Chương này hỏi: khi một tiếng ồn không làm người ngủ thức giấc, tim và mạch máu có còn phản ứng không, và phản ứng ấy có mất đi khi người ta quen với tiếng ồn không. Các thực nghiệm cho thấy có phản ứng. Nhịp tim vẫn tăng khoảng 9 nhịp/phút khi điện não không ghi nhận thức giấc, mạch ngón tay co lại từ mức 33 dB(A) trong một thực nghiệm nhỏ báo cáo ở hội nghị, và huyết áp đo lưu động tăng trong những khoảng 15 phút có máy bay. Vỏ não quen dần một phần; phản ứng tim thì chưa thấy quen, cả trong một đêm lẫn qua nhiều đêm. Ý nghĩa lâm sàng của các phản ứng cấp này chưa được xác định, và chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào định lượng phần nào của liên quan ồn–tim mạch dài hạn đi qua giấc ngủ.
Chương dùng lại khung đọc ở chương mở đầu tập. Phản ứng đo được trong lúc ngủ khác với rối loạn giấc ngủ tự báo cáo và khác với sự khó chịu. Một con số dB chỉ có nghĩa khi kèm chỉ số (LAeq, LAmax) và vị trí đo. Hầu hết nghiên cứu ở đây là thực nghiệm nhỏ trên người trẻ khoẻ, đo một đến vài đêm.
Nhịp tim khi có và không có thức giấc#
Hai kiểu đáp ứng#
Thực nghiệm phòng thí nghiệm của nhóm Griefahn ghi đồng thời đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) và điện tâm đồ (electrocardiography, ECG) ở 24 người trẻ 19–28 tuổi (Griefahn và cs., 2008). Mỗi tuần có một đêm yên tĩnh 32 dBA và ba đêm ồn máy bay, đường sắt hoặc đường bộ với LAmax 45–77 dBA, kéo dài 3 tuần. Khi sự kiện ồn gây thức giấc trên điện não đồ (electroencephalography, EEG), nhịp tim tăng một pha kéo dài hơn 1 phút, mức tăng tối đa trung bình 30 nhịp/phút. Khi không có thức giấc, nhịp tim vẫn tăng tối đa khoảng 9 nhịp/phút rồi giảm xuống dưới mức nền.
Trong trường hợp không thức giấc, độ lớn phản ứng phụ thuộc loại giao thông, mức tối đa, tốc độ tăng mức âm và giai đoạn ngủ. Phản ứng nhịp tim cũng không giảm dần trong cùng một đêm. Nghiên cứu không có tài trợ công nghiệp. Chúng tôi chỉ đọc được bản tóm tắt; tác giả có suy đoán về vai trò với bệnh tim mạch, nhưng điều đó không được kiểm chứng trong nghiên cứu này.
Tàu hàng: phản ứng tim ở cả những sự kiện không làm thức giấc#
Nhóm Croy phát lại tiếng tàu hàng kèm rung trong 6 đêm liên tiếp cho 24 người trẻ khoẻ, với nền 25 dBA đo tại gối (Croy và cs., 2013). Các sự kiện kèm thức giấc bị loại khỏi phân tích nhịp tim, nên kết quả chỉ nói về phản ứng không kèm thức giấc. Ở đêm rung cao với 36 chuyến, 79% người tham gia có nhịp tim tăng trung bình ít nhất 3 nhịp/phút mỗi chuyến. Với sự kiện giả, tỉ lệ này chỉ 17–38%. Phản ứng lớn nhất xảy ra trong giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (rapid eye movement, REM). Độ nhạy cảm với tiếng ồn không ảnh hưởng kết quả, và tác giả nói chưa ước được ý nghĩa lâm sàng.
Thực nghiệm âm bệnh viện của nhóm Buxton cho kết quả cùng chiều về giai đoạn ngủ. Khi âm phát trong REM, xác suất vi thức giấc (arousal) ít khác nhau giữa các loại âm, nhưng nhịp tim tăng lớn hơn và kéo dài hơn so với giấc ngủ không REM (Buxton và cs., 2012). Mẫu chỉ có 12 người.
| Nghiên cứu | Thiết kế, cỡ mẫu | Âm và chỉ số | Phản ứng tim |
|---|---|---|---|
| Griefahn và cs., 2008 | Phòng thí nghiệm, PSG + ECG; 24 người trẻ | Máy bay, đường sắt, đường bộ; LAmax 45–77 dBA | Có thức giấc: +30 nhịp/phút; không thức giấc: +9 nhịp/phút rồi xuống dưới nền |
| Croy và cs., 2013 | Phòng thí nghiệm, PSG + ECG; 24 người trẻ | Tàu hàng có rung; nền 25 dBA tại gối | ≥ 3 nhịp/phút mỗi chuyến ở 79% người (rung cao, 36 chuyến); sự kiện giả 17–38% |
| Buxton và cs., 2012 | Phòng thí nghiệm, PSG; 12 người | Âm bệnh viện 40–70 dBA | Tăng lớn hơn, kéo dài hơn khi phát trong REM |
| Thiesse và cs., 2020 | Phòng thí nghiệm, PSG + ECG; 26 người trẻ | Đường bộ, đường sắt; LAeq 45 dB | Tăng tổng thời gian arousal thực vật, cấu trúc giấc ngủ không đổi |
Arousal thực vật không đi kèm thay đổi cấu trúc giấc ngủ#
Thực nghiệm của nhóm Thiesse ở Basel cho thấy tách biệt rõ nhất giữa hai hệ đo (Thiesse và cs., 2020). Có 26 người trẻ khoẻ (12 nữ, tuổi trung bình 24,6) ngủ qua bốn kịch bản ồn đường bộ hoặc đường sắt có cùng LAeq 45 dB nhưng khác mức độ gián đoạn. Cấu trúc giấc ngủ trên PSG không thay đổi có ý nghĩa. Huyết áp, catecholamine ban đêm và cytokine buổi sáng cũng không thay đổi có ý nghĩa.
Điều thay đổi là tổng thời gian arousal thực vật (autonomic arousal), tức những đợt hoạt hoá tim mạch ngắn mà PSG chấm theo cách cổ điển không ghi nhận. Ồn đường bộ gián đoạn cao làm tăng tổng thời gian này. Sau đêm ồn đường bộ gián đoạn cao, cortisol buổi tối hôm sau tăng (p = 0,002). Mức tăng cortisol tương quan với tổng thời gian arousal thực vật tích luỹ trong các đêm ồn (r = 0,64; p = 0,006).
Tiêu đề bài báo nói ồn "làm suy giảm chức năng tim mạch", nhưng theo tóm tắt, huyết áp không thay đổi có ý nghĩa. SL Chúng tôi đọc kết quả ở mức hẹp hơn: ở người trẻ ngủ tốt, ồn 45 dB đi kèm hoạt hoá thực vật và thay đổi trục hormone căng thẳng mà không đổi cấu trúc giấc ngủ. Kết quả không khái quát được cho người cao tuổi.
Mạch máu, huyết áp và chức năng nội mạc#
Co mạch ngón tay từ mức thấp#
Nhóm Zajamsek đo biên độ sóng mạch ngón tay (finger pulse wave amplitude, FPWA) ở 23 người khoẻ qua 2 đêm phơi nhiễm cách nhau 1 tuần (Zajamsek và cs., 2019). Biên độ giảm là dấu hiệu co mạch do hoạt hoá thực vật. Xác suất xuất hiện biên độ giảm tăng có ý nghĩa sau khi bắt đầu tiếng ồn môi trường ở mức thấp tới 33 dB(A); mức phát tối đa là 48 dB(A). Độ lớn phản ứng nhỏ và tương tự phản ứng tự phát. Đây là bài hội nghị, chưa qua bình duyệt đầy đủ, và tác giả nói ý nghĩa lâm sàng của các phản ứng thực vật lặp lại chưa được xác định.
Mốc 33 dB(A) trùng về con số với ngưỡng thức giấc thực địa STRAIN (LAS,max trong phòng ngủ) và ngưỡng K-complex trong phòng thí nghiệm ở chương mở đầu tập, dù định nghĩa phản ứng và bối cảnh đo khác nhau. Hướng dẫn tiếng ồn ban đêm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2009 xếp "thay đổi hoạt động tim mạch" vào nhóm có bằng chứng đủ, nhưng không xác định được ngưỡng (WHO, 2009). Tổng quan trên Lancet năm 2014 nêu LAmax 33 dB là mức thấp nhất đã có thể gây phản ứng sinh lý khi ngủ, gồm cả phản ứng thực vật như tăng nhịp tim (Basner và cs., 2014).
Huyết áp theo từng sự kiện: HYENA#
Nghiên cứu thực địa HYENA đo huyết áp lưu động mỗi 15 phút trong một đêm ở 140 người 45–70 tuổi sống quanh bốn sân bay châu Âu: Athens, Malpensa, Arlanda và Heathrow (Haralabidis và cs., 2008). Máy đo âm đặt trong phòng ngủ ghi LAeq 1 phút và 15 phút cùng LAmax; một sự kiện được tính khi LAmax vượt 35 dB, nguồn được xác định qua ghi âm. Mỗi người là chứng của chính mình.
Trong các khoảng 15 phút có sự kiện máy bay, huyết áp tâm thu tăng 6,2 mmHg (KTC 95% 0,63–12) và tâm trương tăng 7,4 mmHg (3,1–12). Mỗi 5 dB LAeq 15 phút tăng thêm đi kèm +0,74 mmHg tâm thu (0,40–1,08) và +0,63 mmHg tâm trương (0,34–0,91). Nhịp tim tăng 5,4 nhịp/phút nhưng không có ý nghĩa. Khi dùng LAmax thực của sự kiện, mức tăng huyết áp không khác hệ thống giữa máy bay, đường bộ và âm trong nhà, kể cả tiếng ngáy. Các tác giả cho rằng độ lớn tác động phụ thuộc mức âm, không phụ thuộc nguồn.
HYENA có ba giới hạn. Giấc ngủ chỉ được ghi bằng nhật ký, không đo thức giấc khách quan, nên không tách được phản ứng có hay không kèm thức giấc. Nếu người tham gia chính là người ngáy, tác động của âm trong nhà có thể bị ước tính quá mức do rối loạn thở. Và đây là một đêm đo. Nghiên cứu do Uỷ ban châu Âu tài trợ qua Chương trình Khung 5. Một phân tích cắt ngang khác của HYENA trên 4.861 người thấy mỗi 10 dB Lnight máy bay (ước tính tại nơi ở) đi kèm tỉ số chênh (odds ratio, OR) tăng huyết áp 1,14 (KTC 95% 1,01–1,29) (Jarup và cs., 2008). Phân tích này không đo giấc ngủ; chương về tiếng ồn đêm và sức khoẻ bàn kết quả dài hạn.
Chức năng nội mạc sau một đêm ồn máy bay#
Nhóm Mainz phát lại tiếng máy bay tại nhà người tham gia, theo thứ tự ngẫu nhiên và có làm mù, rồi đo giãn mạch qua trung gian dòng chảy (flow-mediated dilation, FMD) sáng hôm sau (Schmidt và cs., 2013). FMD đo khả năng động mạch cánh tay giãn ra khi dòng máu tăng, một chỉ dấu chức năng nội mạc. Có 75 người lớn khoẻ được phân tích, tuổi trung bình khoảng 26. Đêm 60 sự kiện có đỉnh trung bình khoảng 60 dB(A) và Leq 46,3 dB.
FMD là 10,4% sau đêm chứng, 9,7% sau đêm 30 sự kiện và 9,5% sau đêm 60 sự kiện. So sánh đêm 60 sự kiện với đêm chứng có p = 0,016, xu hướng theo liều có p = 0,020, nhưng so sánh chung ba nhóm chưa đạt ý nghĩa (p = 0,052). Adrenaline buổi sáng tăng từ 28,3 lên 33,2 và 34,1 ng/L (p = 0,0099). Thời gian truyền mạch (pulse transit time), một chỉ dấu độ cứng động mạch, ngắn lại từ 271,8 xuống 264,9 ms (p = 0,003). Huyết áp tâm thu tăng từ 109,8 lên 115,2 mmHg nhưng không có ý nghĩa (p = 0,120). Chất lượng ngủ tự báo cáo giảm theo số sự kiện (p < 0,001).
Phân tích gộp bốn thử nghiệm chéo ngẫu nhiên mù đôi tại nhà ở Mainz, thực hiện 2011–2020, mở rộng kết quả này lên 275 người (40,4% nữ, tuổi trung bình 43) (Hahad và cs., 2023). Một đêm 60 sự kiện ồn máy bay hoặc tàu hoả đi kèm FMD giảm 2,00 điểm phần trăm (KTC 95% −2,32 đến −1,68). Huyết áp động mạch trung bình tăng 2,50 mmHg (0,54–4,45). Mức ồn được đo bằng máy đo lớp 2 đặt gần đầu người ngủ. Giấc ngủ chỉ được đo bằng thang tương tự thị giác tự đánh giá, không có PSG.
Hai nghiên cứu Mainz khác nhau ở một điểm. Nghiên cứu năm 2013 thấy adrenaline buổi sáng tăng; phân tích gộp năm 2023 thì không thấy khác biệt về nhịp tim, adrenaline, cortisol hay các chỉ dấu viêm protein phản ứng C (C-reactive protein, CRP) và interleukin-6 (IL-6). Cả hai đều do các quỹ tim mạch ở Đức tài trợ (nghiên cứu năm 2013 có thêm Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Đức, BMBF), không khai báo xung đột lợi ích. SL Theo chúng tôi, FMD là kết quả lặp lại được trong chuỗi Mainz; các hormone thì chưa.
| Nghiên cứu | Thiết kế, cỡ mẫu | Phơi nhiễm | Kết quả mạch máu | Giấc ngủ đo bằng |
|---|---|---|---|---|
| Zajamsek và cs., 2019 | Phòng thí nghiệm; 23 người | Ồn môi trường tới 48 dB(A) | Co mạch ngón tay từ 33 dB(A), độ lớn nhỏ | PSG |
| Haralabidis và cs., 2008 | Thực địa 1 đêm; 140 người 45–70 tuổi | Sự kiện thật, LAmax trong phòng > 35 dB | Tâm thu +6,2 mmHg, tâm trương +7,4 mmHg mỗi khoảng 15 phút có máy bay | Nhật ký |
| Schmidt và cs., 2013 | Thực địa ngẫu nhiên, mù; 75 người trẻ | 30 hoặc 60 sự kiện, đỉnh khoảng 60 dB(A) | FMD 10,4% → 9,5%; adrenaline tăng | Tự báo cáo |
| Hahad và cs., 2023 | Gộp 4 thử nghiệm; 275 người | 60 sự kiện máy bay hoặc tàu | FMD −2,00 điểm phần trăm; huyết áp trung bình +2,50 mmHg | Thang tự đánh giá |
Hormone căng thẳng, rung và ồn tần số thấp#
Cortisol#
Kết quả về cortisol không đồng nhất. Nghiên cứu Basel ghi nhận cortisol buổi tối tăng sau đêm ồn đường bộ gián đoạn cao, như đã nêu (Thiesse và cs., 2020). Phân tích gộp Mainz không thấy khác biệt cortisol (Hahad và cs., 2023). Thực nghiệm âm thanh của đơn vị hồi sức tích cực ở nam giới khoẻ cũng không thấy cortisol khác giữa các điều kiện (Persson Waye và cs., 2013).
Một thực nghiệm cũ hơn ở 12 nam giới cho kết quả theo chiều khác (Persson Waye và cs., 2003). Sau đêm ồn tần số thấp ở 40 dB LAeq, đáp ứng cortisol khi thức dậy bị giảm ở thời điểm 30 phút sau khi thức. Người tham gia cũng vào giấc lâu hơn khi phơi nhiễm ồn tần số thấp. Đêm ồn giao thông (35 dB LAeq, LAmax 50 dB) lại bị đánh giá khó chịu hơn. Mẫu rất nhỏ, chỉ nam giới, và tóm tắt không có PSG. Ở cùng mức dB(A), ồn tần số thấp có thể bị đánh giá thấp vì trọng số A giảm mạnh phần tần số thấp; trang ồn tần số thấp giải thích điểm này.
Rung từ tàu hàng#
Theo báo cáo tổng kết dự án (không phải bài bình duyệt), dự án CargoVibes của EU gồm ba thực nghiệm phòng thí nghiệm trên tổng cộng 59 người trẻ khoẻ, đo PSG và ECG (CargoVibes, 2014). Rung ban đêm từ tàu hàng ảnh hưởng xấu đến giấc ngủ, và tác động tăng theo mức rung. Ồn đơn thuần hoặc ồn kèm rung thấp ít tác động. Tác động của rung và ồn cộng gộp trực tiếp lên xác suất chuyển giai đoạn ngủ và arousal vỏ não. Dự án được tài trợ từ Chương trình Khung 7 của EU, không phải từ nhà vận hành đường sắt.
Trong thực nghiệm PSG của nhóm Smith năm 2016 trên 24 người trẻ, xác suất arousal hoặc thức giấc tăng thêm khoảng 15% ở rung vừa và khoảng 30% ở rung cao (Smith và cs., 2016). Đêm rung cao 36 chuyến làm đoạn N3 liền mạch dài nhất ngắn đi 5,6 phút. Lần thức đầu tiên đến sớm hơn 25,3 phút so với đêm chứng. Chất lượng ngủ tự báo cáo và cảm giác hồi phục buổi sáng lại không đổi có ý nghĩa, dù EEG thay đổi.
Thực nghiệm nhỏ hơn năm 2013, 12 người trẻ, thêm chi tiết về tim (Smith và cs., 2013). Rung càng lớn thì độ trễ của phản ứng nhịp tim càng ngắn (p = 0,043) và chất lượng ngủ tự báo cáo càng giảm (p = 0,033). Xáo trộn tự đánh giá do rung tăng theo biên độ (p = 0,002), còn xáo trộn do tiếng ồn thì không đổi. EEG ở nghiên cứu này không đủ chất lượng để phân giai đoạn chi tiết.
Một điểm cần đọc kỹ là số chuyến tàu. Ở nghiên cứu năm 2016, số chuyến (20 so với 36) nhìn chung không ảnh hưởng xác suất phản ứng EEG mỗi sự kiện, còn biên độ rung thì có. Thoạt nhìn, điều này trái với nhận định rằng số sự kiện quan trọng hơn mức tương đương. Thực ra hai kết quả không mâu thuẫn: xác suất mỗi sự kiện không đổi, nhưng tổng số phản ứng trong đêm vẫn tăng theo số sự kiện. Số chuyến tăng cũng làm tăng xáo trộn tự báo cáo ở mức rung vừa.
Quen dần: vỏ não một phần, tim thì chưa#
Bằng chứng từ hai hệ đo#
Tổng quan làm nền cho hướng dẫn WHO 2018 nhận định người ngủ thường quen dần với tiếng ồn nhưng không hoàn toàn (Basner và McGuire, 2018). Họ vẫn tiếp tục phản ứng với các sự kiện ồn. Phản ứng của hệ thần kinh thực vật, như nhịp tim, quen dần ít hơn nhiều so với thức giấc vỏ não. Tổng quan Lancet 2014 cũng nêu như vậy (Basner và cs., 2014).
Về phía vỏ não, chương trình STRAIN của Trung tâm Hàng không Vũ trụ Đức (DLR) cho thấy khác biệt lớn giữa phòng thí nghiệm và nhà ở (Samel và Basner, 2006). Ở 64 cư dân quanh sân bay Cologne, ồn máy bay hầu như không đổi cấu trúc giấc ngủ, và xác suất thức giấc ở cùng LAS,max thấp hơn nhiều so với phòng thí nghiệm. Tổng quan năm 2017 quy đường liều–đáp ứng thực địa thoải hơn cho việc người ở nhà đã quen dần (Basner và cs., 2017).
Về phía tim, dữ liệu đi theo chiều ngược lại. Phản ứng nhịp tim không giảm dần trong cùng một đêm (Griefahn và cs., 2008). Trong thực nghiệm 11 đêm trên 72 người lớn 18–71 tuổi, tác động lên cấu trúc và tính liên tục của giấc ngủ là tinh tế, có thể do quen dần (Basner và cs., 2011). Nhưng arousal tim không quen dần qua các đêm. Thời gian phản ứng trên phép đo sự tỉnh táo tâm vận động (psychomotor vigilance task, PVT) chỉ tăng 4 ms. Thực nghiệm Basel bổ sung một chiều khác: arousal thực vật tăng trong khi cấu trúc giấc ngủ trên PSG không đổi (Thiesse và cs., 2020).
| Hệ đo | Quen dần? | Dữ liệu chính |
|---|---|---|
| Thức giấc vỏ não, cấu trúc ngủ | Một phần, không hoàn toàn | STRAIN thực địa so với phòng thí nghiệm; tổng quan WHO 2018 |
| Nhịp tim trong một đêm | Không thấy | Griefahn 2008, 24 người |
| Arousal tim qua nhiều đêm | Không thấy | Basner 2011, 72 người, 11 đêm |
| Arousal thực vật khi cấu trúc ngủ không đổi | Phản ứng vẫn có | Thiesse 2020, 26 người |
| Kết cục sau can thiệp giảm ồn (chủ yếu khó chịu) | Không thấy thích nghi trong vài năm | Tổng quan WHO về can thiệp, 43 nghiên cứu |
Đây không phải mâu thuẫn số liệu mà là hai hệ đo khác nhau. Câu "rồi sẽ quen" đúng một phần với EEG và chưa thấy đúng với tim mạch. Ở thang thời gian dài hơn, tổng quan WHO về 43 nghiên cứu can thiệp tiếng ồn giao thông trả lời một câu hỏi khác: tác động của việc giảm ồn có phai đi theo thời gian không (Brown và Van Kamp, 2017). Các nghiên cứu theo dõi lâu không cho thấy thích nghi trong ít nhất vài năm. Kết cục ở đó chủ yếu là khó chịu, không phải giấc ngủ đo khách quan, và phần "không thích nghi" được tóm lược từ văn bản, cần đối chiếu nguyên văn.
Gián đoạn: có lợi cho cảm nhận, bất lợi cho hệ thực vật#
Chỉ số gián đoạn (intermittency ratio, IR) là phần năng lượng âm do các sự kiện vượt một ngưỡng đóng góp vào tổng liều, nhận giá trị 0–100% (Wunderli và Brink, 2019). Giao thông liên tục từ đường cao tốc xa cho IR nhỏ; gần đường ray, IR có thể gần 100%. Trong khảo sát SiRENE, với ồn đường bộ, tình huống IR cao bị cảm nhận ít khó chịu hơn, tương đương dịch đường khó chịu tới khoảng 6 dB, có thể nhờ những khoảng lặng dài.
Với rối loạn giấc ngủ tự báo cáo trong cùng khảo sát, IR điều chỉnh rõ nhất ở ồn đường bộ trên khoảng 60 dB(A) (Brink và cs., 2019). Trong phòng thí nghiệm Basel, ở cùng LAeq 45 dB, ồn đường bộ gián đoạn cao lại làm tăng arousal thực vật (Thiesse và cs., 2020). Lý do khả dĩ cho sự khác chiều là kết cục khác nhau (khó chịu, tự báo cáo, đo sinh lý) và trạng thái khác nhau (thức hay ngủ). SL Hệ quả thực tế: hai nguồn có cùng LAeq, một đều đều và một ngắt quãng, có thể cho phản ứng khi ngủ khác nhau.
Nguồn liên tục mức thấp: máy bơm nhiệt#
Theo báo cáo của Cơ quan Môi trường Liên bang Đức (UBA), chưa phải bài bình duyệt, hai thực nghiệm phòng thí nghiệm do cơ quan này tài trợ phát lại ồn máy bơm nhiệt nguồn khí cho 40 người lớn khoẻ 18–65 tuổi (Benz và cs., 2024). Kịch bản cửa sổ mở hé có mức tại tai trung bình LAeq,1h 30,4 dB(A), đỉnh 41 dB(A); kịch bản cửa đóng khoảng 21 dB(A), đỉnh 30 dB(A). Mỗi người ngủ 3 đêm cách nhau 1 tuần, không có đêm làm quen.
| Chỉ số PSG | Yên tĩnh | Bơm nhiệt, cửa mở hé | Bơm nhiệt, cửa đóng |
|---|---|---|---|
| Hiệu suất ngủ | 83,1% | 81,5% | 83,1% |
| Ngủ sâu N3 | 18,0% | 17,9% | 17,5% |
| Tổng thời gian ngủ (phút) | 398,8 | 390,9 | 398,7 |
| Chỉ số arousal (lần/giờ) | 6,7 | 7,5 | 6,8 |
Hiệu suất ngủ không khác giữa ba điều kiện (p = 0,33). Số arousal liên quan đến ồn cao hơn có ý nghĩa ở điều kiện cửa mở hé so với cửa đóng, nhưng chỉ ở nữ. Hiệu ứng mạnh nhất khi đêm ồn đến ngay sau đêm yên tĩnh. Các tác giả nói hiệu ứng khi ngủ nhỏ và không nhất thiết là bệnh lý; khi thức, ồn bơm nhiệt làm tăng khó chịu và giảm khả năng tập trung đọc. SL Máy nén điều hoà đặt ngoài cửa sổ ở nhà phố Việt Nam là nguồn cùng loại, nhưng chúng tôi chưa tìm được số đo tương ứng ở Việt Nam.
Giấc ngủ có phải con đường trung gian#
Mô hình phổ biến cho rằng ồn đêm làm rối loạn giấc ngủ, và rối loạn giấc ngủ dẫn tới bệnh tim mạch–chuyển hoá. Một tổng quan năm 2012 nêu giả thuyết rằng tiếng ồn ban đêm có thể liên quan đến bệnh tim mạch nhiều hơn tiếng ồn ban ngày (Hume và cs., 2012). Bằng chứng chúng tôi đọc được chưa xác nhận mô hình này một cách trực tiếp.
Phân tích gộp Mainz thấy chức năng nội mạc suy giảm và chất lượng ngủ tự báo cáo giảm, nhưng không phân tích trung gian; giấc ngủ chỉ là con đường giả định (Hahad và cs., 2023). Thực nghiệm Basel thấy cấu trúc giấc ngủ và huyết áp không đổi ở 45 dB, trong khi cortisol tăng và tương quan với arousal thực vật (Thiesse và cs., 2020). Trong thuần tập SAPALDIA ở Thuỵ Sĩ, ồn đường bộ Lden đi kèm nguy cơ đái tháo đường mắc mới cao hơn (RR 1,35 mỗi khoảng tứ phân vị, tương đương khoảng 10 dB), độc lập với NO₂. Liên quan này mạnh hơn ở người báo cáo ngủ kém hoặc ngủ mở cửa sổ (Eze và cs., 2017). Đó là biến đổi hiệu ứng, gợi ý nhưng không chứng minh vai trò trung gian. Với trầm cảm, cũng ở SAPALDIA, con đường chính lại đi qua sự khó chịu vì ồn (Eze và cs., 2020).
SL Suy luận của chúng tôi: nếu giấc ngủ là con đường trung gian, phần đó nhiều khả năng đi qua các arousal thực vật dưới ngưỡng PSG cổ điển hơn là qua mất ngủ thấy được. Giả thuyết này phù hợp với việc phản ứng tim xảy ra cả khi không thức giấc và không quen dần. Nhưng chưa nghiên cứu nào chúng tôi đọc được kiểm định nó bằng phân tích trung gian định lượng. Chương về tiếng ồn đêm và sức khoẻ trình bày các kết cục dài hạn.
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được ngưỡng dB cụ thể cho phản ứng nhịp tim khi ngủ; WHO 2009 xếp thay đổi hoạt động tim mạch là có bằng chứng nhưng không xác định ngưỡng.
- Chúng tôi chưa tìm được phân tích trung gian định lượng nào cho biết bao nhiêu phần liên quan ồn–tim mạch hay ồn–chuyển hoá đi qua giấc ngủ đo khách quan.
- Ý nghĩa lâm sàng của các phản ứng thực vật lặp lại mỗi đêm, như tăng nhịp tim hay co mạch ngón tay, chưa được xác định; chính các nhóm tác giả nói vậy.
- Gần như mọi thực nghiệm ở đây làm trên người trẻ khoẻ trong một đến vài đêm; dữ liệu ở người cao tuổi, người có bệnh tim mạch và phơi nhiễm dài hạn còn thiếu.
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào ở Việt Nam đo nhịp tim, huyết áp hay giấc ngủ khách quan liên quan tiếng ồn giao thông, karaoke hay sân bay.
- Chúng tôi chưa đọc được toàn văn bài của nhóm Griefahn năm 2008 và nhóm Basner năm 2011; kết quả tương ứng lấy từ tóm tắt. Bài bình duyệt năm 2026 của nhóm Benz về máy bơm nhiệt cũng chưa đọc được.
Viết tắt trong trang
- ECG
- điện tâm đồ (electrocardiography)
- EEG
- điện não đồ (electroencephalography)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PVT
- bài kiểm tra cảnh giác tâm thần vận động (psychomotor vigilance task)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
- RR
- nguy cơ tương đối (relative risk)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Tim mạch khi ngủ trong tiếng ồn và sự quen dần. Trong: Tập 11 — Tiếng ồn và giấc ngủ: thức giấc, tim mạch, khảo sát dân số và các biện pháp giảm ồn. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/tieng-on-va-giac-ngu/tim-mach-khi-ngu-va-quen-dan/