giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Một tiếng ồn làm thức giấc thế nào

Chương 1 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 18 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi: một sự kiện ồn đơn lẻ trong đêm làm người ngủ thức giấc với xác suất bao nhiêu, và điều gì quyết định xác suất ấy. Dữ liệu đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) tại nhà khá nhất quán. Mỗi 10 dB(A) mức đỉnh trong phòng tăng thêm đi kèm tỉ số chênh (odds ratio, OR) thức giấc khoảng 1,35, gần như bằng nhau giữa ba nguồn giao thông. Nhưng phần lớn sự kiện ồn không làm thức giấc, và nền thức giấc tự phát đã chiếm 6–8% trong mỗi khung 90 giây. Ngưỡng phản ứng nằm sát mức nền của phòng ngủ, quanh 33 dB(A) ở thực địa, và dịch chuyển tuỳ cách định nghĩa "phản ứng". Đường liều–đáp ứng thực địa thoải hơn nhiều so với phòng thí nghiệm; một tổng quan giải thích điều này bằng việc người ngủ ở nhà đã quen dần một phần.

Khung đọc cho cả tập#

Tập này đọc mỗi nghiên cứu theo ba câu hỏi: kết cục thuộc loại nào, mức âm đo bằng chỉ số gì và ở đâu, giấc ngủ đo bằng gì trong thiết kế nào. Hai con số chỉ so được khi cả ba câu trả lời khớp nhau.

Ba loại kết cục không thay thế nhau#

Loại thứ nhất là sự khó chịu vì ồn (noise annoyance): một đánh giá tâm lý, hỏi bằng bảng hỏi, về mức độ một nguồn ồn làm phiền. Loại thứ hai là rối loạn giấc ngủ tự báo cáo, thường biểu diễn bằng tỉ lệ người bị rối loạn nặng (highly sleep disturbed, %HSD) hoặc chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI). Loại thứ ba là phản ứng đo được trong lúc ngủ: thức giấc hay vi thức giấc (arousal) trên điện não đồ (electroencephalography, EEG), cử động, tăng nhịp tim, co mạch.

Ba loại này có liên quan nhưng không trùng nhau. Tổng quan làm nền cho hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2018 cho thấy rõ điều đó (Basner và McGuire, 2018). Khi câu hỏi có nhắc tới tiếng ồn, mỗi 10 dB Lnight ngoài nhà tăng thêm đi kèm OR của %HSD là 1,94 với máy bay, 2,13 với đường bộ và 3,06 với đường sắt. Khi câu hỏi về giấc ngủ không nhắc tới tiếng ồn, cả ba liên quan đều mất ý nghĩa thống kê, với OR lần lượt 1,17; 1,09 và 1,27. Một cách giải thích khả dĩ là câu hỏi có nhắc tiếng ồn đo lẫn một phần sự khó chịu.

Một thuần tập ở Basel (Thuỵ Sĩ), có lồng actigraphy trên 119 người và 1.551 đêm, tách hai con đường rõ hơn (Frei và cs., 2014). Actigraphy suy ra ngủ–thức từ cử động cổ tay. Chất lượng ngủ tự báo cáo liên quan mạnh với mức khó chịu vì ồn. Hiệu quả giấc ngủ đo bằng actigraphy thì không liên quan với khó chịu (p = 0,25). Nó liên quan với mức ồn đường bộ ban đêm mô hình hoá tại nơi ở (p = 0,02). Nhóm Elmenhorst dẫn lại kết luận này như một nguồn thứ cấp: ngủ chủ quan đi qua khó chịu, ngủ đo khách quan thì không liên quan với khó chịu (Elmenhorst và cs., 2019).

Ở 1.238 hộ gần tuabin gió, tỉ lệ rất khó chịu tăng khi ồn tuabin tính toán ngoài nhà vượt 35 dBA, còn giấc ngủ đo khách quan không đi kèm mức ồn (Health Canada, 2014).

Vì vậy, trong cả tập, chúng tôi không viết "tiếng ồn làm mất ngủ" khi dữ liệu chỉ là khó chịu, và không viết "bị đánh thức" khi dữ liệu là %HSD. Theo thang GRADE của tổng quan WHO 2018, bằng chứng có chất lượng trung bình cho thức giấc vỏ não và cho %HSD do giao thông khi câu hỏi có nhắc tiếng ồn, thấp cho đo cử động và rất thấp cho các kết cục khác.

Chỉ số âm và vị trí đo#

Các chỉ số đều dùng trọng số A, bộ lọc mô phỏng độ nhạy của tai người, ký hiệu dB(A) hoặc dBA. LAeq là mức tương đương liên tục: năng lượng âm trung bình trong một khoảng thời gian. Lnight là LAeq của khoảng đêm, trong khảo sát thường là trung bình năm. Lden là mức ngày–tối–đêm, có cộng thêm mức phạt cho buổi tối và ban đêm. LAmax là mức tức thời cao nhất của một sự kiện; ký hiệu LAS,max hay LAF,max cho biết máy đo dùng đáp ứng chậm (slow) hay nhanh (fast).

Chỉ sốMô tảVị trí thường gặpThường đi với kết cục
LAeqNăng lượng âm trung bình trong một khoảngTrong phòng (thực nghiệm) hoặc ngoài nhàPhơi nhiễm cả đêm, cả ngày
LnightLAeq của khoảng đêmNgoài nhà, mặt tiền tiếp xúc nhiều nhất, thường từ mô hình%HSD tự báo cáo
LdenMức ngày–tối–đêm có cộng mức phạtNgoài nhà, thường từ bản đồ ồnKhó chịu, kết cục sức khoẻ dài hạn
LAmax (LAS,max, LAF,max)Đỉnh của từng sự kiệnTrong phòng ngủ, cạnh giường hoặc tại taiThức giấc, arousal, nhịp tim

Nghiên cứu dân số dùng Lnight hoặc Lden tại mặt tiền; nghiên cứu PSG dùng LAmax trong phòng ngủ. Giữa hai vị trí là bức tường và ô cửa sổ. Đo ở 102 toà nhà Thuỵ Sĩ tiếp xúc ồn đường bộ, mức trong phòng thấp hơn ngoài mặt tiền khoảng 10 dB(A) khi mở cửa sổ (Locher và cs., 2018). Chênh lệch là 16 dB(A) khi hé lật nghiêng kiểu châu Âu và 28 dB(A) khi đóng. SL Cùng một Lnight ngoài nhà vì vậy có thể ứng với các mức trong phòng chênh nhau gần hai chục dB(A), chỉ tuỳ cửa sổ.

Lnight cũng không cho biết số sự kiện. Theo một mô hình, Lnight chỉ tăng 3 dB khi số sự kiện tăng gấp đôi (Tagusari và cs., 2016). Số lần thức giấc dự báo vì vậy khác nhau nhiều ở cùng một Lnight; mô hình này chưa được kiểm định dịch tễ học. Một tổng quan về tiếng ồn hàng không cũng cho rằng số lượng và đặc tính âm học của sự kiện phản ánh rối loạn tốt hơn mức tương đương (Basner và cs., 2017). Trang ồn đỉnh ban đêm và trang Lnight ngoài nhà giải thích hai chỉ số này ở cấp phổ thông.

Giấc ngủ đo bằng gì, trong thiết kế nào#

PSG là chuẩn để chấm giai đoạn ngủ và thức giấc. Trong các phân tích gộp thực địa, thức giấc được định nghĩa là chuyển sang thức hoặc giai đoạn 1 trong 90 giây sau khi sự kiện bắt đầu. Các nghiên cứu sân bay gần đây ở Mỹ dùng điện tâm đồ (electrocardiography, ECG) hai điện cực kèm actigraphy đeo ngực. Thức giấc được gọi khi nhịp tim và cử động thay đổi kéo dài ít nhất 15 giây; độ đồng thuận kappa của thiết bị so với PSG là 0,87 (Basner và cs., 2019). Trang cách đo giấc ngủ so sánh các phép đo này.

Thiết kế chia ba nhóm. Thực nghiệm phòng thí nghiệm phát lại tiếng ồn ghi sẵn ở mức kiểm soát, cho người ngủ ở nơi lạ vài đêm. Nghiên cứu thực địa đo PSG hoặc ECG tại nhà, với tiếng ồn thật và người đã quen sống cùng nó. Khảo sát cắt ngang hỏi hàng nghìn người một lần và gán mức ồn từ bản đồ; kết quả của nó không được đọc ngang hàng với kết quả PSG. Chương này dựa vào hai nhóm đầu.

Xác suất thức giấc theo mức đỉnh trong phòng#

Đường liều–đáp ứng thực địa#

Phân tích gộp PSG thực địa trong tổng quan WHO 2018 gộp dữ liệu tại nhà của ba nguồn (Basner và McGuire, 2018). Nghiên cứu STRAIN quanh sân bay có 61 người được phân tích trên 64 người tuyển; DEUFRAKO về đường sắt có 33 người; các nghiên cứu đường bộ gộp được 94 người. Mức đỉnh là LAS,max ghi trong phòng ngủ. STRAIN và DEUFRAKO do Trung tâm Hàng không Vũ trụ Đức (DLR), một viện nghiên cứu nhà nước, thực hiện. Bảng dưới ghi OR kèm khoảng tin cậy 95% (KTC 95%).

NguồnNghiên cứuSố người phân tíchOR thức giấc mỗi 10 dB(A) LAS,max trong phòng (KTC 95%)Thức tự phát trong 90 giây
Máy baySTRAIN611,35 (1,22–1,50)7,7%
Đường bộGộp nhiều nghiên cứu941,36 (1,19–1,55)8,2%
Đường sắtDEUFRAKO331,35 (1,21–1,52)6,1%

Các OR này chưa hiệu chỉnh; hiệu chỉnh chỉ làm chúng thay đổi rất ít. Cột cuối cần đọc cùng cột OR. Nền thức giấc tự phát trong cùng khung 90 giây đã là 6,1–8,2%, nên một lần thức giấc trên EEG trong đêm ồn có thể là thức tự phát. Theo phần kết quả toàn văn, xác suất thức giấc do ồn chỉ bắt đầu lớn hơn 0 ở khoảng 33–38 dB(A) LAS,max trong phòng.

Một thông cáo báo chí của DLR, không phải bài bình duyệt, nêu người khoẻ thức ngắn trên EEG khoảng 20 lần mỗi đêm, phần lớn không nhớ (DLR, 2011). SL Câu hỏi đúng vì vậy là tiếng ồn thêm bao nhiêu lần thức vào nền đó.

Xác suất tuyệt đối của từng sự kiện#

Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomised controlled trial, RCT) trong phòng thí nghiệm ở Úc cho thấy độ lớn tuyệt đối (Lechat và cs., 2026). Có 62 người lớn nghe các đoạn ồn 20 giây ở 30, 40 và 50 dBA trong một đêm PSG. Arousal là chuyển EEG nhanh kéo dài hơn 3 giây; thức giấc là hơn 15 giây. Với ồn đường bộ, xác suất arousal mỗi sự kiện là 3,2% ở 40 dBA và 8,6% ở 50 dBA. Thức giấc dưới 4% ở 50 dBA. Phần lớn sự kiện ồn ở các mức này không để lại arousal nào trên EEG.

Ồn điện gió gây arousal ít hơn một chút: 2,1% ở 40 dBA (p = 0,016) và 5,0% ở 50 dBA (p < 0,001). Thử nghiệm chỉ đo phản ứng cấp với khởi phát ồn, không đo ồn tuabin kéo dài cả đêm. Theo giao thức, tài trợ đến từ hội đồng nghiên cứu y tế quốc gia của Úc; chúng tôi chưa đọc phần khai báo đầy đủ.

Từ phòng thí nghiệm ra quanh sân bay Mỹ#

Hai nghiên cứu thí điểm do Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA), cơ quan quản lý hàng không, tài trợ đã thử đo thức giấc tại nhà không có người giám sát. Quanh sân bay Philadelphia, 79 người đeo ECG và actigraphy trong 3 đêm; máy đo âm đặt khoảng 30 cm trên đệm gần đầu giường (Basner và cs., 2019). Đường liều–đáp ứng giữa LAS,max trong phòng và xác suất thức giấc có ý nghĩa, với hệ số 0,0274 mỗi dB. SL Quy đổi tương ứng OR khoảng 1,3 mỗi 10 dB, gần với số gộp thực địa ở trên.

Cũng ở Philadelphia, LAeq trong phòng lúc ngủ có trung vị 43,2 dBA ở nhà gần sân bay và 31,8 dBA ở vùng chứng. Ở 46% số nhà gần sân bay, có những khoảng âm máy bay bị che bởi tiếng máy sưởi, máy điều hoà hay quạt. Tuyển người cũng khó: phát 3.700 tờ rơi chỉ tuyển được 80 người. SL Với phòng ngủ Việt Nam có quạt hoặc điều hoà chạy cả đêm, mức ồn ngoài nhà càng khó đại diện cho mức đỉnh người ngủ nghe.

Quanh sân bay Atlanta, 34 người hoàn thành 5 đêm; thức giấc sinh lý tăng theo LAS,max nhưng chỉ ở mức ý nghĩa biên (Basner và cs., 2020). Đây là báo cáo dự án, không phải bài bình duyệt, và chúng tôi không đọc được phần số liệu chi tiết.

Hai thí điểm dẫn tới giao thức Nghiên cứu Giấc ngủ Quốc gia của FAA: 400 người quanh 77 sân bay, đo 5 đêm bằng ECG, cử động và ghi âm cạnh giường (Basner và cs., 2023). Lý do được nêu là dữ liệu giấc ngủ của Mỹ đã cũ, nghiên cứu gần nhất từ năm 1996.

Ngưỡng: 32, 33, 35 hay 39 dB(A)#

Hướng dẫn tiếng ồn ban đêm châu Âu của WHO năm 2009 liệt kê ngưỡng LAmax trong phòng cho các tác động có bằng chứng đủ (WHO, 2009). Bắt đầu cử động ở 32 dB; thức giấc trên EEG và thay đổi cấu trúc giấc ngủ ở 35 dB; thức dậy trong đêm hoặc dậy quá sớm ở 42 dB. Thay đổi hoạt động tim mạch được xếp có bằng chứng đủ nhưng không xác định được ngưỡng.

Ở nghiên cứu thực địa STRAIN, ngưỡng thức giấc do máy bay là 33 dB(A) LAS,max trong phòng, chỉ cao hơn mức nền đo được (27 dB(A)) 6 dB(A) (Samel và cs., 2007). Ví dụ, 0,2% người thức giấc với sự kiện có đỉnh 34 dB(A). Trong phòng thí nghiệm, nơi sự kiện phát lại ở 45–80 dB(A), không tìm thấy ngưỡng trong khoảng đó. Tổng quan trên Lancet năm 2014 dùng mốc 33 dB như mức thấp nhất đã có thể gây phản ứng sinh lý, nhưng không nói rõ đo ở đâu (Basner và cs., 2014). Năm 2017, nhóm tác giả nhấn mạnh ngưỡng phản ứng 33 dB(A) không phải giá trị giới hạn (Basner và cs., 2017).

Một nghiên cứu thí điểm ở 25 người cho thấy định nghĩa phản ứng làm dịch ngưỡng (Lechat và cs., 2021). Ồn điện gió hoặc giao thông dài 20 giây, phát trong giấc N2 trên nền 23 dBA, gây K-complex ở mức thấp tới 33 dBA. K-complex là một sóng đơn lẻ biên độ lớn trên EEG, được xem là dấu hiệu não vẫn xử lý âm thanh khi ngủ. OR xuất hiện K-complex ở 33 so với 23 dBA là 1,75 (KTC 95% 1,16–2,66). Arousal và thức giấc chỉ liên quan với ồn trên 39 dBA, và K-complex nhiều gấp khoảng 2 lần arousal.

Ngưỡng còn là sản phẩm của hàm toán học. Xấp xỉ ba hàm thức giấc phổ biến cho ngưỡng trong nhà 43 dB (Passchier-Vermeer), 39 dB (ANSI) và 32 dB (Basner) (Tagusari và cs., 2016). Hàm Basner đo thức giấc trên EEG, thường gặp hơn nhiều so với thức giấc hành vi bấm nút, nên các ước tính không so trực tiếp được.

NguồnPhản ứngMứcChỉ số và vị tríLoại bằng chứng
WHO 2009Bắt đầu cử động32 dBLAmax trong phòngTC
WHO 2009Thức giấc trên EEG; đổi cấu trúc ngủ35 dBLAmax trong phòngTC
WHO 2009Thức dậy trong đêm, dậy quá sớm42 dBLAmax trong phòngTC
STRAIN thực địaThức giấc do máy bay33 dB(A); nền 27 dB(A)LAS,max trong phòngĐO PSG tại nhà, 64 cư dân
Tổng quan WHO 2018Xác suất thức giấc lớn hơn 033–38 dB(A)LAS,max trong phòngĐO gộp PSG thực địa
Lechat 2021K-complex33 dBAMức phát, phòng thí nghiệmĐO 25 người, thí điểm
Lechat 2021Arousal, thức giấctrên 39 dBAMức phát, phòng thí nghiệmĐO 25 người, thí điểm
Zajamsek 2019Co mạch ngón tay33 dB(A)Mức phát, phòng thí nghiệmĐO 23 người, bài hội nghị
Tagusari 2016Ngưỡng của hàm xấp xỉ43 / 39 / 32 dBTrong nhà, mô hìnhMô hình

Co mạch ngón tay (Zajamsek và cs., 2019) được bàn trong chương về tim mạch khi ngủ và quen dần. Các con số lệch nhau vì định nghĩa phản ứng (K-complex, co mạch, arousal trên 3 giây, thức trên 15 giây), mức nền phòng ngủ, bối cảnh đo và dạng hàm ước ngưỡng. SL Vì ngưỡng STRAIN chỉ cao hơn nền 6 dB(A), chúng tôi đọc nó là mức mà phản ứng bắt đầu phân biệt được với nền trong những phòng ngủ ấy, hơn là một hằng số sinh lý. Trang tiếng ồn và thức giấc trình bày cơ chế ở cấp phổ thông.

Điều gì khiến cùng một mức đỉnh gây phản ứng khác nhau#

Giai đoạn ngủ và thời điểm trong đêm#

Dữ liệu gộp của ba thực nghiệm phòng thí nghiệm ở Đức (STRAIN, AIRORA, IfADo) gồm 237 người lớn khoẻ và 109.836 sự kiện ồn (Elmenhorst và cs., 2019). Tài trợ đến từ các tổ chức công của Đức. Xác suất thức giấc tăng theo thời gian đã ngủ, tức càng về sáng càng dễ thức. Nó giảm theo thời gian người ngủ đã ở trong cùng một giai đoạn. Thức từ ngủ sâu (S3/S4 theo cách chấm cũ, tương ứng N3) và từ giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (rapid eye movement, REM) ít khả năng hơn từ S2. Tốc độ tăng mức âm (rise time) là biến dự báo có ý nghĩa cao; mô hình giả định trung vị 5,8 dB/s. Các phát hiện về thời điểm chỉ ở dạng định tính.

Một thực nghiệm PSG ở 12 người khoẻ phát 14 loại âm bệnh viện tăng dần 40–70 dBA trong REM, N2 và N3 (Buxton và cs., 2012). Âm phát trong N3 ít gây arousal hơn trong N2. Âm điện tử như chuông điện thoại, báo động máy truyền dịch gây arousal nhiều hơn các âm khác ở cùng mức, kể cả giọng người. Trong REM, nhịp tim tăng lớn hơn và kéo dài hơn. Mẫu rất nhỏ; tài trợ đến từ giới thiết kế cơ sở y tế.

Loại nguồn: thứ tự đổi theo cách đo#

Ở cùng LAS,max, dữ liệu gộp phòng thí nghiệm xếp xác suất thức giấc theo thứ tự máy bay < đường bộ ≈ đường sắt (p = 0,988 giữa hai nguồn sau) (Elmenhorst và cs., 2019). Ở 70 dB, thức giấc do máy bay ít hơn đường sắt hơn 7%. Một thực nghiệm 11 đêm trên 72 người cho kết quả cùng chiều; SL thực nghiệm này nhiều khả năng chính là AIRORA (72 người, 18–71 tuổi) trong dữ liệu gộp trên, nên không phải một xác nhận độc lập (Basner và cs., 2011). Máy bay gây arousal vỏ não và phản ứng tim ít nhất; đường bộ gây thay đổi cấu trúc ngủ lớn nhất. Các tác giả quy khác biệt cho tốc độ tăng mức âm và cho thành phần tần số cao trên 3 kHz.

Thứ tự đảo ngược khi hỏi chính người ngủ. Trong cùng thực nghiệm, đánh giá chủ quan về chất lượng ngủ và hồi phục xấu nhất sau đêm máy bay và đường sắt. Khảo sát SiRENE ở Thuỵ Sĩ cũng xếp máy bay cao nhất về %HSD ở cùng Lnight (Brink và cs., 2019).

Cách đoThiết kếThứ tựNguồn
Thức giấc trên PSG theo LAS,max trong phòngGộp thực địaMáy bay ≈ đường bộ ≈ đường sắt (OR khoảng 1,35)Basner và McGuire, 2018
Thức giấc trên PSG theo LAS,maxGộp phòng thí nghiệm, 237 ngườiMáy bay < đường bộ ≈ đường sắtElmenhorst và cs., 2019
Arousal vỏ não, phản ứng timPhòng thí nghiệm, 72 ngườiMáy bay thấp nhấtBasner và cs., 2011
Đánh giá chủ quan buổi sángPhòng thí nghiệm, 72 ngườiMáy bay và đường sắt xấu nhấtBasner và cs., 2011
%HSD ở cùng LnightCắt ngang, 5.592 ngườiMáy bay > đường sắt > đường bộBrink và cs., 2019
OR %HSD mỗi 10 dB LnightGộp khảo sátĐường sắt 3,06 > đường bộ 2,13 > máy bay 1,94Basner và McGuire, 2018
%HSD tuyệt đối ở Lnight 40 dBGộp khảo sátMáy bay khoảng 10%; đường bộ, đường sắt khoảng 2%Basner và McGuire, 2018

Không có thứ tự nào "đúng" cho mọi thước đo. Các lý do khả dĩ gồm tốc độ tăng mức âm (tiếng máy bay dâng lên chậm) và thành phần tần số cao. Thái độ và sự khó chịu với từng nguồn, số sự kiện, giờ bay và việc đo chủ quan hay khách quan cũng góp phần.

Khác biệt giữa người#

Trong thực nghiệm trên 69 người lớn khoẻ, khác biệt giữa cá nhân giải thích 40,5% phương sai xác suất thức giấc và 52,0% phương sai arousal (McGuire và cs., 2016). Với 64 chuyến bay ở LAmax 65 dB(A), người nhạy nhất thức ở 88% sự kiện, người bền nhất chỉ ở 3,3%. Tuổi và giới không giải thích được phần này. Tài trợ là nội bộ DLR; chúng tôi đọc bản tóm tắt.

Một thực nghiệm thuộc dự án SiRENE so sánh 26 người trẻ với 18 người lớn tuổi (52–70 tuổi) (Rudzik và cs., 2018). Ồn đường bộ hoặc đường sắt có LAeq trung bình 45 dB, đỉnh 50–62 dB. Tiếng ồn làm tăng chỉ số arousal trên EEG. Tần suất thoi ngủ (sleep spindle), một nhịp EEG đặc trưng của giấc N2, giảm theo tuổi và đi kèm nhiều thay đổi giấc ngủ do ồn hơn. Nhưng tần suất thoi ngủ không dự báo xác suất thức giấc từ từng sự kiện tàu. Tổng quan WHO 2018 xếp người cao tuổi, trẻ em, người làm ca và người có rối loạn giấc ngủ là nhóm nguy cơ, chủ yếu dựa trên lập luận (Basner và McGuire, 2018).

Phòng thí nghiệm, thực địa và tác động trên cả đêm#

Cùng chương trình, hai bối cảnh#

Chương trình STRAIN cho phép so sánh trực tiếp; nguồn là kỷ yếu hội nghị (Samel và Basner, 2006). Trong phòng thí nghiệm, 128 người ngủ 13 đêm với 4–128 sự kiện máy bay mỗi đêm ở 45–80 dB(A); ồn làm tăng giai đoạn 1 và thức giấc, giảm ngủ sóng chậm. Ở thực địa, 64 cư dân quanh sân bay Cologne được đo 9 đêm tại nhà. Ồn máy bay hầu như không đổi cấu trúc giấc ngủ, và xác suất thức giấc ở cùng LAS,max thấp hơn nhiều; quen dần có nhưng không hoàn toàn. Cũng theo DLR, 30% người ở thực địa thấy bị phiền, so với 70% trong phòng thí nghiệm (Samel và cs., 2007).

Tổng quan năm 2017, có một đồng tác giả thuộc FAA, giải thích đường thực địa thoải hơn vì người ở nhà đã quen dần (Basner và cs., 2017). Phản ứng tim thì không quen dần như vỏ não; chương về tim mạch khi ngủ và quen dần bàn điểm này.

Từ đường cong đến tiêu chí#

DLR dùng đường thực địa STRAIN đề xuất tiêu chí cho sân bay Leipzig/Halle: trung bình, ồn máy bay không gây thêm quá một lần thức giấc mỗi đêm (Samel và cs., 2007). Đây là đề xuất của nhà nghiên cứu cho một sân bay, có liên quan đến phương án bảo vệ của chính sân bay đó, không phải chuẩn quốc tế.

Tác động trên cấu trúc của cả đêm#

Một RCT chéo trong phòng thí nghiệm năm 2026 đo tác động trên cả đêm ở 25 người trẻ (tuổi trung bình 28,5) (Basner và cs., 2026). Đêm ồn có 93 sự kiện với đỉnh 45, 55 và 65 dB LAS,max, mức trung bình 43,2 dBA, so với 23,7 dBA ở đêm chứng. Mỗi điều kiện chỉ một đêm; chúng tôi chưa đọc được mục tài trợ.

Chỉ số PSGĐêm yên tĩnhĐêm ồn gián đoạn
Ngủ sâu N3 (phút)101,077,6
N2 (phút)196,1216,9
REM (phút)118,1111,0
Thời gian thức sau khi đã ngủ (phút)17,723,7
Hiệu suất ngủ96,4%94,9%

N3 giảm khoảng 23 phút và N2 tăng khoảng 21 phút. Thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset, WASO), REM và hiệu suất ngủ thay đổi ít, không có ý nghĩa thống kê. Phần so sánh tiếng ồn hồng và nút tai trong cùng thử nghiệm thuộc chương về nút tai, âm nền và kích thích âm.

Hạ mức đỉnh không phải lúc nào cũng đổi được giấc ngủ đo được. Một thực nghiệm phát âm thanh đơn vị hồi sức tích cực (intensive care unit, ICU) giữ LAeq 47 dB và hạ mức tối đa từ 64 xuống 56 dBA (Persson Waye và cs., 2012). Ở 15 người khoẻ, các chỉ số giấc ngủ không tốt lên; cả hai đêm phơi nhiễm đều ít ngủ sóng chậm hơn đêm chứng. Đây là tóm tắt hội nghị; bài đầy đủ năm 2013 ở nam giới khoẻ cho cùng kết luận (Persson Waye và cs., 2013).

Kết quả ICU có vẻ ngược với OR 1,35 mỗi 10 dB của phân tích gộp thực địa. Lý do khả dĩ: LAeq giữ nguyên, sự kiện dày đặc, mẫu nhỏ, âm ICU khác âm giao thông. Đơn vị phân tích cũng khác: một bên là xác suất mỗi sự kiện, một bên là chỉ số cả đêm.

Tổng quan Lancet năm 2014 đặt các thay đổi này vào bối cảnh lâm sàng (Basner và cs., 2014). Vào giấc chậm, thức sớm, ít ngủ sâu và REM, nhiều thức và ngủ nông đều không đặc hiệu cho tiếng ồn. Nhìn chung, chúng nhẹ hơn các rối loạn giấc ngủ lâm sàng như ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu PSG, actigraphy hay nhịp tim nào ở Việt Nam về phản ứng khi ngủ với xe máy, còi, karaoke, công trình đêm hay ồn sân bay.
  • Chúng tôi chưa tìm được thực nghiệm PSG so sánh ngưỡng hay xác suất thức giấc do ồn giữa người mất ngủ và người ngủ tốt.
  • Kết quả Nghiên cứu Giấc ngủ Quốc gia của FAA chưa có bản công bố mà chúng tôi tìm được; hiện mới có giao thức.
  • Chúng tôi chưa đọc trực tiếp phương trình gốc của đường thức giấc STRAIN và đường ANSI.
  • Về thời điểm trong đêm, như chuyến bay sáng sớm so với nửa đêm, chúng tôi chưa tìm được con số, chỉ có kết quả định tính.
  • Phản ứng của trẻ em với từng sự kiện ồn, đo bằng PSG ngoài bệnh viện: chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu mở được.

Viết tắt trong trang

ECG
điện tâm đồ (electrocardiography)
EEG
điện não đồ (electroencephalography)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
REM
giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Một tiếng ồn làm thức giấc thế nào. Trong: Tập 11 — Tiếng ồn và giấc ngủ: thức giấc, tim mạch, khảo sát dân số và các biện pháp giảm ồn. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/tieng-on-va-giac-ngu/thuc-giac-tren-dien-nao/