Chương này hỏi: các bệnh đi kèm tiếng ồn giao thông, như tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, tử vong tim mạch, đái tháo đường và trầm cảm, có đi qua giấc ngủ hay không? Liên quan giữa ồn và các bệnh này xuất hiện trong nhiều thuần tập lớn, nhưng nhỏ, thường vài phần trăm mỗi 10 dB, và phần lớn dùng Lden cả ngày tính tại địa chỉ nhà. Hầu như không nghiên cứu dịch tễ nào đo giấc ngủ, và chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào định lượng phần liên quan đi qua giấc ngủ đo khách quan. Trong các mô hình gánh nặng bệnh tật, rối loạn giấc ngủ lại là phần lớn nhất hoặc gần lớn nhất, nhưng tỉ trọng đó phụ thuộc một trọng số khuyết tật do chuyên gia chọn. Các nghiên cứu đo cả tự báo cáo lẫn khách quan trên cùng quần thể cho thấy hai thước đo đi theo hai con đường khác nhau.
Giả thuyết đi qua giấc ngủ và cách kiểm#
Mô hình thường được nêu là: ồn ban đêm làm xáo trộn giấc ngủ, rồi xáo trộn lặp lại hằng đêm góp phần vào bệnh tim mạch và chuyển hoá. SL Để kiểm giả thuyết này cần ba thứ: phơi nhiễm ban đêm tách khỏi ban ngày, giấc ngủ đo khách quan, và phân tích trung gian chính thức. Rất ít nghiên cứu có đủ cả ba.
Phần lớn bằng chứng dịch tễ dùng Lden, mức tương đương cả ngày có cộng thêm trọng số cho buổi tối và ban đêm, ước tính bằng mô hình tại địa chỉ nhà. Lnight là mức tương đương riêng cho khoảng đêm, trang Lnight ngoài nhà giải thích cách tính. Tổng quan cho Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO) năm 2018 về bệnh tim mạch không phân tích riêng Lnight (van Kempen và cs., 2018). SL Vì Lnight và Lden của cùng một con đường thường đi cùng nhau, các nghiên cứu này không tách được vai trò của ồn ban đêm.
Thực nghiệm ngắn hạn cho một hướng khác. Gộp bốn thử nghiệm chéo ngẫu nhiên mù đôi tại nhà ở Mainz (Đức), 275 người ngủ một đêm với 60 sự kiện ồn máy bay hoặc tàu hoả phát qua loa cạnh giường (Hahad và cs., 2023). So với đêm đối chứng, giãn mạch qua trung gian dòng chảy (flow-mediated dilation, FMD) giảm 2,00 điểm phần trăm và huyết áp động mạch trung bình tăng 2,50 mmHg. Giấc ngủ chỉ được đo bằng thang tự đánh giá, không có đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG), và không có phân tích trung gian.
Ở Basel, 26 người trẻ khoẻ ngủ trong phòng thí nghiệm với ồn đường bộ và đường sắt LAeq 45 dB (Thiesse và cs., 2020). Cấu trúc giấc ngủ trên PSG và huyết áp không đổi có ý nghĩa. Cortisol buổi tối hôm sau tăng sau đêm ồn đường bộ gián đoạn cao, và mức tăng tương quan với tổng thời gian thức tỉnh thực vật tích luỹ (r = 0,64). SL Nếu có một con đường qua giấc ngủ, nó có thể đi qua các thức tỉnh thực vật dưới ngưỡng PSG cổ điển hơn là qua mất ngủ mà người ngủ nhận ra. Chi tiết nằm ở chương về tim mạch khi ngủ và quen dần.
Tăng huyết áp, bệnh tim và tử vong tim mạch#
Nghiên cứu HYENA khảo sát 4.861 người 45–70 tuổi đã sống ít nhất 5 năm gần các sân bay lớn châu Âu (Jarup và cs., 2008). Huyết áp được đo tại nhà, phơi nhiễm ước tính bằng mô hình. Mỗi 10 dB Lnight máy bay đi kèm tỉ số chênh (odds ratio, OR) tăng huyết áp 1,14 (KTC 95% 1,01–1,29), sau hiệu chỉnh kinh tế xã hội, lối sống, chế độ ăn và vận động. Với ồn đường bộ (LAeq,24h), nam giới ở nhóm trên 65 dB có OR 1,54 (KTC 95% 0,99–2,40). Giấc ngủ không được đo; nó là cơ chế giả định.
Tổng quan cho WHO 2018 trích xuất 61 nghiên cứu (van Kempen và cs., 2018). Mỗi 10 dB Lden ồn đường bộ đi kèm nguy cơ tương đối (relative risk, RR) mắc mới bệnh tim thiếu máu cục bộ 1,08 (KTC 95% 1,01–1,15), từ 7 nghiên cứu dọc, với chất lượng bằng chứng "cao". Với tăng huyết áp, RR đường bộ là 1,05 (1,02–1,08), chất lượng "rất thấp" vì chủ yếu là nghiên cứu cắt ngang. Với máy bay, RR 1,05 có KTC 95% 0,95–1,17. Đột quỵ (RR 1,14) và đái tháo đường (RR 1,08) mỗi kết cục chỉ dựa trên một thuần tập, chất lượng "thấp". Tổng quan do Văn phòng châu Âu của WHO tài trợ.
Một phân tích gộp năm 2015 trên 10 nghiên cứu cho RR bệnh tim thiếu máu cục bộ 1,06 (KTC 95% 1,03–1,09) mỗi 10 dB, với quan hệ tuyến tính bắt đầu từ khoảng 50 dB (Vienneau và cs., 2015). Chỉ 4 nghiên cứu hiệu chỉnh ô nhiễm không khí, và hiệu chỉnh không làm yếu đáng kể liên quan. Một phân tích gộp khác gồm 32 nghiên cứu với 264.678 người cho OR tăng huyết áp 1,06 (KTC 95% 1,04–1,08) mỗi 10 dB(A), I² 79,4% (Fu và cs., 2017). Phân tích này trộn ồn nghề nghiệp ban ngày với ồn môi trường và có dấu hiệu sai lệch xuất bản (Egger p < 0,001). Chúng tôi chỉ đọc được bản thảo đã sửa, không phải bản in.
Trong UK Biobank, hơn 240.000 người chưa tăng huyết áp được theo dõi trung vị 8,1 năm, ghi nhận 21.140 ca mới (Huang và cs., 2023). Mỗi 10 dB(A) Lden đường bộ đi kèm tỉ số nguy cơ (hazard ratio, HR) 1,07 (KTC 95% 1,02–1,13), vững sau hiệu chỉnh PM2.5 và NO₂. Nguy cơ cao nhất khi cả ồn lẫn ô nhiễm không khí đều cao.
Thuần tập quốc gia Thuỵ Sĩ liên kết điều tra dân số với sổ tử vong cho 4,41 triệu người trên 30 tuổi (Héritier và cs., 2017). Mỗi 10 dB Lden đi kèm HR tử vong do nhồi máu cơ tim 1,038 với đường bộ, 1,018 với đường sắt và 1,026 với máy bay, có hiệu chỉnh NO₂ và kinh tế xã hội. Chỉ số gián đoạn ban đêm (intermittency ratio, IR) cho một quan hệ không đơn điệu. Với tử vong tim mạch, ngũ phân vị thứ ba và thứ tư có HR 1,019 và 1,021, còn các ngũ phân vị còn lại không có ý nghĩa.
Nghiên cứu ca–chéo quanh sân bay Zürich gần nhất với câu hỏi về biến cố cấp (Saucy và cs., 2021). Có 24.886 ca tử vong tim mạch (7.641 ca ban đêm) giai đoạn 2000–2015, mỗi ca được so với chính người đó ở các ngày đối chứng. Mức ồn được tính từ dữ liệu chuyến bay thực tại nơi ở, trong 2 giờ trước khi chết. Nhóm có LAeq trên 50 dB có OR tử vong tim mạch ban đêm 1,44 (KTC 95% 1,03–2,04) so với nhóm dưới 20 dB.
Liên quan rõ ở nữ (OR 1,13 mỗi 10 dB) nhưng không ở nam (OR 0,98) (Saucy và cs., 2021). Nếu giả định nhân quả, khoảng 3% (≈ 782) số ca được quy cho ồn máy bay. Thiết kế tự kiểm soát các yếu tố cá nhân cố định như thu nhập và hút thuốc, nhưng giấc ngủ không được đo. Nghiên cứu do Quỹ Khoa học Quốc gia Thuỵ Sĩ tài trợ. Sân bay cung cấp dữ liệu chuyến bay, và hai tác giả có làm tính toán cho sân bay ngoài công trình này.
Ở London, một nghiên cứu sinh thái trên 8,6 triệu cư dân thấy ồn ban đêm 55–60 dB đi kèm tăng 5% nguy cơ đột quỵ, chỉ ở người cao tuổi (Halonen và cs., 2015). Chúng tôi chỉ đọc thông cáo của Imperial College London, và thông cáo không nêu rõ nhóm so sánh cho con số này. Hiệu chỉnh chỉ ở cấp khu vực.
| Kết cục | Nghiên cứu | Thiết kế | Chỉ số ồn, vị trí | Ước tính | Đo giấc ngủ |
|---|---|---|---|---|---|
| Tăng huyết áp | HYENA | Cắt ngang, 4.861 người | Lnight máy bay, mô hình tại nhà | OR 1,14 (1,01–1,29)/10 dB | Không |
| Tăng huyết áp | Tổng quan WHO 2018 | Phân tích gộp | Lden đường bộ | RR 1,05 (1,02–1,08)/10 dB | Không |
| Tăng huyết áp | UK Biobank | Thuần tập | Lden đường bộ tại địa chỉ | HR 1,07 (1,02–1,13)/10 dB(A) | Không |
| Bệnh tim thiếu máu cục bộ | Tổng quan WHO 2018 | 7 nghiên cứu dọc | Lden đường bộ | RR 1,08 (1,01–1,15)/10 dB | Không |
| Tử vong do nhồi máu cơ tim | Thuỵ Sĩ toàn quốc | Thuần tập, 4,41 triệu người | Lden tại địa chỉ | HR 1,038 (đường bộ)/10 dB | Không |
| Tử vong tim mạch ban đêm | Zürich | Ca–chéo, 24.886 ca | LAeq máy bay 2 giờ trước tử vong | OR 1,44 (trên 50 so với dưới 20 dB) | Không |
| Đái tháo đường mắc mới | SAPALDIA | Thuần tập, 2.631 người | Lden đường bộ | RR 1,35 (1,02–1,78)/khoảng 10 dB | Chỉ tự báo cáo, như yếu tố biến đổi |
Ba con số về tăng huyết áp và ồn ban đêm hoặc ồn máy bay không khớp nhau. HYENA cho OR 1,14 mỗi 10 dB Lnight. Tổng quan WHO cho RR 1,05 mỗi 10 dB Lden, với khoảng tin cậy chứa 1. Phân nhóm hai nghiên cứu chỉ dùng ồn ban đêm trong phân tích gộp của Fu và cs. cho OR 1,344, nhưng không rõ theo thang nào. SL Một giả thuyết chưa được kiểm định là quy đổi mọi chỉ số về Lden làm loãng tín hiệu ban đêm. Dị biệt giữa các nghiên cứu cắt ngang và giữa các nước trong chính HYENA cũng là lý do khả dĩ.
Đái tháo đường, trầm cảm và thuốc#
Trong thuần tập SAPALDIA ở Thuỵ Sĩ (2.631 người không chuyển nhà, 2002–2011), ồn đường bộ Lden đi kèm RR đái tháo đường mắc mới 1,35 (KTC 95% 1,02–1,78) mỗi khoảng tứ phân vị, tương đương khoảng 10 dB (Eze và cs., 2017). Liên quan độc lập với NO₂. Liên quan mạnh hơn ở người báo cáo ngủ kém hoặc ngủ mở cửa sổ. Đây là biến đổi hiệu ứng (effect modification): nó gợi ý nhưng không chứng minh giấc ngủ là trung gian, vì không có phân tích trung gian chính thức.
Cũng ở SAPALDIA, mỗi 10 dB Lnight đường bộ đi kèm hemoglobin glycat hoá (HbA1c) tăng trung bình 0,02 điểm phần trăm sau 8 năm, trên 3.350 người (Eze và cs., 2017). Liên quan bị biến đổi bởi điểm nguy cơ di truyền gồm sáu biến thể của gen thụ thể melatonin MTNR1B ở người đái tháo đường. Mức thay đổi rất nhỏ về lâm sàng. Con đường nhịp sinh học là giả thuyết của tác giả, và giấc ngủ không được đo.
Với trầm cảm, SAPALDIA cho câu trả lời khác (Eze và cs., 2020). Trên 4.581 người không trầm cảm lúc đầu, tỉ lệ mắc là 11 trên 1.000 người-năm. Ồn giao thông liên quan với trầm cảm mắc mới chủ yếu qua con đường gián tiếp của khó chịu vì ồn. Buồn ngủ ban ngày chỉ là yếu tố biến đổi hiệu ứng của khó chịu, không được kiểm định là trung gian.
Trong HYENA, ồn máy bay đi kèm tăng dùng thuốc chống lo âu, cả ban ngày (OR 1,28) lẫn ban đêm (OR 1,27; KTC 95% 1,01–1,59) mỗi 10 dB (Floud và cs., 2011). Việc dùng thuốc là tự báo cáo trong phỏng vấn, và tóm tắt không báo OR cho thuốc ngủ. Ồn máy bay ban đêm đi kèm tăng dùng thuốc hạ áp ở Anh (OR 1,34) và Hà Lan (OR 1,19) nhưng không ở các nước khác. Bài về thuốc mô tả mẫu ở bảy sân bay, còn bài về huyết áp ghi sáu sân bay.
Tổng quan cho WHO 2018 về chất lượng cuộc sống và sức khoẻ tâm thần (29 nghiên cứu) đi tới kết luận khác (Clark và Paunovic, 2018). Với bằng chứng chất lượng rất thấp, ồn đường bộ không có tác động đáng kể lên việc dùng thuốc chống lo âu, thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm hay lên trầm cảm và lo âu tự báo cáo. Phần thuốc chỉ có 3 nghiên cứu. Tổng quan dùng nghiên cứu đến khoảng 2015, trước khi Cơ quan Môi trường Liên bang Đức (UBA) đánh giá nghiên cứu NORAH quanh sân bay Frankfurt (UBA, 2016). UBA nêu rủi ro trầm cảm đơn cực tăng rõ nhất trong các bệnh được khảo sát; chúng tôi không mở được toàn văn NORAH để kiểm con số.
SL Khác biệt giữa các nguồn có thể do loại ồn (máy bay so với đường bộ), cách đo thuốc (tự báo cáo so với sổ kê đơn) và thời điểm tổng quan.
Tự báo cáo và đo khách quan trên cùng quần thể#
Một nghiên cứu ở Basel đặt hai thước đo cạnh nhau rõ nhất (Frei và cs., 2014). Thuần tập dân số gồm 1.375 người trả lời bảng hỏi, kèm một nghiên cứu lồng ghép dùng đồng hồ vận động cổ tay (actigraphy) ở 119 người trong 1.551 đêm. Chất lượng ngủ tự báo cáo liên quan mạnh với mức khó chịu vì ồn (p xu hướng < 0,001). Hiệu quả giấc ngủ trên actigraphy không liên quan với khó chịu (p = 0,25) nhưng liên quan với mức ồn đường bộ ban đêm mô hình hoá (p = 0,02).
Ở Oslo, cùng một quần thể cho hai kết quả khác nhau tuỳ thước đo. Trong 13.019 người lớn của nghiên cứu HELMILO, mỗi 5 dB Lnight đường bộ tại địa chỉ nhà đi kèm OR khó vào giấc 1,05 (1,01–1,09) và thức dậy quá sớm 1,06 (1,02–1,11), theo bảng hỏi (Evandt và cs., 2017). Hiệu ứng nhỏ, và phơi nhiễm tính tại địa chỉ chứ không tại phòng ngủ. Tóm tắt không nêu có hiệu chỉnh ô nhiễm không khí hay không.
Ở 12.066 người cùng nghiên cứu, Lnight không liên quan với việc lĩnh thuốc ngủ theo Cơ sở dữ liệu Kê đơn Na Uy (OR 1,00; 0,96–1,04 mỗi 5 dB) (Evandt và cs., 2017). Chỉ vào mùa hè, ở người ngủ mở cửa sổ phòng ngủ, mới có liên quan giáp ranh (OR 1,06; 1,00–1,12). Phân tích hiệu chỉnh thu nhập, học vấn và ồn đường sắt, nhưng không hiệu chỉnh ô nhiễm không khí. Nghiên cứu do Hội đồng Nghiên cứu Na Uy tài trợ.
SL Ba thước đo này nắm ba thứ khác nhau. Tự báo cáo nhiễm yếu tố tâm lý như khó chịu và quy kết nguyên nhân. Thuốc ngủ thực lĩnh phụ thuộc hành vi đi khám. Actigraphy nhạy với cử động nhưng không thấy các thức tỉnh ngắn. Chương về khảo sát và ngưỡng WHO cho thấy cùng mẫu hình ở cấp tổng quan: câu hỏi có nhắc tiếng ồn cho liên quan mạnh hơn nhiều. Trang cách đo giấc ngủ so sánh các công cụ này.
Ở trẻ em, khác biệt giữa đo khách quan và lời kể của cha mẹ còn rõ hơn. Một nghiên cứu gộp hai thuần tập sinh ở Hà Lan (1.245 trẻ) và Tây Ban Nha (232 trẻ), tuổi trung bình 12,3 (Pérez-Crespo và cs., 2023). Mỗi 10 dB Lden đường bộ đi kèm tổng thời gian ngủ (total sleep time, TST) trên actigraphy ngắn hơn 3,62 phút. Thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO) dài hơn 6,88 phút (KTC 95% 1,15–12,61). Rối loạn giấc ngủ do mẹ báo cáo thì không đi kèm mức ồn. Chúng tôi chưa đọc được danh sách biến hiệu chỉnh, nên chưa biết nghiên cứu có hiệu chỉnh ô nhiễm không khí hay không.
Ở 2.665 trẻ 7 tuổi tại Oslo (thuần tập MoBa), ồn đường bộ ban đêm không liên quan với thời lượng ngủ do cha mẹ báo cáo (OR 1,05; 0,94–1,17 mỗi 10 dB) (Weyde và cs., 2017). Ở bé gái có liên quan với ngủ ngắn (OR 1,21; 1,04–1,41), ở bé trai thì không. Chỉ 76 trẻ có vấn đề giấc ngủ, nên khoảng tin cậy rộng. Kết quả theo giới dễ là ngẫu nhiên do so sánh nhiều lần.
Trong thuần tập HERMES ở Thuỵ Sĩ (khoảng 887 học sinh, tuổi trung bình 14,0; nguồn là bài hội nghị), Lnight đi kèm điểm rối loạn giấc ngủ tự báo cáo cao hơn lúc ban đầu, nhưng không còn ý nghĩa sau một năm (Sandoval-Diez và cs., 2023). Có 24,8% học sinh sống ở nơi có Lnight ≥ 50 dB. Ở 474 học sinh tiểu học tại Seoul và Ulsan, ồn đường bộ không liên quan với tổng điểm giấc ngủ do cha mẹ báo cáo (Lee và cs., 2021). Ở 194 trẻ có dữ liệu ồn máy bay, nhóm ồn cao có điểm thức giấc ban đêm cao hơn (p = 0,047), một giá trị sát 0,05 trong nhiều so sánh.
| Nghiên cứu | Tuổi, cỡ mẫu | Cách đo giấc ngủ | Kết quả |
|---|---|---|---|
| Generation R và INMA-Sabadell | Khoảng 12 tuổi; 1.245 + 232 trẻ | Actigraphy 7 ngày | TST −3,62 phút; WASO +6,88 phút mỗi 10 dB Lden |
| Như trên | Như trên | Mẹ trả lời bảng hỏi | Không liên quan |
| MoBa, Oslo | 7 tuổi; 2.665 trẻ | Cha mẹ báo cáo | Chung OR 1,05 (0,94–1,17); bé gái OR 1,21 (1,04–1,41) |
| HERMES, Thuỵ Sĩ | Khoảng 14 tuổi; 887 học sinh | Tự báo cáo | +0,24 điểm (thang 0–12) mỗi khoảng tứ phân vị Lnight lúc đầu; +0,07 (không ý nghĩa) sau một năm |
| Seoul và Ulsan | Khoảng 10 tuổi; 474 trẻ | Cha mẹ báo cáo | Đường bộ p = 0,164; máy bay, thức giấc đêm p = 0,047 |
Bằng chứng ở trẻ em vì thế yếu và không nhất quán. Hầu hết dựa trên lời kể của cha mẹ hoặc tự báo cáo, với phơi nhiễm mô hình ở mặt tiền ồn nhất. Nghiên cứu duy nhất có actigraphy lại thấy tín hiệu mà bảng hỏi bỏ sót. Một giải thích khả dĩ là cha mẹ không nhận ra những lần thức ngắn của con.
Gánh nặng bệnh tật và phần của giấc ngủ#
Ước tính của WHO và Trung tâm Nghiên cứu Chung của Uỷ ban châu Âu (Joint Research Centre, JRC) năm 2011 cho EU và Tây Âu tính bằng năm sống điều chỉnh theo khuyết tật (disability-adjusted life years, DALY) (WHO và JRC, 2011). Mỗi năm, ồn môi trường làm mất 903.000 DALY do rối loạn giấc ngủ, 587.000 do khó chịu và 61.000 do bệnh tim thiếu máu cục bộ. Rối loạn giấc ngủ là phần lớn nhất. Trọng số khuyết tật cho rối loạn giấc ngủ do nhóm chuyên gia chọn, và đổi trọng số làm đổi mạnh kết quả.
Bản đánh giá của Cơ quan Môi trường châu Âu (European Environment Agency, EEA) năm 2020 ước tính 6,5 triệu người châu Âu bị rối loạn giấc ngủ nặng kéo dài và 12.000 ca tử vong sớm mỗi năm (EEA, 2020). Trong phần năm sống với khuyết tật (years lived with disability, YLD), rối loạn giấc ngủ nặng chiếm 20–55% tuỳ nguồn ồn và trọng số khuyết tật. EEA dùng trọng số thận trọng 0,0175 cho rối loạn giấc ngủ nặng, trong khi WHO 2018 dùng 0,07. Chính lựa chọn này quyết định giấc ngủ chiếm một phần năm hay hơn một nửa phần YLD, và EEA ghi rằng các trọng số đang được xem lại.
Báo cáo EEA 2025 dùng dữ liệu vòng báo cáo 2022 theo Chỉ thị Tiếng ồn Môi trường (Environmental Noise Directive, END) (EEA, 2025). Theo bản đính chính đưa lên trực tuyến ngày 27/3/2026, khoảng 4,6 triệu người bị rối loạn giấc ngủ nặng kéo dài vì ồn giao thông. Phơi nhiễm lâu dài được ước tính góp phần vào 73.000 ca tử vong sớm, khoảng 49.000 ca bệnh tim mạch mới và 23.000 ca đái tháo đường típ 2 mỗi năm. Bản gốc ngày 24/6/2025 ghi 66.000 tử vong sớm; EEA nói đính chính không đổi kết luận.
Với trẻ em, bản đính chính ước tính khoảng 115.000 trẻ có vấn đề hành vi liên quan ồn giao thông, trong khi thông cáo gốc ghi 63.000 (EEA, 2025). EEA không nêu giấc ngủ là trung gian cho các hậu quả ở trẻ. Mọi con số này dựa trên bản đồ ồn theo END, với ngưỡng báo cáo Lden 55 dB và Lnight 50 dB, cao hơn mức khuyến nghị WHO 2018 (EEA, 2020). Số người phơi nhiễm vì thế bị đánh giá thấp.
| Ước tính | Phạm vi | Rối loạn giấc ngủ | Tim mạch | Tử vong sớm |
|---|---|---|---|---|
| WHO và JRC 2011 | EU và Tây Âu | 903.000 DALY/năm | 61.000 DALY/năm (bệnh tim thiếu máu cục bộ) | — |
| EEA 2020 | Dân số được lập bản đồ | 6,5 triệu người | 48.000 ca bệnh tim mới | 12.000 |
| EEA 2025, bản đính chính 3/2026 | Dân số được lập bản đồ | 4,6 triệu người | khoảng 49.000 ca mới | 73.000 |
Giữa hai bản EEA, số người rối loạn giấc ngủ nặng giảm từ 6,5 xuống 4,6 triệu, còn số tử vong sớm tăng khoảng sáu lần. Thay đổi phơi nhiễm khó giải thích điều này, vì số người khó chịu nhiều chỉ giảm khoảng 3% từ 2017 đến 2022. Nguyên nhân khả dĩ là đổi hàm phơi nhiễm–đáp ứng và tập kết cục, thêm đái tháo đường và tử vong tim mạch theo các nghiên cứu mới. Chúng tôi không ghép số của hai bản, và khi trích EEA 2025 thì ghi là bản đính chính 3/2026.
SL Phần của giấc ngủ trong gánh nặng bệnh tật đến từ %HSD, tức chính thước đo tự báo cáo nhạy với cách đặt câu hỏi. Các con số tim mạch và tử vong đến từ hàm phơi nhiễm–đáp ứng theo Lden, không qua giấc ngủ. Hai phần được cộng trong DALY nhưng chưa được nối với nhau bằng một con đường đã đo.
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được phân tích trung gian định lượng (tỉ lệ được trung gian) qua giấc ngủ đo khách quan cho liên quan ồn–tim mạch hay ồn–chuyển hoá.
- Câu hỏi "ồn ban đêm có đặc biệt hại không" chưa được trả lời bằng một phân tích gộp tăng huyết áp có Lnight riêng.
- Chúng tôi không mở được toàn văn NORAH để kiểm kết quả về trầm cảm và thức giấc trước, sau lệnh cấm bay đêm Frankfurt.
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào ở Việt Nam đo giấc ngủ khách quan liên quan tiếng ồn giao thông, karaoke hay sân bay; dữ liệu Việt Nam đọc được chỉ là khó chịu hoặc mất ngủ tự báo cáo.
- EEA đã đính chính các ước tính sức khoẻ năm 2025; con số cần được kiểm lại trên bản đính chính trước khi trích.
- Phân tích gộp của Fu và cs. được đọc từ bản thảo, có ô lỗi trong bảng; tập, trang của một số bài cần kiểm lại trên Crossref.
Viết tắt trong trang
- HR
- tỉ số nguy cơ theo thời gian (hazard ratio)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- RR
- nguy cơ tương đối (relative risk)
- TST
- tổng thời gian ngủ (total sleep time)
- WASO
- thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Tiếng ồn đêm và sức khoẻ: vai trò của giấc ngủ. Trong: Tập 11 — Tiếng ồn và giấc ngủ: thức giấc, tim mạch, khảo sát dân số và các biện pháp giảm ồn. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/tieng-on-va-giac-ngu/tieng-on-dem-va-suc-khoe/