi), kích thích âm không mang lại lợi ích cho giữ trí nhớ qua đêm hay mã hoá sau ngủ, và còn đi kèm giữ cặp từ khai báo kém hơn; tác giả kết luận độ nhạy với kích thích âm khi ngủ thay đổi theo tuổi.Không có lợi ích trí nhớ; giữ cặp từ kém hơn sau kích thích (định tính trong phần đã đọc)NgườiNhư trên · n = 17 người trung niên (9 nữ; 55,7 ± 1,0 tuổi, 49–63); so với 11 người trẻ của bộ dữ liệu đã công bốSchneider và cs., 2020 (tóm tắt)
b3-079Bài của Bệnh viện Nhi Quốc gia Children's National (Mỹ, 2024) dẫn một báo cáo năm 2023 của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) rằng nên giữ âm lượng máy tạo âm cho trẻ dưới 50 dB; bài viết tự khuyên thêm đặt máy cách cũi ít nhất khoảng 60 cm (2 feet) và hẹn giờ tắt (hai ý này không được gán cho AAP).< 50 dB; ≥ 2 feet (~60 cm)Báo chí, thông cáoThuật lại hướng dẫn qua nguồn thứ cấp của bệnh viện nhi · Không áp dụngRobbins, 2024 (tóm tắt)
b3-081Trong nghiên cứu Papalambros 2017, mức tăng SWA trong khoảng kích thích tương quan dương với mức cải thiện trí nhớ.r = 0,64, p = 0,018NgườiThử nghiệm chéo ngẫu nhiên 1 đêm kích thích/1 đêm giả; tương quan · n = 13 người cao tuổiPapalambros và cs., 2017

Cách âm cửa sổ, quy hoạch và đo tiếng ồn#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b3-025Ứng dụng đo mức âm (sound level meter app) NIOSH SLM và SPL Meter trên iPhone 6S, dù đã hiệu chuẩn hay chưa, đều đo cao hơn thực tế khi mức âm dưới 40 dB(A) — đúng dải mức ồn phòng ngủ ban đêm; ở ≥ 40 dB(A), bản đã hiệu chuẩn chính xác hơn rõ.Ước lượng thừa ở < 40 dB(A); dải thử 20–100 dB SPLĐo đạc, thử thiết bị, mô hìnhThử nghiệm thiết bị: tiếng ồn trắng 20–100 dB SPL trong buồng cách âm và 4 phòng khám không xử lý âm; so với máy đo lớp 1 (Type 1); micro trong và micro ngoài, có và không hiệu chuẩn · 2 ứng dụng iOS trên 1 điện thoại iPhone 6SSerpanos và cs., 2021 (tóm tắt)
b3-026Cùng nghiên cứu: ứng dụng trên điện thoại có hiệu chuẩn chính xác đáng kể hơn ở mức ≥ 40 dB(A), đủ dùng để kiểm phòng cho sàng lọc thính lực; tác giả khuyên hiệu chuẩn micro trước khi dùng.Chính xác hơn ở ≥ 40 dB(A) khi có hiệu chuẩnĐo đạc, thử thiết bị, mô hìnhNhư trên · 2 ứng dụng, 1 điện thoạiSerpanos và cs., 2021 (tóm tắt)
b3-027Nghiên cứu trước của cùng nhóm: ứng dụng đo âm trên điện thoại đo chính xác tín hiệu thử ở mức trên 40–50 dB khi đã hiệu chuẩn, nhưng dù có hiệu chuẩn hay không đều ước lượng thừa tiếng ồn nền phòng dưới 50 dB.Ước lượng thừa khi < 50 dB; chính xác ở 50–100 dB (một số ứng dụng)Đo đạc, thử thiết bị, mô hìnhThử thiết bị: ồn dải hẹp 1.000 Hz và ồn trắng 20–100 dB; đo nền ở 8 phòng; so với máy đo lớp 1 (Type 1), đạt nếu trong ±2 dB · 3 ứng dụng iOS (Analyzer, Sound Level Meter Pro, SPL Meter) trên 1 iPhone 6S; đo nền ở 8 phòng âm ngữ–thính học; mỗi điều kiện lặp 5 lầnSerpanos và cs., 2018 (tóm tắt)
b3-028Nghiên cứu tiếp nối của NIOSH (2016): 4 ứng dụng iOS dùng micro ngoài đã hiệu chuẩn đo trong khoảng ±1 dB so với hệ đo chuẩn ở dải 65–95 dB (lệch trung bình −0,02 ± 0,53 dB); để so sánh, bài thuật lại rằng trong khảo sát 2014 dùng micro trong của điện thoại, độ lệch trung bình là 1,6 ± 3,8 dB (phạm vi −14 đến 11,3 dB).Micro ngoài (2016): −0,023 ± 0,530 dB (−1,4 đến 1,8 dB); micro trong (khảo sát 2014, thuật lại): 1,646 ± 3,795 dB (−14 đến 11,3 dB); dải thử 65–95 dBĐo đạc, thử thiết bị, mô hìnhThử nghiệm thiết bị trong phòng lab: tiếng ồn hồng 65–95 dB, bước 5 dB, mức không trọng số; chuẩn so sánh micro Larson-Davis 2559 và máy lớp 1 LD 831 · 4 ứng dụng iOS (SoundMeter, SPLnFFT, SPL Pro, NoiSee)Kardous và Shaw, 2016
b3-029Trong khảo sát gốc năm 2014 của NIOSH trên 192 ứng dụng iOS và Android, không ứng dụng Android nào đạt tiêu chí thử ban đầu; 4 ứng dụng iOS nằm trong ±2 dB.0 ứng dụng Android đạt; 4 ứng dụng iOS trong ±2 dB; 192 ứng dụng khảo sátĐo đạc, thử thiết bị, mô hìnhThử thiết bị trong phòng lab (thuật lại trong bài 2016) · 192 ứng dụngKardous và Shaw, 2016
b3-030Đo đồng thời trong và ngoài nhà ở 102 toà nhà Thuỵ Sĩ tiếp xúc ồn giao thông đường bộ: mức âm trong phòng thấp hơn ngoài mặt tiền khoảng 10 dB(A) khi mở cửa sổ, 16 dB(A) khi hé (lật nghiêng) và 28 dB(A) khi đóng.Trung vị chênh lệch 10,0 ± 2,9; 15,8 ± 2,7; 27,8 ± 4,4 dB(A) (mở/hé/đóng)NgườiĐo thực địa đồng thời ngoài nhà và trong phòng, mỗi kịch bản cửa 3 phút; ồn đường bộ · 157 phòng ở 102 toà nhà; đo hợp lệ 115 (mở), 116 (hé), 76 (đóng)Locher và cs., 2018
b3-032Theo ISO 717-1, Rw là chỉ số cách âm có trọng số; C và Ctr là số hạng hiệu chỉnh phổ cho tiếng ồn hồng và tiếng ồn giao thông; Rw + Ctr thường thấp hơn Rw vài dB — ví dụ một bộ kính hộp 4–20–6 có Rw 35 dB nhưng Ctr −5 dB.Ví dụ Rw 35 (C −1; Ctr −5) dB → Rw + Ctr = 30 dBHướng dẫn, tiêu chuẩnTài liệu kỹ thuật của nhà sản xuất kính, dựa trên ISO 717-1:2013 · Không áp dụngSaint-Gobain Building Glass, 2018
b3-042Theo IEC 61672-1:2002 (bản cũ, như một hãng bán máy đo thuật lại), giới hạn dung sai ở 1 kHz là ±1,1 dB với máy lớp 1 và ±1,4 dB với lớp 2; ở 20 Hz là ±2,5 dB và ±3,5 dB. Chưa kiểm được giới hạn tương ứng trong bản IEC 61672-1:2013 hiện hành.1 kHz: ±1,1 dB (lớp 1), ±1,4 dB (lớp 2); 20 Hz: ±2,5 / ±3,5 dB; 16 Hz: +2,5/−4,5 dB (lớp 1), +5,5/−∞ dB (lớp 2)Tài liệu ngànhThuật lại tiêu chuẩn IEC 61672-1:2002 trên trang của nhà sản xuất · Không áp dụngTolliday (tóm tắt)
b3-043QCVN 26:2025/BNNMT quy định đo theo TCVN 7878-1:2018 (ISO 1996-1:2016) và TCVN 7878-2:2018 (ISO 1996-2:2017); đo kiểm tuân thủ phải dùng máy đo lớp 1 theo TCVN 12527-1:2018.Máy đo lớp 1; tiêu chuẩn TCVN 7878-1/-2:2018Hướng dẫn, tiêu chuẩnQuy chuẩn kỹ thuật quốc gia, mục 3.2 và 3.5 · Không áp dụngBộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025
b3-044QCVN 26:2025 yêu cầu vị trí đo trong nhà cách tối thiểu 1 m tới các bề mặt có thể phản xạ, micro cao 1,2–1,5 m; đo liên tục ít nhất 15 phút; không đo khi mưa hay gió từ cấp 4 (≥ 5,5 m/s); ban đêm tính từ 22h00 đến trước 06h00.≥ 1 m từ bề mặt phản xạ (trong nhà), 3,5 m (ngoài trời); cao 1,2–1,5 m; ≥ 15 phút; đêm 22h–06hHướng dẫn, tiêu chuẩnQuy chuẩn kỹ thuật quốc gia, mục 3.1, 3.3, 3.4, Bảng 1 · Không áp dụngBộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025
b3-045Trong phần văn bản QCVN 26:2025 đã đọc, không có giới hạn tiếng ồn trong phòng ngủ/trong nhà ban đêm và không có giới hạn LAmax; Bảng 3 chỉ đặt giới hạn tiếng ồn phát từ trong công trình ra ngoài, ví dụ 45 dBA ban đêm cho khu A, B, C.45 dBA ban đêm (tiếng ồn từ trong công trình ra ngoài, khu A/B/C)Hướng dẫn, tiêu chuẩnQuy chuẩn kỹ thuật quốc gia, Bảng 3 · Không áp dụngBộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025
b3-046Tổng quan hệ thống làm nền cho Hướng dẫn tiếng ồn môi trường WHO 2018 tìm được 43 nghiên cứu can thiệp tiếng ồn giao thông (33 đường bộ, 7 hàng không, 3 đường sắt); khác biệt giữa các nghiên cứu quá lớn nên không gộp được.43 nghiên cứu: 33 đường bộ, 7 hàng không, 3 đường sắt; không phân tích gộpTổng quanTổng quan hệ thống; 5 nhóm can thiệp (tại nguồn, đường truyền như cách âm nhà/tường chắn, hạ tầng mới/đóng cửa, can thiệp vật lý khác như phía yên tĩnh, giáo dục); GRADE · 43 nghiên cứuBrown và Van Kamp, 2017
b3-047Trong tổng quan WHO, chỉ 2 nghiên cứu can thiệp đường truyền (như cách âm nhà) có kết cục giấc ngủ; cả hai ghi tỉ lệ người tự báo cáo ngủ bị xáo trộn thấp hơn sau can thiệp (một có kiểm định thống kê, một không), và thay đổi giữ nguyên sau 2 năm ở một nghiên cứu. Không có số liệu giấc ngủ đo khách quan.2 nghiên cứu; không có số liệu định lượng trong phần đã đọcTổng quanTổng quan hệ thống; giấc ngủ tự báo cáo · 2 nghiên cứuBrown và Van Kamp, 2017
b3-048Khảo sát cắt ngang ở Ghent (Bỉ), nhà có mặt tiền ồn Lden 65–75 dBA: phòng ngủ quay về phía yên tĩnh đi kèm xác suất dự đoán khó vào giấc giảm từ 23% xuống 5%, nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (KTC rất rộng).OR 5,5 (KTC 95% 0,7–44,1), p = 0,07 (χ²) / 0,11 (mô hình); ~20% người có phòng ngủ phía yên tĩnhNgườiCắt ngang, phỏng vấn trực tiếp; phơi nhiễm ước tính từ bản đồ tiếng ồn giao thông của vùng Flanders (mô hình, không đo); phía yên tĩnh định nghĩa bằng chênh lệch trước–sau ≥ 20 dBA; giấc ngủ tự báo cáo · 100 người trả lời (tỉ lệ đồng ý 70%); khoảng 4% bị loại do ở < 1 nămVan Renterghem và Botteldooren, 2012
b3-049Cùng khảo sát: tỉ lệ tự báo cáo thức giấc ít nhất thỉnh thoảng là 38% ở người ngủ phía ồn so với 25% phía yên tĩnh (không có ý nghĩa); riêng khó chịu vì ồn thì giảm rõ (xác suất 45% → 10%).Thức giấc OR 1,8 (KTC 95% 0,6–5,5), p = 0,29; khó chịu OR hiệu chỉnh 10,6 (KTC 95% 2,0–56,0)NgườiCắt ngang, như trên; khó chịu và giấc ngủ là hai kết cục tự báo cáo riêng · ~100 ngườiVan Renterghem và Botteldooren, 2012
b3-061Hướng dẫn thiết kế nhà ở Âm học, Thông gió và Quá nhiệt (AVO) của ANC/IOA (Anh) giả định cửa sổ mở một phần tạo chênh lệch ngoài–trong 13 dB ở bước đánh giá sơ bộ, và cảnh báo không áp dụng máy móc cho mọi trường hợp.13 dB (cửa sổ mở một phần, lỗ mở ~2% diện tích sàn)Hướng dẫn, tiêu chuẩnHướng dẫn thiết kế của hiệp hội nghề nghiệp, mục 3.24–3.25 · Không áp dụngAssociation of Noise Consultants, Institute of, 2020
b3-062Hướng dẫn AVO đặt mục tiêu mức nền trong phòng ngủ ban đêm LAeq,8h 30 dB và sự kiện đơn lẻ thường không vượt LAF,max 45 dB quá 10 lần mỗi đêm.LAeq,8h 30 dB; LAF,max 45 dB không quá 10 lần/đêmHướng dẫn, tiêu chuẩnHướng dẫn thiết kế, Bảng 3-3 · Không áp dụngAssociation of Noise Consultants, Institute of, 2020
b3-063Hướng dẫn AVO thừa nhận người ở phải chọn giữa tiện nghi âm học và chất lượng không khí/tiện nghi nhiệt, không có cả hai cùng lúc khi phải mở cửa sổ; và nêu chưa có nghiên cứu riêng về phơi nhiễm đồng thời nóng và ồn.Định tínhHướng dẫn, tiêu chuẩnHướng dẫn thiết kế, mục 1.6 và 3.10–3.11 · Không áp dụngAssociation of Noise Consultants, Institute of, 2020
b3-064Thử 10 ứng dụng Android miễn phí trên một điện thoại Samsung: nhiều ứng dụng tương quan cao với máy đo chuẩn (R² 0,98), một ứng dụng thấp nhất R² 0,85; tác giả nêu thiếu trọng số A là rào cản dùng cho mục đích pháp lý.R² 0,98 (nhiều ứng dụng) đến 0,85; máy chuẩn R² 0,99; mức thử 25–85 dBĐo đạc, thử thiết bị, mô hìnhThử thiết bị: âm đơn (pure tone) 100, 2.000, 4.000 Hz ở 25, 40, 85 dB; hồi quy tuyến tính so với máy đo môi trường Precision Gold N09AQ (không rõ cấp IEC) · 10 ứng dụng trên 1 điện thoại Galaxy A54Khan và cs., 2025 (tóm tắt)
b3-065Thử 100 điện thoại trong phòng vang (1.472 lần đo) với tiếng ồn trắng ở mức nền, 50, 70, 90 dB(A): ứng dụng trên iOS tốt hơn Android; một ứng dụng (SLA Lite) nằm trong ±1 dB ở cả bốn điều kiện; điện thoại càng cũ đo càng kém.100 điện thoại, 1.472 lần đo; ±1 dB (1 ứng dụng)Đo đạc, thử thiết bị, mô hìnhThử thiết bị trong phòng vang, so với máy đo hiệu chuẩn · 100 điện thoạiMurphy và King, 2016 (tóm tắt)
b3-066Cùng nghiên cứu ghi mối liên hệ có ý nghĩa giữa tuổi điện thoại và khả năng đo chính xác.Định tính (có ý nghĩa thống kê)Đo đạc, thử thiết bị, mô hìnhNhư trên · 100 điện thoạiMurphy và King, 2016 (tóm tắt)
b3-067Nhóm NIOSH báo cáo ứng dụng NoiSee do chính họ phát triển, khi dùng với micro ngoài đã hiệu chuẩn, đáp ứng phần lớn (không phải toàn bộ) yêu cầu lớp 2 của IEC 61672/ANSI S1.4-2014; chỉ một phần nhỏ ứng dụng trên thị trường đủ chính xác.Đạt "phần lớn" yêu cầu lớp 2 (với micro ngoài)Đo đạc, thử thiết bị, mô hìnhThử thiết bị theo các phép thử của IEC 61672 trong phòng lab · 1 ứng dụng (NoiSee) + micro ngoàiCelestina và cs., 2018 (tóm tắt)
b3-080Tổng quan WHO về can thiệp tiếng ồn giao thông ghi các nghiên cứu theo dõi dài hơn không cho thấy bằng chứng thích nghi (thay đổi kết cục không mất đi) trong ít nhất vài năm; với khó chịu do ồn đường bộ, đa số nghiên cứu thấy thay đổi lớn hơn mức dự báo chỉ từ thay đổi mức ồn.Định tínhTổng quanTổng quan hệ thống 43 nghiên cứu can thiệp · 43 nghiên cứuBrown và Van Kamp, 2017
b3-082Nghiên cứu NIOSH 2016 tự nêu chỉ thử một dải mức âm hạn chế và không kiểm tuyến tính, tính định hướng, trọng số tần số hay điều kiện môi trường như IEC 61672 yêu cầu.Định tínhĐo đạc, thử thiết bị, mô hìnhThử thiết bị, như trên · 4 ứng dụng iOSKardous và Shaw, 2016

Viết tắt trong trang

AASM
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
EEG
điện não đồ (electroencephalography)
HR
tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio)
KSS
thang buồn ngủ Karolinska (Karolinska Sleepiness Scale)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
MSLT
nghiệm pháp đo độ trễ vào giấc nhiều lần (multiple sleep latency test)
NREM
giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
PVT
bài kiểm tra cảnh giác tâm thần vận động (psychomotor vigilance task)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
RR
nguy cơ tương đối (relative risk)
SWS
giấc ngủ sóng chậm (slow-wave sleep)
TST
tổng thời gian ngủ (total sleep time)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục C. Dữ kiện: can thiệp và cách đo. Trong: Tập 11 — Tiếng ồn và giấc ngủ: thức giấc, tim mạch, khảo sát dân số và các biện pháp giảm ồn. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/tieng-on-va-giac-ngu/phu-luc-c-du-kien-b3/