Chương này hỏi: ở cấp dân số, tiếng ồn ban đêm đi kèm bao nhiêu người tự nhận mình ngủ rất kém, và các ngưỡng của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO) được dựng từ những con số nào? Câu trả lời đến chủ yếu từ khảo sát cắt ngang, với mức ồn ước tính tại mặt tiền nhà chứ không đo trong phòng ngủ. Kết luận chính là độ lớn của liên quan phụ thuộc mạnh vào cách đặt câu hỏi: khi câu hỏi nhắc tới tiếng ồn, liên quan mạnh hơn nhiều so với khi không nhắc. SL Các mức Lnight 45, 44 và 40 dB của WHO 2018 dựa trên thước đo mà chính tác giả tổng quan cho là có thể pha lẫn sự khó chịu đó, và dữ liệu Leipzig và Nhật Bản lệch khỏi đường WHO theo cả hai chiều, còn Hồng Kông hơi thấp hơn đường Miedema–Vos của châu Âu. Với điện gió, các nghiên cứu đo giấc ngủ khách quan hầu như không thấy tác động, dù sự khó chịu tăng theo mức ồn.
Khảo sát tự báo cáo đo gì và đo ở đâu#
Ba loại kết cục cần được tách ngay từ đầu. Khó chịu vì ồn (annoyance) là thái độ của người dân đối với một nguồn âm. Rối loạn giấc ngủ tự báo cáo là câu trả lời của họ về giấc ngủ của chính mình. Phản ứng đo được, như thức giấc trên điện não đồ (electroencephalography, EEG), được bàn ở chương về thức giấc trên điện não và trang tiếng ồn và thức giấc.
Chương này bàn loại thứ hai, được tóm thành tỉ lệ người bị rối loạn giấc ngủ nặng tự báo cáo (highly sleep disturbed, %HSD). Chỉ số phơi nhiễm chính là Lnight, mức âm tương đương trọng số A trong khoảng đêm, tính ngoài nhà. Lden là mức tương đương cả ngày có cộng thêm trọng số cho buổi tối và ban đêm.
Tổng quan làm nền cho Hướng dẫn tiếng ồn môi trường WHO 2018 gồm 74 nghiên cứu ngoài phòng thí nghiệm, phần lớn thực hiện trong giai đoạn 2000–2015 (Basner và McGuire, 2018). Phân tích gộp phần tự báo cáo dùng dữ liệu của 30 khảo sát, với Lnight đo hoặc ước tính tại mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất, không phải tại phòng ngủ. Theo hệ thống chấm bằng chứng GRADE, mức chắc chắn là trung bình cho rối loạn giấc ngủ tự báo cáo do giao thông khi câu hỏi có nhắc tiếng ồn. Mức này cũng là trung bình cho thức giấc vỏ não, thấp cho đo cử động và rất thấp cho mọi nguồn và kết cục khác.
Bản cập nhật năm 2022 thêm 11 nghiên cứu mới vào 25 nghiên cứu cũ, thành 36 nghiên cứu (Smith và cs., 2022). Phần mới có khoảng 109.070 câu trả lời, phần gốc có 64.090; ở một chỗ khác của bài, con số đầu hiển thị thành 106.882. Một số chỉ số phơi nhiễm được quy đổi sang Lnight bằng công thức giả định. Bản cập nhật không xét đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) hay kết cục khách quan nào.
Câu hỏi có nhắc tiếng ồn hay không#
Rối loạn giấc ngủ được hỏi theo hai kiểu. Kiểu thứ nhất hỏi tiếng ồn từ một nguồn cụ thể làm giấc ngủ bị xáo trộn tới mức nào. Kiểu thứ hai hỏi về giấc ngủ nói chung mà không nhắc tới tiếng ồn.
Với câu hỏi có nhắc tiếng ồn, tổng quan WHO 2018 cho mỗi 10 dB Lnight một tỉ số chênh (odds ratio, OR) của %HSD là 1,94 với máy bay, 2,13 với đường bộ và 3,06 với đường sắt (Basner và McGuire, 2018). Dị biệt giữa các khảo sát cao, với I² 84% cho đường bộ và máy bay, 88% cho đường sắt. Khi câu hỏi không nhắc tiếng ồn, cả ba OR co lại gần 1 và không còn ý nghĩa thống kê.
Bản cập nhật 2022 lặp lại khuôn mẫu này (Smith và cs., 2022). Câu hỏi có nhắc tiếng ồn cho OR 2,18 với máy bay, 2,52 với đường bộ và 2,97 với đường sắt. Câu hỏi không nhắc tiếng ồn cho OR nhỏ hơn nhiều, với chất lượng bằng chứng thấp đến rất thấp. Điểm mới là OR máy bay của câu hỏi không nhắc ồn nay có ý nghĩa (1,52; KTC 95% 1,20–1,93), trong khi năm 2018 là 1,17 và không có ý nghĩa.
Hình 1. Cùng mức ồn, hai cách hỏi, hai kết quả rất khác nhau
- Câu hỏi có nhắc tiếng ồn: OR 1,94 (máy bay), 2,13 (đường bộ), 3,06 (đường sắt) trong tổng quan WHO 2018 (Basner và McGuire); 2,18, 2,52 và 2,97 trong bản cập nhật 2022 (Smith và cs.).
- Câu hỏi không nhắc tiếng ồn: 1,17, 1,09 và 1,27, không có ý nghĩa thống kê; 1,52, 1,14 và 1,17 năm 2022, chất lượng bằng chứng thấp đến rất thấp.
Biểu đồ số liệu; chấm là ước lượng, gạch ngang là khoảng tin cậy 95%, vạch đậm là OR = 1.
| Nguồn | 2018, có nhắc ồn | 2018, không nhắc | 2022, có nhắc ồn | 2022, không nhắc |
|---|---|---|---|---|
| Máy bay | 1,94 (1,61–2,3) | 1,17 (0,54–2,53) | 2,18 (2,01–2,36) | 1,52 (1,20–1,93) |
| Đường bộ | 2,13 (1,82–2,48) | 1,09 (0,94–1,27) | 2,52 (2,28–2,79) | 1,14 (1,08–1,21) |
| Đường sắt | 3,06 (2,38–3,93) | 1,27 (0,89–1,81) | 2,97 (2,57–3,43) | 1,17 (0,91–1,49) |
OR của %HSD mỗi 10 dB Lnight ngoài nhà, kèm KTC 95%. Giá trị đường bộ 2022, câu không nhắc ồn, có chỗ hiển thị 1,15.
Các tác giả tổng quan 2018 gợi ý rằng câu hỏi có nhắc tiếng ồn đo một phần cả sự khó chịu (Basner và McGuire, 2018). Người trả lời không chỉ kể về giấc ngủ mà còn quy kết nguyên nhân cho một nguồn họ vốn thấy phiền. Số nghiên cứu khác nhau giữa hai lần tổng quan có thể giải thích vì sao OR máy bay của câu không nhắc ồn đổi từ không có ý nghĩa sang có ý nghĩa.
Một nghiên cứu ở Basel cho thấy sự tách biệt này trên cùng một nhóm người (Frei và cs., 2014). Chất lượng ngủ tự báo cáo đi theo mức khó chịu vì ồn. Hiệu quả giấc ngủ đo bằng đồng hồ vận động cổ tay (actigraphy) lại đi theo mức ồn mô hình hoá, không theo khó chịu. SL OR khoảng 2–3 mỗi 10 dB vì thế mô tả mức "giấc ngủ bị tiếng ồn làm phiền" theo cảm nhận của người dân. Đó không phải phản ứng sinh lý.
Đường %HSD và các mức khuyến nghị Lnight#
Tổng quan WHO 2018 dựng cho mỗi nguồn một đường bậc hai nối Lnight ngoài nhà với %HSD, hợp lệ trong khoảng 40–65 dB (Basner và McGuire, 2018). Đường này dùng câu hỏi có nhắc tiếng ồn, và mỗi người được gán Lnight bằng điểm giữa của khoảng 5 dB chứa họ:
- Máy bay: %HSD = 16,7885 − 0,9293 × Lnight + 0,0198 × Lnight²
- Đường bộ: %HSD = 19,4312 − 0,9336 × Lnight + 0,0126 × Lnight²
- Đường sắt: %HSD = 67,5406 − 3,1852 × Lnight + 0,0391 × Lnight²
Theo văn bản của bài, ở Lnight 40 dB khoảng 2% dân số thuộc nhóm HSD với đường bộ và đường sắt, và 10% với máy bay. Bài không có bảng %HSD theo từng mức, và chúng tôi không đăng giá trị tự tính từ phương trình.
Hướng dẫn WHO 2018 chọn Lnight sao cho nguy cơ tuyệt đối %HSD không vượt 3% (WHO, 2018). Theo văn bản này, WHO khuyến nghị mạnh Lnight ngoài nhà dưới 45 dB với đường bộ, dưới 44 dB với đường sắt và dưới 40 dB với máy bay. Mốc 3% chỉ tương ứng với đường bộ và đường sắt; ở 40 dB, đường máy bay vẫn cho khoảng 10% HSD. Với tuabin gió, WHO không đưa khuyến nghị Lnight vì bằng chứng về phơi nhiễm ban đêm quá thấp, chỉ có khuyến nghị có điều kiện Lden dưới 45 dB. Chúng tôi đối chiếu các mức này qua một bản sao đầy đủ, vì kho iris.who.int không tải được.
Bản cập nhật 2022 thấy đường mới khớp với đường 2018 ở mức Lnight thấp, còn ở mức cao, máy bay đi kèm rối loạn nhiều hơn ước tính trước (Smith và cs., 2022). Các tác giả vẫn cho rằng khuyến nghị WHO không cần xem lại. Họ không thấy khác biệt giữa nghiên cứu châu Âu và ngoài châu Âu.
Mức nào là "đủ thấp" khác nhau tuỳ văn bản. Hướng dẫn tiếng ồn ban đêm WHO 2009 đặt giá trị hướng dẫn 40 dB Lnight ngoài nhà và mục tiêu tạm thời 55 dB (WHO, 2009). Văn bản này nói nhóm dễ tổn thương (trẻ em, người bệnh mạn tính, người cao tuổi) nhạy hơn với tác động ở khoảng 30–40 dB, và mức 55 dB không bảo vệ được họ. Hướng dẫn enHealth của Úc năm 2018 lại nêu giới hạn dựa trên bằng chứng là 55 dB(A) Leq,night tại mặt tiền (enHealth, 2018). Ngưỡng báo cáo của Chỉ thị Tiếng ồn Môi trường châu Âu (Environmental Noise Directive, END) cao hơn mức WHO 2018, nên thống kê châu Âu đánh giá thấp số người phơi nhiễm (EEA, 2020). Site có bài phổ thông về các mức này trong mục tiếng ồn ban đêm.
| Văn bản | Chỉ số, vị trí | Mức | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| WHO 2009 | Lnight ngoài nhà | 40 dB; mục tiêu tạm thời 55 dB | TC 55 dB không bảo vệ nhóm dễ tổn thương |
| WHO 2018, đường bộ | Lnight ngoài nhà | < 45 dB | TC Khuyến nghị mạnh; mốc ≤ 3% HSD |
| WHO 2018, đường sắt | Lnight ngoài nhà | < 44 dB | TC Khuyến nghị mạnh; mốc ≤ 3% HSD |
| WHO 2018, máy bay | Lnight ngoài nhà | < 40 dB | TC Khuyến nghị mạnh; đường cong vẫn cho khoảng 10% HSD |
| WHO 2018, tuabin gió | Lden ngoài nhà | < 45 dB | TC Có điều kiện; không có mức Lnight |
| enHealth (Úc) 2018 | Leq,night tại mặt tiền | 55 dB(A) | TC Giới hạn dựa trên bằng chứng |
| END (châu Âu) | Lden; Lnight | 55 dB; 50 dB | TC Ngưỡng báo cáo, không phải ngưỡng sức khoẻ |
SL Chênh lệch 40 với 55 dB không hẳn là bất đồng về bằng chứng. Các văn bản đặt mục tiêu bảo vệ khác nhau và dùng chỉ số, thời đoạn khác nhau.
Nguồn ồn, nơi chốn và cấu trúc của đêm#
Xếp hạng nguồn ở châu Âu và châu Á#
Khảo sát SiRENE ở Thuỵ Sĩ nhận về 5.592 bảng hỏi trên hơn 18.000 bảng gửi đi, tỉ lệ phản hồi 31% (Brink và cs., 2019). HSD là hai mức cao nhất trên thang 5 điểm, Lnight được mô hình hoá tại mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất. Ở cùng Lnight, máy bay đi kèm %HSD cao nhất, rồi đến đường sắt, thấp nhất là đường bộ. Nghiên cứu do Quỹ Khoa học Quốc gia và Văn phòng Môi trường Liên bang Thuỵ Sĩ tài trợ.
Thứ tự này không đứng yên khi đổi thước đo. Trong tổng quan WHO 2018, OR mỗi 10 dB cao nhất thuộc về đường sắt, còn %HSD tuyệt đối ở 40 dB cao nhất với máy bay. Trên PSG thực địa, OR thức giấc mỗi 10 dB(A) mức cực đại trong phòng gần như bằng nhau giữa ba nguồn, khoảng 1,35 (Basner và McGuire, 2018). Trong phòng thí nghiệm, gộp ba thực nghiệm PSG với 237 người, máy bay gây thức giấc ít nhất (Elmenhorst và cs., 2019). Trong một thực nghiệm 11 đêm với 72 người, người tham gia lại đánh giá giấc ngủ xấu nhất sau đêm máy bay và đường sắt (Basner và cs., 2011). Các chương trình STRAIN và AIRORA do Trung tâm Hàng không Vũ trụ Đức (DLR) thực hiện; dữ liệu gộp được các tổ chức công của Đức tài trợ.
Thuần tập LIFE-Adult ở Leipzig (Đức) lệch xa đường WHO với máy bay (Schubert và cs., 2023). Ở 5.670 người lớn, câu hỏi riêng cho từng nguồn theo ISO/TS 15666, và Lnight được mô hình hoá tại mặt tiền ở độ cao 4 m. Với máy bay, %HSD tăng từ 1% ở 35 dB lên 32% ở 45 dB và 36% ở 55 dB, trong khi đường WHO cho 15% và 26%. OR mỗi 10 dB là 19,66 (KTC 95% 11,47–33,71), một khoảng tin cậy rất rộng.
Phần Bàn luận của bài ghi 2% ở 35 dB, mâu thuẫn với 1% ở phần Kết quả. Ít người sống ở mức ồn máy bay cao, phơi nhiễm năm 2012 được ghép với kết cục 2018–2021, và tỉ lệ phản hồi chỉ 31–33%. Nghiên cứu do Cơ quan Môi trường Liên bang Đức (UBA) tài trợ; các tác giả đề xuất mức 35 dB Lnight cho máy bay. Với đường sắt, Leipzig lệch theo chiều ngược lại: mốc 3% HSD đạt ở Lnight 53,1 dB, cao hơn mức 44 dB của WHO.
Phân tích gộp 22 bộ dữ liệu khảo sát Nhật Bản (2000–2023) ở nhà riêng cũng thấy đường sắt thấp hơn đường WHO ở mức cao (Morinaga và cs., 2025). Ngược lại, với đường bộ, dữ liệu Nhật cao hơn đường WHO ở mức thấp (bảng dưới). Mẫu gồm 3.033 người với đường bộ, 4.106 với đường sắt thường và 3.644 với tàu cao tốc Shinkansen. Lnight ngoài nhà được ước tính từ đo gần nguồn cộng suy giảm theo khoảng cách, hoặc từ bản đồ ồn.
Bài Nhật mô tả không nhất quán việc lấy giá trị cao nhất hay trung bình khi có nhiều câu hỏi; nếu lấy giá trị cao nhất, %HSD có thể bị đẩy lên. Diện tích dưới đường cong của mô hình dưới 0,7, và bài không có dữ liệu về cách âm, cửa sổ hay rung. Nghiên cứu do quỹ nhà nước JSPS tài trợ, không có hãng đường sắt. Phản ứng với ồn đường bộ cao hơn ở các khảo sát sau năm 2010, còn với Shinkansen thì thấp hơn. Với Shinkansen, %HSD thường quanh 5%, nhưng hai dữ kiện chúng tôi rút từ bài ghi mức Lnight cao nhất khác nhau, khoảng 48 dB và 53 dB, và cần đối chiếu lại. Một khảo sát lặp lại ở Kumamoto chỉ thấy 2 trong 8 so sánh có ý nghĩa, và hai so sánh đó ngược chiều nhau (Morihara và cs., 2024).
| Nguồn, nơi | Lnight ngoài nhà | %HSD tại chỗ | Đường WHO 2018 theo bài | Thiết kế, cỡ mẫu |
|---|---|---|---|---|
| Đường bộ, Nhật Bản | 40 dB | 5% | khoảng 2% | Gộp 22 bộ dữ liệu; 3.033 người |
| Đường bộ, Nhật Bản | 50 dB | 8% | 4% | Như trên |
| Đường sắt, Nhật Bản | 48 dB | 4% | 5% | 4.106 người |
| Đường sắt, Nhật Bản | 60 dB | khoảng 8% | khoảng 17% | Như trên |
| Máy bay, Leipzig | 45 dB | 32% | 15% | Cắt ngang trong thuần tập; 5.670 người |
| Máy bay, Leipzig | 55 dB | 36% | 26% | Như trên |
| Đường sắt, Leipzig | 53,1 dB | 3% | 3% ở 44 dB | Như trên |
Hồng Kông là trường hợp đô thị cao tầng (Brown và cs., 2015). Bản đồ ồn ba chiều cho mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất của từng căn hộ cho Lden trung vị 59 dB, cao hơn khoảng 4 dB so với trung vị ước tính 55 dB ở châu Âu. Khảo sát ngẫu nhiên có tỉ lệ trả lời 76%. Đường %HSD theo Lnight (42–69 dB) song song nhưng hơi thấp hơn đường Miedema–Vos của châu Âu, với R² 0,629. Các tác giả ước tính 3,7–4,5% người lớn thuộc nhóm HSD. Mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất của nhà cao tầng không nhất thiết là mặt tiền phòng ngủ, và nghiên cứu không đo việc đóng cửa hay dùng điều hoà.
Ở Gwangju (Hàn Quốc), một ước tính từ bản đồ ồn cho khoảng 5% dân số bị rối loạn giấc ngủ nặng do ồn đường bộ (Park và cs., 2018). Đây là mô hình, không đo giấc ngủ, với chênh lệch ồn ngày–đêm nhỏ dọc các trục đường chính. SL Đặc điểm này gần với TP.HCM và Hà Nội hơn là các khu dân cư nơi phần lớn đường cong WHO được dựng.
Một khảo sát ở Hồng Kông là một trong ít nghiên cứu châu Á đo ồn ban đêm thật trong nhà, bằng liều kế âm một tuần kèm actigraphy (Li và cs., 2021). Ở 500 người lớn, ồn đêm đo được không đi kèm giấc ngủ không phục hồi, còn độ nhạy cảm với tiếng ồn thì có. Ồn đêm đi kèm thời gian trên giường ngắn hơn (b = −1,65) và, ngược trực giác, ít lần thức hơn trên actigraphy (b = −0,16). Đây là quan sát cắt ngang.
SL Những lý do khả dĩ cho các lệch nhau là cách chuẩn hoá HSD, loại nhà (nhà riêng ở Nhật, nhà cao tầng ở Hồng Kông) và mặt tiền được dùng để tính phơi nhiễm.
Cùng Lnight, khác đêm#
Lnight là năng lượng âm trung bình, nên nó che mất cấu trúc của đêm. Khi số sự kiện ồn tăng gấp đôi, Lnight chỉ tăng 3 dB (Tagusari và cs., 2016). Một mô hình mô phỏng 1–50 sự kiện mỗi đêm, giả định mức trong nhà thấp hơn ngoài nhà 15 dB, cho số lần thức giấc dự báo khác nhau nhiều ở cùng một Lnight. Chỉ số này chưa được kiểm định dịch tễ học.
Áp vào 4 điểm đo đường bộ ở Kyoto, kết luận đảo chiều tuỳ hàm liều–đáp ứng được chọn (Tagusari và cs., 2016). Theo hai hàm Passchier-Vermeer và ANSI, điểm B (Lnight 55,7 dB) có nguy cơ cao hơn điểm C (51,7 dB) khoảng 4–9 lần theo bảng của bài. Văn bản bài ghi "4–8 lần", không khớp với bảng. Theo hàm Basner, điểm C lại có nhiều lần thức giấc mỗi năm hơn điểm B (829,1 so với 733,6).
Chỉ số gián đoạn (intermittency ratio, IR) đo phần năng lượng âm do các sự kiện riêng lẻ đóng góp, nhận giá trị 0–100% (Wunderli và Brink, 2019). Với khó chịu, IR cao ở đường bộ dịch đường khó chịu tới khoảng 6 dB về phía ít khó chịu hơn, có thể nhờ các khoảng lặng dài. Với rối loạn giấc ngủ tự báo cáo trong SiRENE, IR điều chỉnh liên quan rõ nhất với ồn đường bộ trên khoảng 60 dB(A) (Brink và cs., 2019). Phân tích không hiệu chỉnh kiểm định bội. Trong phòng thí nghiệm, ở 26 người trẻ, ồn đường bộ gián đoạn cao ở LAeq 45 dB làm tăng thức tỉnh thực vật mà không đổi cấu trúc giấc ngủ trên PSG (Thiesse và cs., 2020). SL Ba loại kết cục cho ba câu trả lời khác nhau về việc tính gián đoạn có lợi hay có hại.
Cũng trong SiRENE, đặc điểm căn nhà đi kèm khác biệt %HSD lớn ngang việc đổi mức ồn (Brink và cs., 2019). Phòng ngủ quay khỏi con đường gần nhất đi kèm mức rối loạn thấp tương đương giảm gần 20 dB. Có mặt nhà yên tĩnh đi kèm mức thấp tương đương 10–15 dB. Vị trí cửa sổ phòng ngủ (mở hay đóng) lại không làm thay đổi đường Lnight–%HSD. Với đường bộ, người dùng thuốc có %HSD cao hơn tương đương khoảng 8 dB. Tất cả là quan sát tự báo cáo, với Lnight tính ở mặt tiền chứ không ở phòng ngủ. Phần can thiệp được bàn ở chương về cách âm, cửa sổ và đo tiếng ồn.
Điện gió, hạ âm và ồn tần số thấp#
Phân tích gộp WHO 2018 về tuabin gió và rối loạn giấc ngủ tự báo cáo cho OR 1,60 (KTC 95% 0,86–2,94), không có ý nghĩa, với I² 86% (Basner và McGuire, 2018). Năm trong sáu nghiên cứu được đưa vào gộp. Bài tự mâu thuẫn về số nghiên cứu cho liên quan có ý nghĩa, nên chúng tôi không đăng con số đó.
Nghiên cứu Tiếng ồn tuabin gió và Sức khoẻ của Health Canada phỏng vấn 1.238 hộ (78,9%) ở 18 khu điện gió tại Ontario và Đảo Hoàng tử Edward (Health Canada, 2014). Mức ồn tuabin tính toán ngoài nhà trung bình 35,6 dB(A), tối đa 46 dB(A); đó là trung bình dài hạn, không phải mức trong lúc ngủ (Michaud và cs., 2016). Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) và actigraphy của 707 người trong 4.371 đêm đều không liên quan có ý nghĩa với mức ồn. Tổng quan WHO 2018 ghi phân nhánh actigraphy là 654 người. Các tác giả là nhân viên Health Canada.
Cùng mẫu đó, tỉ lệ rất khó chịu tăng có ý nghĩa khi ồn tuabin vượt 35 dBA (Health Canada, 2014). Ở mức từ 40 dBA trở lên, tỉ lệ này là 16,5% ở Ontario và 6,3% ở Đảo Hoàng tử Edward. Một phân tích lại năm 2025 thấy %HSD chung là 13,3% và không liên quan với Lnight tuabin (Michaud và cs., 2025). Khi chỉ tính HSD mà người trả lời quy cho tuabin, mốc 3% đạt ở Lnight 33,5 dB(A). Nhóm tác giả đề xuất mốc HSD riêng cho tuabin ở khoảng 7%, một quan điểm của nhóm chứ không phải của WHO.
Về ồn tần số thấp, Health Canada đo mức dB(C) ngoài nhà 24–63 dBC, tương quan rất cao với dB(A) (r = 0,94). Cửa sổ đóng chặn trung bình 14 dB ồn tuabin ở dải 16–100 Hz. Hạ âm (infrasound) đo được tới 10 km nhưng thường dưới mức nền, và sát chân tuabin chỉ quanh ngưỡng nghe của khoảng 1% người nhạy nhất. Trang tóm tắt không báo dB(G), chỉ số dành riêng cho hạ âm.
Một phân tích gộp 9 nghiên cứu (5 được gộp) chỉ dùng công cụ đo đã kiểm định như PSG và actigraphy (Liebich và cs., 2021). Ồn tuabin không ảnh hưởng có ý nghĩa đến thời gian vào giấc, tổng thời gian ngủ, hiệu suất ngủ hay thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO). Các tác giả khuyên thận trọng vì mẫu nhỏ và nhiều thiết kế cắt ngang.
Nghiên cứu WiTNES ở Thuỵ Điển là ngoại lệ (Smith và cs., 2020). Trong phòng thí nghiệm, 50 người ngủ một đêm với ồn tuabin có điều biến biên độ ở 32 dB LAeq. Giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (rapid eye movement, REM) đến muộn hơn 16,8 phút và ngắn hơn 11,1 phút, còn hiệu suất ngủ, WASO và số lần thức không khác có ý nghĩa. Một thử nghiệm ngẫu nhiên ở Úc với 62 người thấy khởi phát ồn điện gió gây vi thức giấc (arousal) trên EEG ít hơn ồn đường bộ cùng mức (Lechat và cs., 2026). Tỉ lệ là 5,0% so với 8,6% ở 50 dBA.
Với hạ âm, một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) mù đôi, chéo ba nhánh phát 72 giờ hạ âm mô phỏng tuabin cho 37 người nhạy cảm với tiếng ồn (Marshall và cs., 2023). So với nhánh giả, hạ âm không làm tăng WASO đo bằng PSG (−1,36 phút; p = 0,60). Nhánh ồn giao thông làm WASO tăng 6,07 phút (p = 0,02). Thử nghiệm dừng sớm do lệnh y tế thời COVID nên kém lực thống kê. Một tác giả sáng lập công ty tư vấn từng tư vấn cho cơ quan quy hoạch bang New South Wales về nhiều dự án điện gió.
| Nghiên cứu | Thiết kế, cách đo giấc ngủ | Mức ồn, vị trí | Kết quả giấc ngủ |
|---|---|---|---|
| Tổng quan WHO 2018 | Gộp 5 nghiên cứu cắt ngang, tự báo cáo | Ước tính ngoài nhà | OR 1,60 (0,86–2,94), không ý nghĩa |
| Health Canada | Cắt ngang; PSQI, actigraphy 707 người | Trung bình 35,6 dB(A), tối đa 46 dB(A), tính ngoài nhà | Không liên quan |
| Liebich và cs. | Phân tích gộp 5 nghiên cứu, PSG hoặc actigraphy | Khác nhau giữa nghiên cứu | Không hiệu ứng có ý nghĩa |
| WiTNES | Phòng thí nghiệm, PSG, một đêm, 50 người | 32 dB LAeq trong phòng | REM muộn hơn 16,8 phút; WASO không khác |
| Lechat và cs. | RCT một đêm, PSG, 62 người | 30/40/50 dBA, đoạn 20 giây | Arousal ít hơn ồn đường bộ |
| Marshall và cs. | RCT chéo mù đôi, PSG, 37 người | Hạ âm khoảng 90 dB pk | WASO −1,36 phút, không ý nghĩa |
SL Điện gió lặp lại mẫu hình của giao thông, nhưng rõ hơn: khó chịu đi theo mức ồn, còn giấc ngủ đo được thay đổi ít hoặc không ở mức ồn tuabin trong các mẫu này. Đo trung bình dài hạn thay vì trong lúc ngủ, điều biến biên độ và kỳ vọng của người sống gần tuabin là những lý do khả dĩ để các nghiên cứu lệch nhau. Trang tiếng ù tần số thấp bàn hiện tượng này ở góc độ người nghe.
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa đọc được đường %HSD theo Lnight cho Việt Nam hoặc Trung Quốc đại lục; ở châu Á mới có Nhật Bản, Hồng Kông và một ước tính mô hình cho Gwangju.
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ khách quan liên quan tiếng ồn giao thông; dữ liệu đọc được chỉ là khó chịu hoặc mất ngủ tự báo cáo.
- Văn bản gốc Hướng dẫn WHO 2018 trên iris.who.int không tải được; các mức khuyến nghị được đối chiếu qua bản sao.
- Chưa rõ trong OR khoảng 2–3 mỗi 10 dB của câu hỏi có nhắc ồn, phần nào là giấc ngủ thật sự xấu đi, phần nào là khó chịu và quy kết nguyên nhân.
- Với hạ âm, chưa có số đo dB(G) trong tóm tắt của Health Canada, còn RCT dùng dB pk, nên khó đặt các con số cạnh nhau.
- Cỡ mẫu actigraphy của Health Canada (654 hay 707 người) và cỡ mẫu bản cập nhật WHO 2022 cần đối chiếu bản in.
Viết tắt trong trang
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- WASO
- thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Khảo sát giấc ngủ, chỉ số âm và ngưỡng đêm của WHO. Trong: Tập 11 — Tiếng ồn và giấc ngủ: thức giấc, tim mạch, khảo sát dân số và các biện pháp giảm ồn. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/tieng-on-va-giac-ngu/khao-sat-chi-so-am-va-nguong-who/