giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Phụ lục G. Dữ kiện: Việt Nam, phụ nữ trung niên và cao tuổi

Phụ lục Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 23 phút đọc

Trong trang này

Phụ lục này liệt kê toàn bộ 43 dữ kiện của nhánh Việt Nam: phụ nữ trung niên và cao tuổi đã qua kiểm chứng độc lập. Mỗi dữ kiện qua một lượt thu thập, rồi một lượt kiểm chứng riêng đối chiếu lại với nguồn gốc: siêu dữ liệu, con số, cỡ mẫu, nhóm chứng và mức khẳng định. Cột Loại cho biết dữ kiện đo trên người hay trên động vật, là kết luận của tổng quan, là hướng dẫn hay tiêu chuẩn, là đo đạc môi trường hay thử thiết bị, hoặc lấy từ tài liệu của hãng hay báo chí. Mã dữ kiện (vd b6-033) giúp đối chiếu với các chương; mỗi mục dưới đây gom các dữ kiện được dùng chủ yếu ở một chương. Nhánh này chỉ thu thập nguồn Việt Nam và văn bản chính thức Việt Nam. Nhánh được bổ sung ở bản 2 (11/2026).

Dùng ở chương: Phụ nữ và nam giới ngủ khác nhau thế nào#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b6-033Theo Nghiên cứu theo dõi dọc về lão hoá và sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam, LSAHV) 2018 (mẫu đại diện quốc gia người ≥ 60 tuổi), 29,9% nữ so với 21,4% nam cho biết khó vào giấc "hầu hết thời gian"; bảng của báo cáo ghi chênh lệch theo giới không có ý nghĩa thống kê (n.s.).Khó vào giấc "hầu hết thời gian": nữ 29,9%, nam 21,4%; "thỉnh thoảng" 43,3% so với 44,0%; "hiếm khi" 23,6% so với 29,5%; "không bao giờ" 3,3% so với 5,1% (n.s.)NgườiKhảo sát đại diện quốc gia, cắt ngang; câu hỏi tự báo cáo về triệu chứng mất ngủ (4 mức); báo cáo không nêu phép kiểm định theo giới (chú thích bảng chỉ ghi * p < 0,05, ** p < 0,01, n.s.). Cỡ mẫu: n = 2.341 nam, 2.965 nữ ≥ 60 tuổi, Việt Nam, 2018Chen và Saito, 2020
b6-034Cũng theo LSAHV 2018, nữ cao tuổi báo cáo thức giấc ban đêm và dậy quá sớm không ngủ lại được "hầu hết thời gian" nhiều hơn nam, nhưng các chênh lệch này đều được ghi là không có ý nghĩa thống kê.Thức giấc ban đêm: nữ 30,2%, nam 23,9%; dậy quá sớm: nữ 27,0%, nam 21,3% (đều n.s.)NgườiKhảo sát đại diện quốc gia, cắt ngang; tự báo cáo. Cỡ mẫu: n ≈ 2.243–2.339 nam, 2.952–2.962 nữ ≥ 60 tuổi, Việt Nam, 2018Chen và Saito, 2020
b6-035Theo LSAHV 2018, 33,8% nữ cao tuổi thấy khoẻ khoắn khi thức dậy "hầu hết thời gian", so với 42,8% ở nam; bảng ghi không có ý nghĩa thống kê.Thấy khoẻ khi dậy "hầu hết thời gian": nữ 33,8%, nam 42,8%; "hiếm khi": nữ 22,1%, nam 15,6% (n.s.)NgườiKhảo sát đại diện quốc gia, cắt ngang; tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 2.305 nam, 2.896 nữ ≥ 60 tuổi, Việt Nam, 2018Chen và Saito, 2020
b6-036Ở 428 người cao tuổi tại 3 xã huyện Kiến Xương (Thái Bình, 2024), tỉ lệ rối loạn giấc ngủ theo Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) ở nữ thấp hơn nam; phân bố mức độ khác biệt theo giới có ý nghĩa thống kê.PSQI > 5: nữ 65,4% (161/246), nam 75,8% (138/182); phân bố 4 mức theo giới p < 0,001 (Bảng 4). Nhận xét của nhóm biên tập: kiểm định khi bình phương 2×2 cho tỉ lệ có/không p ≈ 0,027NgườiCắt ngang mô tả; PSQI tự báo cáo; so sánh đơn biến, không hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 428 người ≥ 60 tuổi (nữ 246, 57,5%), 3 xã huyện Kiến Xương, Thái Bình, 2024Bùi Thị Huyền Diệu và cs., 2024
b6-037Trong mẫu Kiến Xương, nữ có tỉ lệ không rối loạn cao hơn nam nhưng tỉ lệ rối loạn mức trung bình cũng cao hơn; nam chủ yếu ở mức nhẹ.Nữ: không 34,6%, nhẹ 32,5%, trung bình 30,1%, nặng 2,8%. Nam: không 24,2%, nhẹ 53,8%, trung bình 19,8%, nặng 2,2%NgườiCắt ngang; phân mức theo tổng điểm PSQI. Cỡ mẫu: n = 428 (246 nữ), 3 xã huyện Kiến Xương, Thái BìnhBùi Thị Huyền Diệu và cs., 2024
b6-038Ở 345 người cao tuổi quận Sơn Trà (Đà Nẵng), tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI ở nữ và nam gần như bằng nhau.Ngủ kém: nữ 68,0%, nam 67,7%; OR 1,0 (KTC 95% 0,6–1,6), p = 0,957NgườiCắt ngang; PSQI; OR đơn biến (nam là nhóm tham chiếu). Cỡ mẫu: n = 345 người cao tuổi (nữ 181, 52,5%), cộng đồng quận Sơn Trà, Đà Nẵng, 9–12/2018Phan Thị Thanh Nga và cs., 2022
b6-040Ở 130 người cao tuổi dân tộc Cơ Tu (huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế), tỉ lệ ngủ kém theo PSQI ở nữ và nam gần như bằng nhau.Ngủ kém: nữ 78,6% (55/70), nam 80,0% (48/60), p = 0,841NgườiCắt ngang; PSQI; kiểm định khi bình phương. Cỡ mẫu: n = 130 (nữ 70, 53,8%), cộng đồng huyện miền núi Nam Đông, Thừa Thiên HuếNguyễn Hoàng Thùy Linh và cs., 2023

Dùng ở chương: Ngưng thở khi ngủ ở phụ nữ: bị bỏ sót ở đâu#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b6-019Trong 57 người bệnh ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea, OSA) được đo đa ký hô hấp tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh (Hà Nội), chỉ khoảng 1/6 là nữ; chỉ số ngưng – giảm thở (apnea–hypopnea index, AHI) trung bình ở nữ thấp hơn nam nhưng chênh lệch không có ý nghĩa thống kê.Nam 48 (84,2%), nữ 9 (15,8%); AHI nam 35,81 ± 24,34, nữ 31,29 ± 24,20, p > 0,05; nữ: nhẹ 2, vừa 4, nặng (AHI ≥ 30) 3; nam: nhẹ 11, vừa 13, nặng 24NgườiCắt ngang mô tả; đa ký hô hấp; tuổi 50,8 ± 15,8. Cỡ mẫu: n = 57 người bệnh OSA, một bệnh viện – Khoa Hô hấp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội (thời gian ghi 3/2021–2/2023 ở phần tiếng Việt, 3/2022–2/2023 ở tóm tắt tiếng Anh)Nguyễn Văn Ngân và cs., 2023
b6-020Trong mẫu Tâm Anh, vòng cổ ở nữ nhỏ hơn nam có ý nghĩa thống kê trong khi BMI gần như bằng nhau.Bảng 4: vòng cổ nam 40,27 ± 2,47 cm, nữ 37,61 ± 4,46 cm (p < 0,05); phần bàn luận ghi nam 40,16 ± 2,51, nữ 35,83 ± 2,29 cm. BMI nam 26,54 ± 2,95, nữ 26,6 ± 3,7 (không kiểm định)NgườiCắt ngang mô tả; đo nhân trắc tại khám. Cỡ mẫu: n = 57 (9 nữ theo bảng mức độ; Bảng 1 ghi 8), Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội (một bệnh viện)Nguyễn Văn Ngân và cs., 2023
b6-021Ở 61 người bệnh OSA chưa dùng CPAP hay can thiệp nào được đo đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, nữ chiếm 21,3%; AHI trung bình ở nữ thấp hơn nam và nữ ít gặp thể nặng hơn.Nữ 13/61 (21,3%); AHI nam 51,2 ± 26,1, nữ 33,9 ± 18,5 (p = 0,011); nặng (AHI ≥ 30) nam 77%, nữ 46%; vừa nam 17%, nữ 54% (p = 0,029)NgườiCắt ngang; PSG chuẩn hoá tại phòng thí nghiệm giấc ngủ; người bệnh ngoại trú chưa được can thiệp (treatment-naïve). Cỡ mẫu: n = 61, một bệnh viện tuyến cuối – Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 11/2022–8/2024Bui-Diem và cs., 2026
b6-022Trong cùng mẫu PSG TP.HCM, nữ có vòng cổ nhỏ hơn và thời gian SpO₂ < 90% (T90) ngắn hơn nam; điểm trầm cảm, lo âu, căng thẳng (DASS-21) giữa hai giới không khác biệt có ý nghĩa thống kê, và nữ giữ mức hoạt động trong thang chức năng ban ngày (FOSQ-10) tốt hơn.Vòng cổ nam 41,4 ± 3,6 cm, nữ 35,5 ± 3,1 cm (p < 0,001); T90 trung vị nam 9,3%, nữ 0,9% (p = 0,015); FOSQ-10 mục hoạt động trung vị nam 3,2, nữ 3,7 (p = 0,029); FOSQ-10 tổng 16,3 so với 16,0 (p = 0,718); DASS-21 mọi p > 0,05NgườiCắt ngang; PSG; Thang hệ quả chức năng của giấc ngủ (Functional Outcomes of Sleep Questionnaire, FOSQ-10) và Thang trầm cảm – lo âu – căng thẳng (DASS-21) tự báo cáo; so sánh hai nhóm không hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 61 (13 nữ), Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCMBui-Diem và cs., 2026
b6-023Ở 70 người nghi OSA được đo đa ký hô hấp tại Bệnh viện Phổi Trung ương, khoảng 1/3 là nữ; tỉ lệ xác định OSA ở nữ thấp hơn nam nhưng chênh lệch không có ý nghĩa thống kê.Nữ 23 (32,9%); OSA nữ 16/23 (69,6%), nam 39/47 (83,0%), p = 0,4NgườiCắt ngang tiến cứu; đa ký hô hấp; AHI ≥ 5. Cỡ mẫu: n = 70 người nghi OSA, một bệnh viện – Bệnh viện Phổi Trung ương, 9/2023–4/2024Nguyễn Minh Sang và cs., 2024
b6-024Trong mẫu Bệnh viện Phổi Trung ương, trong số người đã xác định OSA, tỉ lệ mức vừa – nặng và AHI trung bình ở nữ thấp hơn nam, chênh lệch không có ý nghĩa thống kê.Vừa – nặng: nữ 7/16 (43,8%), nam 24/39 (61,5%), p = 0,1; AHI nữ 14,3 ± 16,1, nam 21,3 ± 18,9, p = 0,1NgườiCắt ngang; đa ký hô hấp. Cỡ mẫu: n = 55 người có OSA (16 nữ), Bệnh viện Phổi Trung ươngNguyễn Minh Sang và cs., 2024
b6-025Trong 46 người cao tuổi được chẩn đoán OSA tại Bệnh viện Hữu Nghị (Hà Nội, 2023–2025), nữ chỉ chiếm 13%.Nam 40 (87,0%), nữ 6 (13,0%); tuổi 74,28 ± 7,64; AHI 15–29: 45,65%, ≥ 30: 41,31%NgườiCắt ngang mô tả; đa ký; sàng lọc STOP-Bang trước đo. Cỡ mẫu: n = 46, một bệnh viện – Khoa Hô hấp – Dị ứng, Bệnh viện Hữu Nghị, 1/2023–1/2025Vũ Văn Kiểu và Nguyễn Tiến Dũng, 2026
b6-026Trong 34 người bệnh ngáy được phẫu thuật tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương (2024), chỉ 1 người là nữ.Nam 33 (97,1%), nữ 1 (2,9%); AHI 58,23 ± 29,68 (chỉ 15/34 người có kết quả AHI)NgườiMô tả chùm ca bệnh; chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu: n = 34, một bệnh viện – Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, 1–9/2024Pham Tran Anh và cs., 2025
b6-027Ở 56 người bệnh nhồi máu não bán cấp tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế được đo đa ký hô hấp, khoảng 2/3 người bệnh nữ có OSA (AHI ≥ 5), thấp hơn nam một chút.OSA chung 71,4% (40/56); Bảng 1: OSA nam 23, nữ 17; không OSA nam 7, nữ 9; giới giữa hai nhóm p > 0,05. Nhận xét của nhóm biên tập (tính từ Bảng 1): OSA ở nữ 17/26 = 65,4%, ở nam 23/30 = 76,7%.NgườiCắt ngang mô tả có theo dõi; đa ký hô hấp (Embletta GOLD), không phải PSG; AHI ≥ 5. Cỡ mẫu: n = 56 (26 nữ), một bệnh viện – Khoa Tim mạch, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, 8/2018–7/2019Hoang-Anh và cs., 2023
b6-028Trong 101 người bệnh OSA xác định bằng PSG tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, nữ chiếm 21,8% (tỉ lệ nam:nữ 3,6:1); trong 22 người bệnh nữ, 59,1% đã mãn kinh.Nam 79 (78,2%), nữ 22 (21,8%); nữ đã mãn kinh 59,1% (nhận xét của nhóm biên tập: tương ứng 13/22); AHI trung vị chung 38,71 (18,70–54,40)NgườiCắt ngang mô tả; PSG (142 người đo, 101 có OSA). Cỡ mẫu: n = 101 người bệnh OSA, một bệnh viện – Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCMVũ Trần Thiên Quân và Phạm Diễm Thu, 2025
b6-029Trong cùng mẫu 101 người bệnh OSA, điểm trầm cảm, lo âu và căng thẳng (DASS-21) ở nữ có trung vị cao hơn nam nhưng các chênh lệch không có ý nghĩa thống kê.Trầm cảm: nữ 7,0 (3,5–12,0), nam 4,0 (bài in "4,00") (0,0–10,0), p = 0,08; lo âu: nữ 10,0 (6,0–20,0), nam 8,0 (6,0–14,0), p = 0,14; căng thẳng: nữ 13,0, nam 12,0, p = 0,59. Chung: trầm cảm 32,7%, lo âu 64,4%, căng thẳng 30,7%NgườiCắt ngang; DASS-21 tự báo cáo; Mann–Whitney, không hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 101 (22 nữ), Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCMVũ Trần Thiên Quân và Phạm Diễm Thu, 2025
b6-030Ở 58 người bệnh đột quỵ được đo PSG tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 55/58 có OSA; phân bố giới không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức độ OSA (p = 0,968). Bài không báo cáo tỉ lệ OSA riêng theo giới.OSA chung 55/58 (94,8%); nặng (AHI ≥ 30) 29/58 (50%); Bảng 1 – nam theo nhóm: không OSA 2/3, nhẹ 8/13, vừa 9/13, nặng 21/29, p = 0,968. Nhận xét của nhóm biên tập (suy từ Bảng 1): nữ 18 người, OSA ở nữ 17/18 (94,4%), ở nam 38/40 (95,0%); nặng ở nữ 8/18 (44,4%), ở nam 21/40 (52,5%)NgườiCắt ngang mô tả; PSG. Cỡ mẫu: n = 58 người bệnh đột quỵ (18 nữ), một bệnh viện – Đơn vị Rối loạn giấc ngủ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 11/2024–8/2025Phạm Nguyễn Duy Bình và Nguyễn Lê Trung Hiếu, 2026
b6-031Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp của Bộ Y tế (Quyết định 4235/QĐ-BYT ngày 31/10/2012), chương hội chứng ngừng thở khi ngủ, liệt kê yếu tố nguy cơ là béo phì, bất thường hàm mặt – đường thở trên, đang hút thuốc, phì đại cuốn mũi; không nhắc giới nữ, mãn kinh hay thai kỳ.Yếu tố nguy cơ: béo phì; bất thường vùng hàm mặt, phần mềm đường hô hấp trên; hiện đang hút thuốc; phì đại cuốn mũi, sung huyết mũi. Không có số liệu dịch tễ theo giới. Hiệu lực từ ngày ký; luatvietnam.vn ghi ngày hết hiệu lực "Đang cập nhật"Hướng dẫn, tiêu chuẩnVăn bản hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; đọc chương ngừng thở khi ngủ trên bản đăng lại (vnras.com) và thông tin hiệu lực trên luatvietnam.vn. Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2012
b6-032Trong phần văn bản đọc được của Hướng dẫn quốc gia về chăm sóc sức khoẻ phụ nữ tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh (Quyết định 3977/QĐ-BYT ngày 30/12/2024), không có các từ "ngưng thở", "ngừng thở" hay "ngáy"; giấc ngủ được nhắc dưới dạng rối loạn giấc ngủ (mất ngủ, ngủ không sâu giấc) mô tả là hậu quả của rối loạn vận mạch, vã mồ hôi đêm gây mất ngủ, và lời khuyên tập thói quen đi ngủ cùng một thời điểm.0 lần xuất hiện "ngưng thở/ngừng thở/ngáy" trong phần văn bản hiển thị; có "Rối loạn giấc ngủ: là hậu quả của các rối loạn vận mạch…", "Rối loạn giấc ngủ: mất ngủ, ngủ không sâu giấc", "Vã mồ hôi: thường xảy ra vào ban đêm nên gây mất ngủ"; tuổi mãn kinh trung bình của phụ nữ Việt Nam ghi 48–50; hiệu lực từ ngày ký, thay Quyết định 3793/QĐ-BYTHướng dẫn, tiêu chuẩnTìm từ khoá trên toàn bộ văn bản hiển thị tại luatvietnam.vn. Cỡ mẫu: Không áp dụngBộ Y tế, 2024b

Dùng ở chương: Làm ca đêm, chu kỳ kinh và khả năng sinh sản#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b6-003Trong cùng mẫu 154 nữ nhân viên y tế, sau hiệu chỉnh đa biến, người không trực đêm có tổng điểm Thang đánh giá mãn kinh (Menopause Rating Scale, MRS) thấp hơn khoảng 2,6 điểm so với người có trực đêm; khi chưa hiệu chỉnh, chênh lệch không có ý nghĩa thống kê.Trực đêm 57,8%; MRS trung vị 9 (IQR 4–15) ở người trực đêm so với 6 (2–14), p = 0,102 (Mann–Whitney); hồi quy tuyến tính: không trực đêm β = −2,62 (KTC 95% −5,02 đến −0,22), p = 0,032NgườiCắt ngang; hồi quy tuyến tính đa biến sai số chuẩn mạnh (R² = 0,462); biến trong mô hình: tuổi, số con, tuổi có kinh lần đầu, học vấn, sống cùng chồng hay không, tình trạng kinh nguyệt, BMI, chức năng gia đình (APGAR), trực đêm, thâm niên công tác, hỗ trợ xã hội (MOS-SSS); tổng điểm MRS gồm cả mục giấc ngủ; MRS tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 154 nữ nhân viên y tế 45–55 tuổi, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (một bệnh viện)Lê Hữu Thùy Trang và cs., 2026

Dùng ở chương: Giấc ngủ quanh và sau mãn kinh#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b6-001Ở 509 phụ nữ 45–60 tuổi đã mãn kinh tự nhiên tại 4 phường/xã quận Sơn Trà (Đà Nẵng, 5/2022–5/2023), điểm trung bình mục "cảm thấy khó ngủ" trên thang chất lượng cuộc sống đặc hiệu mãn kinh (Menopause-Specific Quality of Life, MENQOL; điểm cao = triệu chứng nặng hơn) cao hơn mục "bốc hoả" (3,21 so với 2,86), nhưng trung vị hai mục bằng nhau (2,00) và bài không kiểm định chênh lệch.Khó ngủ 3,21 ± 1,47 (trung vị 2,00; IQR 0,00); bốc hoả 2,86 ± 1,23 (trung vị 2,00; IQR 2,00); lĩnh vực vận mạch 2,70 ± 0,94, thể chất 2,73 ± 0,81; điểm cao = nặng hơn; Cronbach α 0,954 (thử trên 30 người)NgườiCắt ngang mô tả; chọn ngẫu nhiên 4/7 phường/xã rồi ngẫu nhiên đơn từ danh sách; phỏng vấn trực tiếp bằng MENQOL 29 mục (tự báo cáo); chỉ mô tả, không so sánh thống kê giữa hai mục. Cỡ mẫu: n = 509 phụ nữ 45–60 tuổi (tuổi 53,39 ± 4,53), mãn kinh tự nhiên (vô kinh ≥ 12 tháng), thường trú quận Sơn Trà, Đà Nẵng, 5/2022–5/2023Pham Thi Hoa Xinh và cs., 2025
b6-002Ở 154 nữ nhân viên y tế 45–55 tuổi của Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, mục "các vấn đề về giấc ngủ" trên Thang đánh giá mãn kinh (Menopause Rating Scale, MRS) phổ biến hơn mục "nóng bừng (bốc hoả), vã mồ hôi" (bài chỉ mô tả, không kiểm định).Giấc ngủ: không 22,1%, nhẹ 33,8%, trung bình 25,9%, nặng 15,6%, rất nặng 2,6%. Nóng bừng (bốc hoả), vã mồ hôi: không 55,2%, nhẹ 26,0%, trung bình 13,6%, nặng 2,6%, rất nặng 2,6%. MRS tổng trung vị 8 (IQR 3–15). Nhận xét của nhóm biên tập (tính từ bảng): giấc ngủ từ mức trung bình trở lên 68/154 = 44,2%, có triệu chứng 77,9%; bốc hoả từ mức trung bình trở lên 29/154 = 18,8%, có triệu chứng 44,8%.NgườiCắt ngang; chọn mẫu phân tầng theo cơ sở làm việc kết hợp ngẫu nhiên; MRS tự báo cáo; loại người đang dùng hormone thay thế trong 6 tháng. Cỡ mẫu: n = 154 (161 mời, đáp ứng 95,6%), tuổi trung vị 48; còn kinh 64,3%, mất kinh < 12 tháng 23,4%, mãn kinh 12,3%; một bệnh viện (3 cơ sở) – Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 12/2025–5/2026Lê Hữu Thùy Trang và cs., 2026
b6-004Trong mẫu cộng đồng lớn 1.600 phụ nữ mãn kinh tại 8 xã/phường Cần Thơ (2024–2025), trung vị điểm lĩnh vực thể chất của MENQOL (lĩnh vực có mục giấc ngủ) cao hơn lĩnh vực vận mạch (bốc hoả, vã mồ hôi).MENQOL chung trung vị 1,63 (Q1–Q3 1,39–2,09); vận mạch 1,33; tâm lý – xã hội 1,57; thể chất 1,67; tình dục 1,67 (thang 1–8, cao = chất lượng sống kém hơn)NgườiCắt ngang có phân tích; MENQOL 28 mục bản tiếng Việt; bộ câu hỏi kiến thức – thái độ – thực hành. Cỡ mẫu: n = 1.600 phụ nữ mãn kinh, 4 xã và 4 phường, TP. Cần Thơ, 12/2024–8/2025Lê Thị Kim Định và cs., 2026 (tóm tắt)
b6-005Trong mẫu 410 phụ nữ sau mãn kinh ở phường Trường An (Huế), lĩnh vực cơ thể – thực vật của MRS (gồm bốc hoả, khó chịu tim, vấn đề giấc ngủ, đau cơ khớp) ở mức vừa trở lên chiếm khoảng 2/3.Cơ thể – thực vật: không 23,4%, nhẹ 11,5%, vừa 55,9%, nặng 9,3%; điểm 4,70 ± 2,63 (ngưỡng của bài: vừa 5–7, nặng ≥ 8). Nhận xét của nhóm biên tập (tính từ số đếm Bảng 2): cơ thể – thực vật từ mức vừa trở lên 267/410 = 65,1%; tâm lý 184/410 = 44,9%; niệu dục 338/410 = 82,4%.NgườiCắt ngang; chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn; MRS tự báo cáo. Cỡ mẫu: n = 410, phường Trường An, TP. Huế, 4/2021–6/2022Nguyen Thi Huong Lam và cs., 2024
b6-006Ở 410 phụ nữ đã mãn kinh tự nhiên tại phường Trường An (TP. Huế), khoảng 1/3 có bốc hoả từ 3 lần/ngày trở lên. Điểm mục bốc hoả – vã mồ hôi giảm rõ theo số năm sau mãn kinh, còn điểm mục vấn đề giấc ngủ không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm < 5, 5–10 và > 10 năm.Bốc hoả ≥ 3 lần/ngày 31,2%; hạng trung bình bốc hoả 271,76 (< 5 năm), 178,40 (5–10), 108,09 (> 10), p < 0,001; hạng trung bình giấc ngủ 202,73; 212,20; 197,13, p > 0,05NgườiCắt ngang mô tả; chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn (4/11 tổ dân phố, danh sách Hội Phụ nữ); MRS tự báo cáo; so sánh hạng (Kruskal–Wallis); loại người dùng liệu pháp hormone. Cỡ mẫu: n = 410 phụ nữ ≥ 40 tuổi đã mãn kinh tự nhiên ≥ 1 năm (tuổi 56,50 ± 5,04), phường Trường An, TP. Huế, 4/2021–6/2022Nguyen Thi Huong Lam và cs., 2024
b6-007Ở 386 phụ nữ 45–52 tuổi khám phụ khoa định kỳ tại Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM, 2017), 27,72% có rối loạn mất ngủ khi sàng lọc theo tiêu chuẩn DSM-5.Mất ngủ 27,72%NgườiCắt ngang; sàng lọc rối loạn mất ngủ theo tiêu chuẩn DSM-5 qua phỏng vấn; không nêu định nghĩa giai đoạn quanh mãn kinh trong phần đọc được. Cỡ mẫu: n = 386 phụ nữ 45–52 tuổi đến khám phụ khoa định kỳ, một bệnh viện – Bệnh viện Từ Dũ, TP.HCM, 10–12/2017Vo và Huynh, 2019 (tóm tắt)
b6-008Trong cùng mẫu Từ Dũ, phụ nữ có bốc hoả đi kèm tỉ số tỉ lệ hiện mắc (prevalence ratio, PR) mất ngủ khoảng 3,7; nhóm 50–52 tuổi và yếu tố kinh tế cũng đi kèm tỉ lệ mất ngủ cao hơn.Bốc hoả PR 3,65 (KTC 95% 2–6,6); tuổi 50–52 so với 45–49 PR 1,9 (1,1–3,5); kinh tế PR 2,99 (1,2–7,6)NgườiCắt ngang; PR (không phải OR); tóm tắt không nêu biến hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 386, Bệnh viện Từ Dũ (một bệnh viện)Vo và Huynh, 2019 (tóm tắt)
b6-009Ở 104 phụ nữ ≥ 40 tuổi khám tại Khoa Phụ sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (2023–2024), 59,6% có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI; tỉ lệ ở nhóm đã mãn kinh cao hơn nhóm bài gọi là "tiền mãn kinh" nhưng chênh lệch không có ý nghĩa thống kê.PSQI > 5: 59,6% (62/104); đã mãn kinh 68,8% (22/32) so với "tiền mãn kinh" 55,6% (40/72), p = 0,206; PSQI 7,53 ± 4,45NgườiCắt ngang mô tả; Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) tự báo cáo; mãn kinh = vô kinh 12 tháng liên tiếp; bài không định nghĩa "tiền mãn kinh" theo STRAW. Cỡ mẫu: n = 104 phụ nữ ≥ 40 tuổi (tuổi 51,84 ± 9,75; "tiền mãn kinh" 69,2%), một bệnh viện – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, 10/2023–1/2024Trần Thiện Thành và cs., 2025
b6-010Trong mẫu Huế, sau hiệu chỉnh đa biến, sống cùng chồng và hoạt động thể lực ≥ 30 phút/ngày đi kèm khả năng ngủ kém thấp hơn; hút thuốc lá thụ động và dùng cà phê đi kèm khả năng ngủ kém cao hơn.Sống cùng chồng aOR 0,10 (0,02–0,43); hút thuốc thụ động aOR 5,33 (1,66–17,15); cà phê aOR 4,42 (1,51–12,93); hoạt động thể lực ≥ 30 phút/ngày aOR 0,11 (0,03–0,37). Phân tích đơn biến: không sống cùng chồng 84,6% ngủ kém so với 51,3%NgườiCắt ngang; hồi quy logistic đa biến (các biến có ý nghĩa ở đơn biến: bệnh mạn tính, dùng thuốc kéo dài, hút thuốc thụ động, cà phê, hoạt động thể lực, sống cùng chồng); không đưa bốc hoả, trầm cảm, BMI vào mô hình. Cỡ mẫu: n = 104, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (một bệnh viện)Trần Thiện Thành và cs., 2025
b6-011Theo các thành phần PSQI trong mẫu Huế, 1/4 phụ nữ ngủ dưới 5 giờ/đêm, chỉ khoảng 1/10 ngủ trên 7 giờ, và gần 1/10 dùng thuốc ngủ từ 3 lần/tuần trở lên.Ngủ < 5 giờ 25,0%; 5–6 giờ 26,9%; 6–7 giờ 38,5%; > 7 giờ 9,6%; hiệu quả giấc ngủ < 65% ở 22,1%; dùng thuốc ngủ ≥ 3 lần/tuần 9,6%; không dùng 89,4%NgườiCắt ngang; thành phần PSQI tự báo cáo (thời lượng ngủ thực tế trong tháng qua). Cỡ mẫu: n = 104, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (một bệnh viện)Trần Thiện Thành và cs., 2025
b6-012Khảo sát 850 phụ nữ đã mãn kinh tự nhiên tại 17 trạm y tế phường của Đà Nẵng (2023) cho tuổi mãn kinh trung bình khoảng 50,7; tóm tắt bài báo ghi thói quen thức quá 12 giờ đêm và hút thuốc lá đi kèm tuổi mãn kinh sớm hơn.Tuổi mãn kinh 50,68 ± 3,77; tóm tắt không nêu số liệu theo nhóm thức khuya (tuổi trung bình, p)NgườiCắt ngang; chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn; tuổi mãn kinh nhớ lại; thói quen ngủ tự báo cáo; tóm tắt không nêu biến hiệu chỉnh. Cỡ mẫu: n = 850 phụ nữ mãn kinh tự nhiên, 17 trạm y tế phường, TP. Đà Nẵng, 8–9/2023Nguyễn Đình Phương Thảo và cs., 2025 (tóm tắt)
b6-013Trong mẫu cộng đồng 384 phụ nữ sau mãn kinh ở 17 phường/xã Đà Nẵng (thẩm định thang Utian), tuổi mãn kinh trung bình khoảng 50,7; dưới 1% mãn kinh trước 40 tuổi.50,72 ± 3,65 tuổi; 40–55 tuổi 91,67%; > 55 tuổi 7,55%; < 40 tuổi 0,78%NgườiCắt ngang; chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn (30% phường/xã = 17); tuổi mãn kinh nhớ lại; loại người từng dùng bất kỳ hormone. Cỡ mẫu: n = 384 phụ nữ sau mãn kinh 46–65 tuổi (tuổi 57,77 ± 4,33), sống tại cộng đồng, Đà NẵngNguyen Dinh Phuong Thao và cs., 2026
b6-014Ở 369 phụ nữ mãn kinh tự nhiên khám tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng, tuổi mãn kinh trung bình khoảng 50,0.49,95 ± 3,34 tuổi (lớn nhất 58); < 40 tuổi 0,3%; 40–55 tuổi 97,3%; > 55 tuổi 2,4%NgườiCắt ngang mô tả; phỏng vấn cấu trúc; tuổi mãn kinh nhớ lại; loại người đang dùng nội tiết. Cỡ mẫu: n = 369, một bệnh viện – Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng, 12/2020–3/2023Nguyễn Đình Phương Thảo và cs., 2023
b6-015Ở 568 phụ nữ mãn kinh tự nhiên khám tại Bệnh viện A Thái Nguyên (2025), tuổi mãn kinh trung bình khoảng 49,2.49,2 ± 3,8 tuổiNgườiCắt ngang mô tả; chọn mẫu toàn bộ; mãn kinh = ngừng kinh ≥ 12 tháng liên tiếp; loại người dùng hormone 6 tháng gần đây. Cỡ mẫu: n = 568, một bệnh viện – Khoa Khám bệnh, Bệnh viện A Thái Nguyên, 1–6/2025Hoàng Thị Ngọc Trâm và cs., 2026b
b6-016Ở 165 phụ nữ sau mãn kinh khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (2024–2025), tuổi mãn kinh trung bình khoảng 50,1.50,1 ± 3,7 tuổi; tuổi hiện tại 61,5 ± 6,2NgườiCắt ngang; chọn mẫu thuận tiện; mãn kinh = ≥ 12 tháng liên tục không kinh, không dùng tránh thai nội tiết; loại người đang dùng hormone thay thế. Cỡ mẫu: n = 165, một bệnh viện – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, 11/2024–4 (hoặc 5)/2025Lê Anh Phúc và cs., 2025
b6-017Ở 155 phụ nữ mãn kinh dưới 60 tuổi có hội chứng chuyển hoá khám tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, tuổi mãn kinh trung bình khoảng 49,0.49,0 ± 3,1 tuổi; tuổi hiện tại 56,1 ± 4,4; số năm mãn kinh 7,1 ± 4,0NgườiCắt ngang mô tả. Cỡ mẫu: n = 155 phụ nữ mãn kinh < 60 tuổi có hội chứng chuyển hoá, một bệnh viện – Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, 7/2022–4/2023Nguyễn Xuân Hòa và cs., 2023 (tóm tắt)
b6-039Cũng trong mẫu Sơn Trà, tỉ lệ ngủ kém ở người ly dị/goá (74,5%) cao hơn người có gia đình (64,5%) nhưng OR bài báo cáo không có ý nghĩa thống kê; người sống một mình không có tỉ lệ ngủ kém cao hơn.Ly dị/goá 74,5%, OR 1,0 (0,3–3,2), p = 0,941; độc thân 73,7%, OR 1,6 (0,9–2,7), p = 0,078; có gia đình 64,5% (tham chiếu); sống một mình 62,9% (tham chiếu), với vợ/chồng 66,7%, với con cháu 68,6%NgườiCắt ngang; PSQI; OR đơn biến; các biến hôn nhân, sống cùng không vào mô hình đa biến cuối. Cỡ mẫu: n = 345, quận Sơn Trà, Đà Nẵng, 9–12/2018Phan Thị Thanh Nga và cs., 2022
b6-041Trong mẫu Cơ Tu, nhóm độc thân, goá hoặc ly dị có tỉ lệ ngủ kém cao hơn nhóm đang kết hôn ở phân tích đơn biến; sau hiệu chỉnh đa biến, liên quan không còn ý nghĩa thống kê.Độc thân/goá/ly dị 92,1% (35/38) so với kết hôn 73,9% (68/92), p = 0,020; OR hiệu chỉnh (tham chiếu: kết hôn) 0,306 (0,083–1,121), p = 0,074 — ngược chiều với số thô (nhận xét của nhóm biên tập: có thể bài mã hoá nhầm nhóm tham chiếu)NgườiCắt ngang; PSQI; hồi quy logistic đa biến (học vấn, thu nhập, chất lượng cuộc sống, hài lòng sức khoẻ). Cỡ mẫu: n = 130, huyện Nam Đông, Thừa Thiên HuếNguyễn Hoàng Thùy Linh và cs., 2023
b6-042Ở 255 người cao tuổi xã Tân Vinh (Lương Sơn, Hoà Bình, 2024), nhóm ly dị/goá/độc thân có tỉ lệ mất ngủ theo Chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index, ISI ≥ 10) cao hơn nhóm có vợ/chồng.ISI ≥ 10: ly dị/goá/độc thân 85,9% (85/99) so với có vợ/chồng 71,8% (112/156); OR đơn biến 2,4 (1,2–4,6), p = 0,009. Đa biến: Bảng 4 đặt OR 2,9 (B = 1,09, p = 0,01, không nêu KTC) ở dòng "Married" với ly dị/goá/độc thân là tham chiếu, trong khi tóm tắt gán 2,9 cho nhóm ly dị/goá/độc thân – chiều OR hiệu chỉnh không xác định đượcNgườiCắt ngang; ISI tự báo cáo; hồi quy logistic. Cỡ mẫu: n = 255 người ≥ 60 tuổi, một xã – Tân Vinh, Lương Sơn, Hoà Bình, 2024Tran Thi Hai Anh và Hoang Thi Xuan Huong, 2024
b6-043Trong nghiên cứu định tính về 12 người chăm sóc người sa sút trí tuệ ở huyện Sóc Sơn (Hà Nội), con dâu là người đảm nhận phần lớn chăm sóc trực tiếp; người chăm sóc mô tả chăm sóc "suốt ngày đêm", phải dậy giúp người bệnh đi vệ sinh ban đêm và bị mất ngủ.Không có số liệu định lượng; 50% người chăm sóc là nữNgườiNghiên cứu định tính mô tả; phỏng vấn bán cấu trúc; phân tích chủ đề. Cỡ mẫu: 12 người chăm sóc trong gia đình (6 nữ) và 9 người cung cấp thông tin chủ chốt (nhân viên y tế, lãnh đạo địa phương), một huyện ven Hà Nội – Sóc SơnHuong Nguyen và cs., 2021

Dùng ở chương: Liệu pháp hormone, thuốc mới và CBT-I khi mãn kinh: thử nghiệm nói gì#

MãDữ kiệnGiá trịLoạiPhương pháp, cỡ mẫuNguồn
b6-018Trong 403 nữ nhân viên y tế 40–60 tuổi tại Bệnh viện Hùng Vương (TP.HCM, 2024), khoảng 1/5 cho biết dùng thực phẩm đặc biệt để giảm triệu chứng mãn kinh, khoảng 2/3 trả lời đúng câu hỏi có biết liệu pháp hormone thay thế, và hơn một nửa từng đi khám vì triệu chứng quanh mãn kinh.Dùng thực phẩm đặc biệt 19,60% (79/403); biết liệu pháp hormone thay thế 64,76%; từng đi khám vì triệu chứng quanh mãn kinh 54,84%; hỏi bác sĩ khi bắt đầu mãn kinh 70,72%NgườiCắt ngang; bộ câu hỏi kiến thức – thái độ – thực hành 45 mục tự trả lời; tình trạng mãn kinh tự đánh giá. Cỡ mẫu: n = 403 nữ nhân viên y tế 40–60 tuổi (chưa quanh/sau mãn kinh 52,85%; quanh mãn kinh 29,03%; sau mãn kinh 11,91%), một bệnh viện – Bệnh viện Hùng Vương, TP.HCM, 3–6/2024Huynh và cs., 2025

Viết tắt trong trang

AHI
chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
aOR
tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
CBT-I
liệu pháp nhận thức–hành vi cho mất ngủ (cognitive behavioral therapy for insomnia)
CPAP
thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure)
DSM-5
Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, ấn bản 5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th edition)
IQR
khoảng tứ phân vị (interquartile range)
ISI
chỉ số mức độ mất ngủ (Insomnia Severity Index)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
LSAHV
Nghiên cứu Theo dõi dọc về Lão hoá và Sức khoẻ tại Việt Nam (Longitudinal Study of Ageing and Health in Vietnam)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
OSA
ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
STRAW
hệ phân giai đoạn lão hoá sinh sản (Stages of Reproductive Aging Workshop)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Phụ lục G. Dữ kiện: Việt Nam, phụ nữ trung niên và cao tuổi. Trong: Tập 13 — Giấc ngủ của phụ nữ: chu kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, sau sinh và mãn kinh. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-cua-phu-nu/phu-luc-g-du-kien-b6/