giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Bệnh viện, hàng xóm và tiếng ngáy

Chương 5 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 21 phút đọc

Trong trang này

Chương này rời đường phố và sân bay để hỏi về những nguồn ồn ở gần người ngủ hơn: thiết bị và con người trong bệnh viện, tiếng ngáy của người nằm cạnh, hàng xóm, sàn nhà tầng trên và công trình xây dựng. Câu hỏi chung là mức ồn đo được bao nhiêu, nó chiếm bao nhiêu phần trong giấc ngủ bị gián đoạn, và các can thiệp đã thử có làm thay đổi giấc ngủ đo được hay không. Kết luận chính: mức ồn ở đơn vị hồi sức tích cực luôn vượt xa các mức WHO được trích, nhưng khi đo giấc ngủ bằng điện não kèm ghi âm, tiếng ồn chỉ đi kèm một phần nhỏ số lần thức giấc. Nút tai và bịt mắt ở bệnh nhân nặng cho kết quả tốt trên thang tự báo cáo, còn thử nghiệm ngẫu nhiên có đa ký giấc ngủ ở bệnh nhân thật mà chúng tôi đọc được không đạt kết cục chính. Với tiếng ngáy, hàng xóm và sàn chung cư, dữ liệu gần như chỉ là số đo âm, khảo sát khó chịu và số khiếu nại, rất ít số đo giấc ngủ.

Mức ồn đo được trong ICU và bệnh viện#

Đơn vị hồi sức tích cực (intensive care unit, ICU) là nơi được đo ồn nhiều nhất trong bệnh viện. Thiết bị theo dõi, máy thở, báo động, điện thoại và hoạt động chăm sóc diễn ra suốt ngày đêm. Khi đọc các con số dưới đây, cần nhớ ba điều: chỉ số nào (mức tương đương LAeq, mức tối đa LAmax hay mức đỉnh LApeak), đo ở đâu (đầu giường, quầy điều dưỡng hay khu mở) và có đo giấc ngủ hay không. Cả bốn nghiên cứu đo đạc trong mục này đều không đo giấc ngủ bệnh nhân.

Ở Anh, nhóm Oxford đo 24 giờ ở năm ICU người lớn vùng Thames Valley vào tháng 6/2012 (Darbyshire và Young, 2013). Một máy đo đặt cạnh đầu bệnh nhân, một máy ở quầy trung tâm. LAeq tại đầu giường là 54,1–59,9 dBA, và không thời điểm nào xuống dưới 45 dBA. Mức thấp nhất ban đêm trung bình khoảng 51 dBA, rơi vào lúc 4 giờ sáng. Từ 22 giờ đến 7 giờ, đỉnh trên 85 dBA xuất hiện ít nhất mỗi 7–16 phút trong mỗi giờ. LApeak cao nhất ghi được là 127,9 dBA. Một phòng đơn trống chỉ đạt 34,1 dBA khi mọi thiết bị đều tắt. Mỗi ICU chỉ được đo một ngày, và kinh phí đến từ quỹ nghiên cứu của khoa Thần kinh lâm sàng, Đại học Oxford.

Ở Seoul, ba ICU (nội, ngoại, nhi) của Bệnh viện Severance được đo mỗi giây trong một tuần của tháng 11/2018 (Jung và cs., 2020). Trung vị mức ồn 24 giờ là 54,4 dBA (khoảng tứ phân vị 51,1–57,5) và ban đêm là 52,7 dBA (49,6–56,0). Khu mở của ICU ngoại vượt 60 dB trong 19,1% thời gian buổi tối. Báo động đỏ của máy theo dõi lên tới 85 dB. Nghiên cứu do Đại học Y Yonsei tài trợ.

Ở New Delhi, một ICU người lớn được đo bốn tháng, từ tháng 12/2024 đến tháng 3/2025, với 5.443 bản ghi nửa giờ (Gupta và cs., 2026). Leq trung bình được báo là khoảng 64,8 ± 2,8 dB. Lmax vượt 75 dB ở 96,7% số bản ghi và vượt 85 dB ở 25,5%. Giờ giao ca và giờ thăm bệnh ồn nhất, còn 1–3 giờ sáng yên nhất. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt; câu trong tóm tắt gộp nhiều chỉ số vào một giá trị, và cấp chính xác của máy đo không được nêu.

Tổng quan lâm sàng của Xie và cs. ghi nhận mức ồn ICU trong các nghiên cứu gốc dao động 50–75 dBA, với đỉnh ban đêm cao nhất tới 103 dBA (Xie và cs., 2009). Ở quy mô dài hơn, tổng hợp tài liệu từ năm 1960 của nhóm Johns Hopkins cho thấy mức ồn ban ngày trong bệnh viện tăng trung bình 0,38 dB mỗi năm (West và Busch-Vishniac, 2005). Theo nhóm này, các bệnh viện cao hơn chuẩn 20–40 dB(A), và không một kết quả công bố nào cho thấy bệnh viện đạt chuẩn ồn bệnh viện. Chúng tôi chỉ đọc được bản phổ thông của báo cáo hội nghị này.

Nghiên cứuNơi đoChỉ số và vị tríKết quảMức WHO được bài trích
Darbyshire và Young, 20135 ICU, AnhLAeq tại đầu giường, 24 giờ54,1–59,9 dBA; đêm thấp nhất ≈ 51 dBA35 dBA LAeq; 40 dBA LAmax
Jung và cs., 20203 ICU, SeoulTrung vị, quầy, đầu giường, khu mở24 giờ 54,4 dBA; đêm 52,7 dBA30 dBA ban đêm
Gupta và cs., 20261 ICU, New DelhiLeq và Lmax theo nửa giờLeq ≈ 64,8 dB; Lmax > 85 dB ở 25,5% bản ghiKhông đọc được
Xie và cs., 200911 nghiên cứu gốcNhiều chỉ số50–75 dBA; đỉnh đêm tới 103 dBA≤ 30 dBA ban đêm cho buồng bệnh

Cột cuối cho thấy một vấn đề nhỏ nhưng thật: các bài trích "mức WHO" khác nhau (30 hay 35 dBA, có hay không kèm LAmax 40 dBA). Chúng tôi thuật lại đúng con số từng bài trích, không quy về một mốc chung. Dù dùng mốc nào, mọi số đo trong bảng đều cao hơn mốc đó từ khoảng 15 dB trở lên SL.

Tiếng ồn chiếm bao nhiêu phần thức giấc ở ICU#

Mức ồn cao là thật. Câu hỏi khác là tiếng ồn giải thích được bao nhiêu phần giấc ngủ vụn vỡ của bệnh nhân nặng. Để trả lời, cần ghi đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) cùng lúc với ghi âm, rồi đếm xem bao nhiêu lần thức giấc theo sau một sự kiện âm thanh.

Tổng quan của Xie và cs. thuật lại nghiên cứu PSG của Freedman và cs. (2001) ở bệnh nhân thở máy (Xie và cs., 2009). Ở đó, tiếng ồn môi trường chỉ đi kèm 17% số lần thức giấc và 11,5% số lần vi thức giấc (arousal). Nghiên cứu của Gabor (2003) được thuật lại với tỉ lệ 20,9% gián đoạn giấc ngủ do ồn lớn. Trong 11 nghiên cứu gốc được tổng quan, 6 nghiên cứu cho rằng tiếng ồn chỉ chịu trách nhiệm một phần nhỏ. Cũng theo tổng quan này, các đỉnh trên 80 dBA tương quan có ý nghĩa với vi thức giấc trên điện não đồ (electroencephalography, EEG) trong nghiên cứu của Aaron (1996).

Lời kể của bệnh nhân lại khác. Cũng tổng quan đó dẫn nghiên cứu của Ugras (2007), trong đó 57,6% bệnh nhân tự nêu môi trường ồn là yếu tố gây khó ngủ. Hai con số không loại trừ nhau. Mức ồn ICU đo được luôn vượt xa khuyến nghị, nhưng PSG kèm ghi âm cho thấy phần lớn gián đoạn đến từ hoạt động chăm sóc, đau, thuốc và bệnh nền. Tự báo cáo đo điều bệnh nhân nhận ra và quy kết; PSG đo phản ứng của não. Đây là cùng một khoảng cách giữa tự báo cáo và đo khách quan đã gặp ở các khảo sát dân số trong tập này.

Loại âm cũng quan trọng, không chỉ mức âm. Trong một thực nghiệm phòng thí nghiệm, 12 người khoẻ ngủ ba đêm có PSG trong phòng cách âm, trong đó hai đêm nghe 14 loại âm bệnh viện phát tăng dần từ 40 đến 70 dBA, mỗi bước 5 dBA (Buxton và cs., 2012). Âm điện tử như chuông điện thoại và báo động máy truyền dịch gây vi thức giấc nhiều hơn các âm khác ở cùng mức, kể cả giọng người. Âm phát trong giấc ngủ sâu N3 ít gây vi thức giấc hơn trong N2. Khi âm rơi vào giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM), xác suất vi thức giấc ít khác nhau giữa các loại âm, nhưng nhịp tim tăng nhiều và kéo dài hơn. Nghiên cứu được tài trợ bởi ba tổ chức trong giới thiết kế cơ sở y tế.

Một hướng khác là hạ mức đỉnh mà giữ nguyên tổng năng lượng âm. Nhóm của Persson Waye phát âm thanh ICU ghi âm thật cho người khoẻ ngủ trong phòng thí nghiệm, ở cùng LAeq 47 dB nhưng LAFmax 64 hoặc 56 dB (Persson Waye và cs., 2012; Persson Waye và cs., 2013). Cả hai đêm phơi nhiễm đều đi kèm ít giấc ngủ sóng chậm hơn và nhiều thời gian thức hơn đêm tham chiếu. Hạ đỉnh từ 64 xuống 56 dB không đủ để cải thiện rõ các thông số giấc ngủ, và vi thức giấc không liên quan với mức tối đa. Bản tóm tắt hội nghị ghi 15 người khoẻ; bài năm 2013 mô tả người tham gia là nam giới khoẻ.

Kết quả này đứng cạnh phân tích gộp PSG thực địa trong chương về thức giấc trên điện não, nơi xác suất thức giấc tăng theo LAmax trong phòng. Hai nguồn không hẳn mâu thuẫn. Âm ICU dày đặc sự kiện và LAeq được giữ nguyên, mẫu nhỏ, và đơn vị phân tích là cả đêm chứ không phải từng sự kiện. Theo suy luận của chúng tôi SL, với một môi trường nhiều sự kiện như ICU, cắt đỉnh 8 dB có thể không đổi được số sự kiện vượt mức nền đủ để thấy trên PSG.

Nút tai, bịt mắt và âm che cho bệnh nhân nặng#

Nút tai và bịt mắt đã được thử ở ICU từ lâu. Kết cục được đo gồm mê sảng (delirium), giấc ngủ tự báo cáo và giấc ngủ trên PSG. Ba loại kết cục này cho ba bức tranh khác nhau.

Mê sảng#

Phân tích gộp của Litton và cs. gồm 9 nghiên cứu với 1.455 bệnh nhân ICU người lớn: 6 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomised controlled trial, RCT) và 3 nghiên cứu trước–sau (Litton và cs., 2016). Dùng nút tai ban đêm đi kèm nguy cơ mê sảng thấp hơn khoảng 41% (RR 0,59; KTC 95% 0,44–0,78). Tử vong không giảm có ý nghĩa (RR 0,77; 0,54–1,11). Chúng tôi đọc qua bản tóm lược của NIHR Evidence; theo bản này, các nghiên cứu đều nhỏ và có nguy cơ sai lệch cao, và bài gốc không có thông tin tài trợ.

Tổng quan Cochrane về can thiệp không dùng thuốc ở ICU gồm 30 thử nghiệm với 1.569 người, nhưng chỉ gộp được mê sảng từ 2 nghiên cứu với 177 người (Hu và cs., 2015). Nút tai và/hoặc bịt mắt đi kèm tỉ lệ mê sảng thấp hơn (RR 0,55; KTC 95% 0,38–0,80). Tác giả xếp chất lượng bằng chứng của mọi kết cục ở mức thấp hoặc rất thấp.

Nhìn vào một thử nghiệm cụ thể thì bức tranh khác đi. Trong RCT song song, không làm mù ở một ICU tại Bỉ, 136 bệnh nhân được chia ngẫu nhiên vào nhóm ngủ với nút tai (69 người) hoặc nhóm chứng (67 người) (Van Rompaey và cs., 2012). Nhóm nút tai có nguy cơ xuất hiện lú lẫn hoặc mê sảng thấp hơn (HR 0,47; KTC 95% 0,27–0,82). Nhưng tỉ lệ mê sảng thật sự gần như bằng nhau, 19% so với 20%. Khác biệt nằm ở lú lẫn nhẹ, 15% so với 40%. Chính bài này tự mâu thuẫn: phần thông điệp chính ghi giảm 43% nguy cơ, phần kết quả cho HR 0,47, tức giảm 53%. Tác giả tuyên bố không được tài trợ và không liên hệ với nhà cung cấp nút tai.

Như vậy, các phân tích gộp cho thấy giảm "mê sảng", nhưng ở thử nghiệm lớn nhất đọc được toàn văn, phần giảm đến từ lú lẫn nhẹ. Thử nghiệm có PSG của Demoule và cs. (bên dưới) cũng không thấy khác biệt mê sảng. Lý do khả dĩ gồm cách định nghĩa kết cục (gộp mê sảng với lú lẫn nhẹ), thang đánh giá khác nhau, nghiên cứu trước–sau không ngẫu nhiên trong phân tích gộp và nguy cơ sai lệch cao.

Giấc ngủ: tự báo cáo so với PSG#

Trong thử nghiệm ở Bỉ, giấc ngủ được hỏi bằng 5 câu tự báo cáo chưa thẩm định. Nhóm nút tai báo ngủ tốt hơn từ sau đêm đầu tiên (p = 0,042), còn đêm đầu không khác biệt. Bệnh nhân biết mình đeo nút tai, nên kết cục này dễ chịu thiên lệch kỳ vọng.

Phân tích gộp của Karimi và cs. gồm 35 nghiên cứu, khoảng 2.687 người, trong đó 21 nghiên cứu vào phân tích gộp (Karimi và cs., 2021). Nút tai và bịt mắt đi kèm điểm chất lượng ngủ trên bảng hỏi giấc ngủ Richards-Campbell (Richards-Campbell Sleep Questionnaire, RCSQ) cao hơn 11,46 điểm (KTC 95% 7,04–15,88), với dị biệt rất cao (I² = 88,7%). Điểm chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) thấp hơn 5,02 điểm, tức tốt hơn. Bài gộp cả nghiên cứu không ngẫu nhiên và có nhiều chỗ lệch số, ví dụ 2.687 so với 2.678 người. Tác giả khai không có xung đột lợi ích; chúng tôi không thấy mục tài trợ.

Phần PSG của chính phân tích gộp này chỉ dựa trên 3 nghiên cứu nhỏ ở người khoẻ ngủ trong ICU mô phỏng. Tổng thời gian ngủ tăng 25,4 phút, REM tăng 4,66%, vi thức giấc giảm 5,17 lần mỗi giờ. Giấc ngủ sâu N3 không thay đổi (−0,35%; p = 0,70). Một nghiên cứu ICU mô phỏng cùng loại là của Hu và cs.: 14 người khoẻ ngủ trong tiếng ồn và ánh sáng ICU phát lại, khoảng 66 dB(A) và 100 lux (Hu và cs., 2010). Đêm có nút tai và bịt mắt đi kèm REM 12,9% so với 9,3% và ít vi thức giấc hơn trên PSG chấm tay có làm mù. Melatonin niệu cao hơn (22,3 so với 15,1 μg/kg), nhưng thiết kế không tách được phần của nút tai với phần của bịt mắt. Bài không có tuyên bố tài trợ, và tác giả khai không có xung đột lợi ích.

Tổng quan Cochrane cũng có một phép gộp 2 nghiên cứu với 116 người: nút tai và/hoặc bịt mắt đi kèm tổng thời gian ngủ dài hơn 2,19 giờ (KTC 95% 0,41–3,96) (Hu và cs., 2015). Nhưng cùng tổng quan đó ghi rằng phần lớn nghiên cứu đo giấc ngủ bằng máy không thấy lợi ích. Hai thông tin kéo về hai hướng trong cùng một tài liệu.

RCT có PSG ở bệnh nhân ICU thật mà chúng tôi đọc được là của Demoule và cs., với 64 bệnh nhân, 32 người mỗi nhóm (Demoule và cs., 2017). Nút tai và bịt mắt được đeo từ 22 giờ đến 8 giờ. Kết cục chính là tỉ lệ giấc ngủ N3, và nó không tăng có ý nghĩa: 21% so với 11% (p = 0,09). Số lần thức kéo dài ít hơn, 21 so với 31 (p = 0,02). REM, hiệu quả giấc ngủ và vi thức giấc không khác. Có 9 trên 30 bệnh nhân nhóm can thiệp (30%) không đeo nút tai suốt đêm, chủ yếu vì khó chịu và lo âu. Phân tích hậu kiểm chỉ trên người tuân thủ cho N3 dài hơn, 74 so với 31 phút (p = 0,039). Nhưng đó không còn là so sánh ngẫu nhiên, vì người khoẻ hơn thường dễ đeo suốt đêm hơn. Chúng tôi chưa đọc được mục tài trợ của bài này.

NguồnQuần thểCách đo giấc ngủKết quả chính
Van Rompaey và cs., 2012136 bệnh nhân ICU, RCT không mù5 câu tự báo cáoTốt hơn sau đêm đầu (p = 0,042)
Karimi và cs., 202135 nghiên cứu, gộp cả không ngẫu nhiênRCSQ, PSQIRCSQ +11,46 điểm; I² = 88,7%
Hu và cs., 2015 (Cochrane)2 nghiên cứu, 116 ngườiGộp tổng thời gian ngủ+2,19 giờ; phần lớn đo bằng máy không thấy lợi ích
Karimi và cs., 2021, phần PSG3 nghiên cứu, người khoẻ, ICU mô phỏngPSG+25,4 phút ngủ; REM +4,66%; N3 không đổi
Hu và cs., 201014 người khoẻ, ICU mô phỏngPSGREM 12,9% so với 9,3%
Demoule và cs., 201764 bệnh nhân ICU, RCTPSGN3 21% so với 11%, p = 0,09; thức kéo dài ít hơn

Đọc theo cột thứ ba, bảng tách thành hai nửa. Kết quả dương tính rõ nhất đến từ thang tự báo cáo ở bệnh nhân không được làm mù, hoặc từ PSG ở người khoẻ trong ICU mô phỏng. Ở bệnh nhân nặng thật được đo bằng PSG, kết cục chính âm tính và gần một phần ba không đeo được suốt đêm. Lý do khả dĩ là cách đo, quần thể (người khoẻ so với bệnh nhân nặng) và tuân thủ thấp. Nút tai ngoài bệnh viện được bàn ở chương về nút tai, âm nền và kích thích âm.

Âm che#

Một hướng khác đã được thử là nâng mức nền để các đỉnh nhô lên ít hơn, thay vì chặn âm. Trong thực nghiệm của Stanchina và cs., người khoẻ ngủ ba điều kiện có PSG: nền, tiếng ồn ICU ghi âm, và tiếng ồn ICU cộng tiếng ồn trắng (Stanchina và cs., 2005). Chỉ số vi thức giấc là 13,3 lần mỗi giờ ở đêm nền, 48,4 ở đêm ồn ICU và 15,7 khi thêm tiếng ồn trắng. Mức chênh từ nền lên đỉnh gây vi thức giấc gần như bằng nhau ở hai đêm có ồn, 17,7 so với 17,5 dB (p = 0,65). Tác giả diễn giải rằng âm nền làm giảm số sự kiện vượt ngưỡng chênh lệch; đây là diễn giải, không phải số đo trực tiếp. Mẫu chỉ có 4 người làm đủ ba điều kiện, thêm 1 người làm hai điều kiện.

Ở bệnh nhân nằm viện, một tổng quan hệ thống chỉ công bố dạng tóm tắt hội nghị tìm được 7 RCT với 496 người lớn (Khandelwal và cs., 2025). Không gộp được vì dị biệt lớn về thời gian dùng âm che, và 8 người bỏ cuộc vì khó chịu hoặc không chấp nhận. Ở Đông Nam Á, một RCT tại ICU của 3 bệnh viện công ở Tây Java, Indonesia, với 50 bệnh nhân (25 người mỗi nhóm); nhóm can thiệp nghe tiếng ồn trắng 2 lần mỗi ngày trong 3 ngày (Nurhayati và cs., 2025). Điểm RCSQ cao hơn ở lần đo thứ ba, với hiệu ứng mức trung bình (Cohen's d = 0,42). Thử nghiệm không làm mù, kết cục là tự báo cáo, và tóm tắt không nêu mức dB.

Trẻ sinh non ở NICU#

Ở đơn vị hồi sức sơ sinh (neonatal intensive care unit, NICU), bằng chứng còn mỏng hơn. Tổng quan WHO 2018 về giấc ngủ ghi rằng dữ liệu trẻ em chủ yếu là các nghiên cứu bệnh viện nhỏ (Basner và McGuire, 2018). Ví dụ được dẫn là tương quan giữa mức ồn và trạng thái ngủ ở trẻ sơ sinh r = −0,20 (Corser, 1996), và trẻ sinh non giảm nhịp thở 10 lần mỗi phút khi ồn vượt nền 10 dBA (Kuhn).

Tổng quan Cochrane 2024 về quản lý tiếng ồn ở NICU chỉ tìm được 1 RCT với 34 trẻ sinh non hoặc cân nặng rất thấp, dùng nút tai silicon (Sibrecht và cs., 2024). Chỉ số phát triển trí tuệ Bayley II lúc 18–22 tháng cao hơn ở nhóm nút tai 14,00 điểm (KTC 95% 3,13–24,87). Nguy cơ bại não có RR 3,00 với khoảng tin cậy 0,15–61,74, tức gần như không cho thông tin. Mọi kết cục đều có độ chắc chắn GRADE rất thấp. Tác giả kết luận không thể rút ra kết luận và cần thử nghiệm lớn hơn có kết cục ngắn và dài hạn.

Tiếng ngáy của người nằm cạnh#

Tiếng ngáy là nguồn ồn gần tai nhất mà nhiều người phải chịu mỗi đêm. Trang tiếng ngáy của người ngủ cùng mô tả hiện tượng; ở đây chúng tôi chỉ xét số đo.

Sowho và cs. ghi âm một đêm ở 162 người ngáy thói quen, micro đặt 65 cm phía trên đầu giường (Sowho và cs., 2020). Mức đỉnh dB(A) được lấy từng nhịp thở. Tiếng ngáy vượt 45 dB(A) ở 66% người tham gia, và 14% vượt 53 dB(A), ngưỡng mà nhóm tác giả coi là ô nhiễm tiếng ồn. Ngưỡng 53 dB(A) là của tác giả, không phải của WHO. Cường độ và tần suất ngáy dự báo ngưng thở khi ngủ với diện tích dưới đường cong (area under the curve, AUC) 77% và 81%. Mẫu loại trừ người béo phì nặng và người thở hổn hển ban đêm.

Người nằm cạnh ở khoảng cách tương tự micro. Theo suy luận của chúng tôi SL, mức đỉnh trên 45 dB(A) ở hai phần ba người ngáy đã cao hơn LAmax trong phòng 42 dB mà WHO 2009 gắn với thức dậy trong đêm (WHO Văn phòng châu Âu, 2009). Phép so này chỉ gần đúng: đỉnh từng nhịp thở và LAmax của một sự kiện giao thông không cùng định nghĩa, và micro không đặt tại tai người nằm cạnh.

Về giấc ngủ của người nằm cạnh, nguồn chúng tôi đọc được là một bản tin thuật lại nghiên cứu Mayo Clinic năm 1999, chưa mở được bài gốc (ScienceDaily, 1999). Nghiên cứu ghi PSG đồng thời ở 10 cặp vợ chồng, người chồng nghi ngưng thở khi ngủ. Theo bản tin, 43% lần thức tỉnh của người vợ gắn với tiếng ngáy. Sau khi chồng dùng thiết bị thở áp lực dương qua mặt nạ, số lần thức tỉnh của vợ giảm 39% và hiệu quả giấc ngủ tăng từ 74% lên 87%. Mẫu rất nhỏ, không có nhóm chứng, và mức dB của tiếng ngáy không được nêu.

Một manh mối gián tiếp đến từ nghiên cứu HYENA quanh các sân bay châu Âu, với 140 người được đo huyết áp khi ngủ (Haralabidis và cs., 2008). Khi dùng LAmax thực của từng sự kiện, mức tăng huyết áp không khác hệ thống giữa máy bay, đường bộ và âm trong nhà, gồm cả tiếng ngáy. Tác giả cho rằng độ lớn tác động phụ thuộc mức âm chứ không phải nguồn. Theo suy luận của chúng tôi SL, nếu người được đo chính là người ngáy, tác động của âm trong nhà có thể bị ước tính quá mức vì rối loạn thở đi kèm.

Hàng xóm, sàn chung cư và công trình#

Khảo sát ở Anh#

Khảo sát Thái độ với Tiếng ồn Quốc gia Anh 1999–2001 phỏng vấn 2.876 người, tỉ lệ trả lời 63% (Grimwood và Skinner, khoảng 2002). 81% người trả lời nghe thấy ồn từ hàng xóm hoặc người xung quanh, và 36% bị làm phiền ở mức nào đó. Tỉ lệ này gần ngang ồn đường bộ (84% nghe, 40% bị phiền) và cao hơn ồn máy bay (20%) hay xây dựng (15%). Khảo sát đo khó chịu, không đo mức âm và không hỏi riêng giấc ngủ theo nguồn.

Một khảo sát Ipsos MORI năm 2007 hỏi thẳng về giấc ngủ, ở 2.138 người từ 15 tuổi tại 203 điểm lấy mẫu ở Anh (Ipsos MORI, 2007). 14% người lớn cho biết từng bị ồn của hàng xóm đánh thức, và 11% từng bị giữ thức. 9% bị phiền vì vật nuôi như chó, mèo, chim. Cứ 10 người thì 7 người bị phiền bởi ít nhất một nguồn ồn ở khu dân cư. Khảo sát do một tổ chức vận động môi trường đặt hàng, và kết cục là trải nghiệm tự báo cáo, không có số đo âm.

Ồn sàn chung cư ở Hàn Quốc#

Hàn Quốc có một tên riêng cho loại ồn này: ồn giữa các tầng căn hộ (inter-floor noise). Theo The Korea Herald, cảnh sát Hàn Quốc nhận 137.912 trình báo từ 2021 đến 2024; bài báo cũng nêu mức trung bình khoảng 160 vụ mỗi ngày, con số không khớp với tổng bốn năm nếu chia đều SL (Lee, 2025). Cũng theo bài báo, luật Hàn Quốc chấp nhận 39 dB ban ngày và 34 dB ban đêm. Con số luật do một giáo sư kiến trúc phát biểu, và bài không nêu chỉ số đo là LAeq một phút hay LAmax. Chúng tôi chưa đọc văn bản luật gốc.

Thực nghiệm sinh lý duy nhất chúng tôi tìm được là một nghiên cứu thí điểm ở 15 sinh viên, đo khi thức chứ không khi ngủ (Yun và cs., 2017). Người tham gia nghe 12 điều kiện ồn va chạm sàn, mỗi điều kiện khoảng 3 phút, ở mức 58,8–61,3 dBA khi có đệm cách âm. Nệm cách âm giảm ồn của máy gõ 3,9–7,3 dBA. Cortisol nước bọt khác nhau có ý nghĩa giữa các loại ồn (p = 0,003), còn cortisol nước tiểu thì không (p = 0,889). Kết quả này không cho phép suy ra tác động lên giấc ngủ.

Công trình xây dựng ở Singapore#

Singapore là một trong ít nơi có giới hạn ồn thi công ban đêm được viết thành bảng rõ ràng (NEA Singapore). Với công trình khởi công từ 1/10/2007 và cách nhà ở dưới 150 m, giới hạn từ thứ Hai đến thứ Bảy là 75 dBA Leq 12 giờ ban ngày và 65 dBA Leq 1 giờ buổi tối (19–22 giờ). Ban đêm (22–7 giờ), giới hạn là 55 dBA, tính cả theo Leq 1 giờ lẫn Leq 5 phút. Chủ nhật và ngày lễ không có giá trị ban đêm nào được liệt kê. Mức được đo ngoài nhà ở chịu ảnh hưởng. Để so sánh, QCVN 26:2010 của Việt Nam cho phép 55 dBA ban đêm ở khu thông thường cho mọi nguồn; quy chuẩn này đã được thay bằng QCVN 26:2025/BNNMT từ 14/11/2025, như trình bày ở chương về tiếng ồn ở Việt Nam và châu Á.

Theo trả lời chất vấn Quốc hội ngày 6/11/2025, phản ánh của cư dân về ồn thi công gửi Cơ quan Môi trường Quốc gia giảm từ khoảng 1.040 mỗi tháng (trung bình 2022) xuống khoảng 930 mỗi tháng (2024) (MSE Singapore, 2025). Phản ánh về ồn nhà máy ổn định quanh 30 mỗi tháng.

Ở quy mô lớn hơn, Trung Quốc ghi nhận khoảng 6,833 triệu khiếu nại tiếng ồn năm 2025 (Bộ Sinh thái và Môi trường Trung Quốc, 2026). Ồn sinh hoạt xã hội (hàng xóm, kinh doanh, giải trí) chiếm 73,2%, ồn thi công 20,8%, còn giao thông chỉ 3,5%. Khiếu nại phản ánh mức khó chịu và khả năng phản ánh, không phải mức phơi nhiễm. Chương về tiếng ồn ở Việt Nam và châu Á bàn kỹ hơn nguồn này.

NguồnNơiLoại dữ liệuCon số chínhCó đo giấc ngủ?
Grimwood và SkinnerAnh, 1999–2001Khảo sát khó chịuHàng xóm: 81% nghe, 36% bị phiềnKhông
Ipsos MORI, 2007AnhKhảo sát tự báo cáo14% từng bị hàng xóm đánh thứcTự báo cáo một câu
Lee, 2025Hàn QuốcSố trình báo cảnh sát137.912 vụ (2021–2024)Không
Yun và cs., 2017Hàn QuốcThí điểm khi thức, 15 ngườiCortisol nước bọt p = 0,003Không
NEA, MSE SingaporeSingaporeQuy định, số phản ánhĐêm 55 dBA; ≈ 930 phản ánh/tháng (2024)Không
Bộ Sinh thái và Môi trường Trung QuốcTrung Quốc, 2025Số khiếu nạiSinh hoạt xã hội 73,2%Không

Cột cuối của bảng gần như chỉ có chữ "không". Hàng xóm, sàn nhà và công trình là những nguồn bị phàn nàn nhiều nhất ở các nước có số liệu khiếu nại. Nhưng chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào đo mức âm của chúng trong phòng ngủ người bị ảnh hưởng rồi đo giấc ngủ cùng lúc SL. Trang karaoke hàng xóm bàn tình huống quen thuộc nhất ở Việt Nam.

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được số đo mức dB của karaoke hàng xóm, chó sủa hay công trình đêm đo trong phòng ngủ của người bị ảnh hưởng ở Việt Nam hoặc châu Á; báo chí chỉ nêu ngưỡng luật.
  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu đo giấc ngủ bằng PSG hay actigraphy ở người nằm cạnh người ngáy có kèm số đo dB tại tai; nghiên cứu Mayo Clinic chỉ đọc được qua bản tin và không nêu mức âm.
  • Không mở được bài gốc Yoder 2012 về ồn và actigraphy ở bệnh nhân nội trú; báo cáo Busch-Vishniac 2005 chỉ đọc được bản phổ thông.
  • Chưa đọc được mục tài trợ của Demoule 2017, Stanchina 2005 và Persson Waye 2013.
  • Thử nghiệm duy nhất có PSG ở bệnh nhân ICU thật mà chúng tôi đọc được có 64 người và kết cục chính âm tính; phần PSG trong phân tích gộp đến từ người khoẻ trong ICU mô phỏng.
  • Ở Đông Nam Á, chúng tôi chỉ tìm được RCT tiếng ồn trắng ở ICU tại Indonesia, với kết cục tự báo cáo; chưa tìm được nghiên cứu nào ở Việt Nam về nút tai, bịt mắt hay âm che trong bệnh viện.
  • Ở NICU, toàn bộ bằng chứng về nút tai là 1 RCT với 34 trẻ, độ chắc chắn rất thấp.

Viết tắt trong trang

EEG
điện não đồ (electroencephalography)
HR
tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
RR
nguy cơ tương đối (relative risk)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Bệnh viện, hàng xóm và tiếng ngáy. Trong: Tập 11 — Tiếng ồn và giấc ngủ: thức giấc, tim mạch, khảo sát dân số và các biện pháp giảm ồn. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/tieng-on-va-giac-ngu/benh-vien-hang-xom-va-tieng-ngay/