giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Ngáy, ngưng thở khi ngủ và cắt amiđan ở trẻ

Chương 6 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 22 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi: bao nhiêu trẻ có ngưng thở khi ngủ, và con số ấy phụ thuộc vào cách đo ra sao. Chương cũng hỏi phẫu thuật cắt amiđan kèm nạo VA (tổ chức lympho vòm họng, adenoid) đã được thử nghiệm với kết quả gì. Tỉ lệ ở trẻ đi học dao động từ khoảng 1% đến khoảng 6% trong các nghiên cứu chất lượng cao, nhưng có thể lên tới 40,3% chỉ vì đổi ngưỡng chẩn đoán. Hai thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở Mỹ không thấy phẫu thuật sớm cải thiện kết cục chính về chú ý và chức năng điều hành. Nhóm phẫu thuật có đa ký giấc ngủ, triệu chứng, hành vi và chất lượng cuộc sống tốt hơn nhóm chờ; trừ đa ký giấc ngủ, phần lớn các kết cục này do người chăm sóc không mù chấm. Ở nhóm chỉ theo dõi của CHAT, 46% trẻ có đa ký giấc ngủ trở về bình thường sau 7 tháng; ở PATS, 13,2% trẻ nhóm chờ tiến triển lên chỉ số ngưng thở–giảm thở ≥ 3 sau 12 tháng. Các nghiên cứu Việt Nam đều là mẫu bệnh viện, phần lớn ở một cơ sở và do hai nhóm tác giả thực hiện; khi có đo khách quan thì là đa ký hô hấp, không phải đa ký giấc ngủ đầy đủ.

Ngưng thở khi ngủ ở người lớn được trình bày ở Tập 7 Y học giấc ngủ. Mối liên quan với rối loạn tăng động giảm chú ý (attention-deficit/hyperactivity disorder, ADHD) được bàn thêm ở chương Mất ngủ, hoảng sợ ban đêm, ADHD, tự kỷ và melatonin ở trẻ.

Đo ngưng thở khi ngủ ở trẻ: thiết bị, ngưỡng và người báo cáo#

Ngáy là tiếng thở rung khi ngủ; rối loạn thở khi ngủ (sleep-disordered breathing) là cụm rộng hơn, gồm ngáy, thở miệng và các cơn ngưng thở. Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea, OSA) là khi đường thở trên bị hẹp hay tắc lặp lại trong lúc ngủ. Hướng dẫn của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) dùng tên hội chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn (obstructive sleep apnea syndrome, OSAS).

Mức độ được tính bằng chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index, AHI), tức số cơn ngưng thở và giảm thở mỗi giờ. Đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) ghi cả điện não, nhịp thở và độ bão hoà oxy, vì vậy biết trẻ đang ngủ hay thức. Đa ký hô hấp tại nhà chỉ ghi luồng khí, cử động thở và oxy, không ghi điện não. Khi không có điện não, nhiều bài gọi chỉ số tương ứng là chỉ số biến cố hô hấp (respiratory event index, REI).

Cách đo thứ ba là bảng hỏi cha mẹ, như Bảng hỏi giấc ngủ nhi khoa (Pediatric Sleep Questionnaire, PSQ), hỏi về ngáy, thở miệng, cơn ngưng thở cha mẹ thấy và hành vi ban ngày. Ba cách đo cho ba loại con số khác nhau, vì vậy mỗi con số trong chương đều kèm cách đo.

Thiết kế cũng khác nhau: nghiên cứu cộng đồng hai pha, thuần tập do cha mẹ báo cáo, thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) và nghiên cứu trước–sau không nhóm chứng. Tỉ số chênh (odds ratio, OR) được ghi kèm khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) khi bài có.

Tỉ lệ: con số phụ thuộc vào ngưỡng chẩn đoán#

Ba ước tính chính#

Hướng dẫn AAP năm 2012 dựa trên tổng quan y văn 1999–2010, gồm 3.166 bài, trong đó 350 bài có dữ liệu liên quan (Marcus và cs., 2012). Theo hướng dẫn, tỉ lệ OSAS ở trẻ trong các nghiên cứu chất lượng cao nằm trong khoảng 1,2–5,7%. Hướng dẫn không đưa con số tỉ lệ ngáy thường xuyên.

Nghiên cứu duy nhất trong bộ nguồn đo PSG trên mẫu cộng đồng trẻ châu Á là ở Hồng Kông (Li và cs., 2010). Pha một thu 6.447 bảng hỏi cha mẹ (70,3% của 9.172) ở 13 trường tiểu học chọn ngẫu nhiên tại Sa Điền và Đại Bộ. Pha hai đo PSG qua đêm cho 619 trẻ 5–13 tuổi: 410 trẻ nguy cơ cao và 209 trẻ nguy cơ thấp. Tỉ lệ OSAS có trọng số theo tiêu chuẩn Phân loại quốc tế các rối loạn giấc ngủ bản 2 (International Classification of Sleep Disorders, ICSD-II) là 4,8% (KTC 95% 4,3–5,4). Tỉ lệ ở bé trai là 5,8% (5,1–6,7), ở bé gái 3,8% (3,2–4,5).

Ở Pennsylvania (Mỹ), 5.740 học sinh từ mẫu giáo lớn đến lớp 5 được sàng lọc bằng bảng hỏi cha mẹ, với tỉ lệ phản hồi 78,5% (Bixler và cs., 2009). Có 700 trẻ được chọn ngẫu nhiên đo PSG một đêm ở phòng thí nghiệm của trường đại học (tỉ lệ phản hồi 70,0%). Tỉ lệ rối loạn thở khi ngủ mức vừa, định nghĩa là AHI ≥ 5, là 1,2%. Chúng tôi mới đọc tóm tắt bài này.

Cùng một mẫu, từ 4,8% đến 40,3%#

Mẫu Hồng Kông cho thấy rõ nhất vai trò của ngưỡng. Với cùng các bản ghi PSG, tỉ lệ "ngưng thở khi ngủ" dao động từ 4,8% đến 40,3% tuỳ chọn AHI ≥ 1, ≥ 1,5, ≥ 3 hay ≥ 5. Tỉ lệ còn tuỳ có đòi hỏi triệu chứng kèm theo hay không (Li và cs., 2010). Số trẻ chưa trọng số đạt từng ngưỡng là 266 (AHI ≥ 1), 197 (≥ 1,5), 102 (≥ 3) và 67 (≥ 5). Thêm triệu chứng vào tiêu chuẩn làm tỉ lệ giảm mạnh. Tác giả kêu gọi nghiên cứu kết cục để xác định ngưỡng có ý nghĩa lâm sàng.

NguồnMẫuCách đoNgưỡngTỉ lệ
AAP 2012Tổng hợp nghiên cứu chất lượng caoNhiều cáchOSAS1,2–5,7%
Hồng Kông, Li 2010619 trẻ 5–13 tuổi đo PSG, tỉ lệ có trọng sốPSGICSD-II4,8%
Hồng Kông, cùng mẫuNhư trênPSGAHI ≥ 1 đến ≥ 5, có hay không triệu chứng4,8–40,3%
Pennsylvania, Bixler 2009700 trẻ mẫu giáo lớn – lớp 5PSGAHI ≥ 51,2%

Như vậy, khác biệt giữa các con số chủ yếu đến từ ngưỡng AHI và việc có đòi hỏi triệu chứng hay không, chứ không nhất thiết là khác biệt thật giữa quần thể. Khi một nguồn nói "X% trẻ bị ngưng thở khi ngủ", câu hỏi đầu tiên là ngưỡng nào và đo bằng gì SL.

Trong mẫu đo PSG ở Hồng Kông, ngáy thường xuyên được báo ở 60,4% bé trai và 51,6% bé gái. Mẫu này đã được làm giàu nhóm nguy cơ cao, vì vậy đây không phải tỉ lệ ngáy trong dân số. Bài cũng lệch số nhỏ về nhóm nguy cơ cao: tóm tắt ghi 586 trẻ (9,1%), thân bài ghi 591 (9,2%).

Amiđan to có phải yếu tố độc lập#

Hai nghiên cứu PSG cộng đồng cho kết quả ngược nhau. Ở Hồng Kông, giới nam, chỉ số khối cơ thể (body mass index, BMI) chuẩn hoá theo tuổi (z-score) và amiđan–VA to cùng đi kèm OSAS một cách độc lập (Li và cs., 2010). Ở Pennsylvania, vòng eo và ngáy đi kèm mọi mức rối loạn thở khi ngủ, còn kích thước amiđan nhìn bằng mắt không phải yếu tố nguy cơ độc lập (Bixler và cs., 2009).

Lý do khả dĩ cho kết quả trái chiều là khác quần thể (tỉ lệ béo phì, dân tộc), khác cách đánh giá amiđan, khác ngưỡng chẩn đoán (ICSD-II so với AHI ≥ 5) và khác bộ biến hiệu chỉnh.

Ngáy, rối loạn thở khi ngủ và hành vi#

Thuần tập sinh dựa trên dân số ALSPAC (Avon Longitudinal Study of Parents and Children) ở Anh hỏi cha mẹ về ngáy, thở miệng và cơn ngưng thở. Các lần hỏi rơi vào 6, 18, 30, 42, 57 và 69 tháng tuổi (Bonuck và cs., 2012). Mỗi trẻ cần ít nhất hai lần khảo sát để được xếp vào một trong 5 nhóm quỹ đạo triệu chứng. Hành vi được đo bằng Bảng hỏi điểm mạnh và khó khăn (Strengths and Difficulties Questionnaire, SDQ) do cha mẹ trả lời. "Có vấn đề" là thuộc nhóm 10% điểm cao nhất.

Phân tích gồm 9.140 trẻ lúc 4 tuổi và 8.098 trẻ lúc 7 tuổi, hiệu chỉnh 15 yếu tố gây nhiễu. Theo tóm tắt, các nhóm có triệu chứng đi kèm tỉ số chênh có vấn đề hành vi lớn hơn 1, tăng khoảng 20–100% tính theo tỉ số chênh (không phải theo nguy cơ) so với nhóm không triệu chứng. Ở nhóm triệu chứng nặng nhất lúc 7 tuổi, OR là 1,85 (1,30–2,63) với tăng động, 1,60 (1,18–2,16) với hành vi chống đối và 1,37 (1,04–1,80) với khó khăn trong quan hệ đồng trang lứa. Nhóm có triệu chứng xuất hiện muộn có OR 1,65 (1,21–2,07) với vấn đề cảm xúc và 1,88 (1,42–2,49) với tăng động.

Đây là OR, không phải tỉ số nguy cơ; với kết cục định nghĩa là 10% điểm cao nhất, OR vẫn xa 1 hơn tỉ số nguy cơ tương ứng SL. Thuần tập không đo PSG. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt. Cùng một người, là cha mẹ, báo cáo cả triệu chứng thở lẫn hành vi, vì vậy thiên lệch người báo cáo có thể làm cả hai cùng tăng.

Đặt cạnh các thử nghiệm phẫu thuật ở mục sau, bức tranh có một điểm chung SL. Liên quan với hành vi, và cải thiện hành vi sau mổ, thấy rõ khi cha mẹ chấm; giáo viên ở CHAT cũng thấy hành vi cải thiện. Với chức năng điều hành và chú ý, chênh lệch giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê. Điều này đúng cả khi người chăm sóc chấm bằng thang đánh giá hành vi về chức năng điều hành (Behavior Rating Inventory of Executive Function, BRIEF) ở PATS (p = 0,27). Khác biệt vì vậy nằm ở loại kết cục nhiều hơn ở người chấm SL.

Hướng dẫn AAP 2012 và hai thử nghiệm phẫu thuật#

Hướng dẫn viết gì#

Hướng dẫn thực hành lâm sàng AAP 2012 có 8 khuyến cáo hành động, mỗi khuyến cáo kèm mức chất lượng bằng chứng từ A đến D (Marcus và cs., 2012). Thuật lại một số khuyến cáo chính, đúng như văn bản:

  • Hỏi trẻ có ngáy không khi khám định kỳ (bằng chứng B).
  • Làm PSG cho trẻ ngáy thường xuyên kèm dấu hiệu OSAS (bằng chứng A), hoặc chuyển khám chuyên khoa giấc ngủ hay tai mũi họng (bằng chứng D, mức "lựa chọn").
  • Phẫu thuật cắt amiđan và nạo VA (adenotonsillectomy) là lựa chọn hàng đầu khi trẻ có OSAS kèm amiđan to (bằng chứng B).
  • Thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure, CPAP) khi còn triệu chứng sau mổ hoặc khi không mổ (bằng chứng B).
  • Xịt corticosteroid mũi là "lựa chọn" cho OSAS nhẹ, AHI < 5, khi chống chỉ định phẫu thuật hoặc còn OSAS nhẹ sau mổ (bằng chứng B); giảm cân kèm điều trị khác ở trẻ thừa cân hoặc béo phì (bằng chứng C).

Một số thành viên tiểu ban công bố quan hệ tài chính với hãng thiết bị thở (Philips Respironics, ResMed) và hãng dược. Hướng dẫn ra năm 2012, trước cả hai thử nghiệm trình bày dưới đây (2013 và 2023). Đây là thuật lại hướng dẫn, không phải lời khuyên của chúng tôi.

Thử nghiệm thứ nhất: ngưng thở nhẹ–vừa ở trẻ 5–9 tuổi#

Thử nghiệm phẫu thuật cắt amiđan ở trẻ (Childhood Adenotonsillectomy Trial, CHAT) là RCT đa trung tâm, mù đơn, ở 7 trung tâm giấc ngủ học thuật của Mỹ (Marcus và cs., 2013). Có 464 trẻ 5–9 tuổi, tuyển từ 1/2008 đến 9/2011. Nhóm can thiệp được phẫu thuật cắt amiđan và nạo VA trong vòng 4 tuần. Nhóm chứng được theo dõi chờ đợi kèm chăm sóc hỗ trợ (watchful waiting).

Trẻ được vào khi AHI ≥ 2 hoặc chỉ số ngưng thở tắc nghẽn ≥ 1/giờ trên PSG chuẩn hoá, chấm tập trung; trẻ có AHI > 30 bị loại. Kết cục chính là điểm chú ý–chức năng điều hành trên bộ đánh giá thần kinh tâm lý NEPSY sau 7 tháng.

Chênh lệch ở kết cục chính không có ý nghĩa thống kê. Điểm tăng 7,1 ± 13,9 ở nhóm phẫu thuật và 5,1 ± 13,4 ở nhóm theo dõi chờ đợi (p = 0,16); cả hai nhóm đều tăng điểm.

Kết cục phụ nghiêng về nhóm phẫu thuật. PSG trở về bình thường ở 79% trẻ được mổ, nhưng cũng ở 46% trẻ chỉ theo dõi (p < 0,001). Điểm hành vi Conners do người chăm sóc chấm giảm 2,9 so với 0,2 (p = 0,01); do giáo viên chấm giảm 4,9 so với 1,5 (p = 0,04). Điểm chất lượng cuộc sống PedsQL tăng 5,9 so với 0,9 (p < 0,001) (Marcus và cs., 2013).

Cha mẹ không bị làm mù, do đó kết cục cha mẹ chấm có thể thiên lệch; giáo viên chấm cũng thấy lợi ích. Theo phân tích phân nhóm, trẻ da đen hưởng lợi tương đối ít hơn; đây là kết quả phân nhóm, không phải kết cục chính SL. Có 15 biến cố nghiêm trọng: 6 ở nhóm phẫu thuật và 9 ở nhóm chờ. Thử nghiệm loại trẻ OSA nặng (AHI > 30, độ bão hoà oxy thấp kéo dài), trẻ có BMI z-score ≥ 3 và trẻ đang dùng thuốc ADHD; kết quả không áp dụng cho các nhóm này. Nguồn tài trợ là Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH); tác giả nêu không có hỗ trợ thương mại.

Thử nghiệm thứ hai: ngáy và ngưng thở nhẹ ở trẻ 3–12 tuổi#

Thử nghiệm PATS (Pediatric Adenotonsillectomy Trial for Snoring) cũng là RCT đa trung tâm, mù đơn, ở 7 trung tâm của Mỹ, đăng ký NCT02562040 (Redline và cs., 2023). Trẻ được vào khi ngáy thường xuyên ≥ 3 đêm mỗi tuần trong ≥ 3 tháng, có amiđan to và AHI tắc nghẽn < 3, tức chưa đạt hoặc chỉ đạt ngưỡng ngưng thở nhẹ. Có 458 trẻ 3–12,9 tuổi được phân ngẫu nhiên, 231 vào nhóm phẫu thuật sớm và 227 vào nhóm theo dõi chờ đợi.

Hai kết cục chính đo sau 12 tháng đều không có ý nghĩa thống kê. Với chức năng điều hành theo thang BRIEF do người chăm sóc chấm (chỉ số tổng GEC), chênh lệch là −0,96 (KTC 95% −2,66 đến 0,74; p = 0,27). Với chú ý duy trì đo bằng nhiệm vụ Go/No-go, chênh lệch là 0,05 (−0,18 đến 0,27; p = 0,68).

Kết cục phụ, phần lớn do người chăm sóc báo cáo, nghiêng về nhóm phẫu thuật: điểm hành vi CBCL giảm 3,09, PedsQL tăng 4,76 và bách phân vị huyết áp tâm thu giảm 9,02 (Redline và cs., 2023). Ở 306 trẻ có PSG theo dõi, AHI ≥ 3 sau 12 tháng gặp ở 1,3% nhóm phẫu thuật và 13,2% nhóm chờ. Chênh nguy cơ là −11,2% (KTC 97% −17,5 đến −4,9%). AHI ≥ 5 gặp ở 0% và 7,2%.

Theo tính toán của nhóm biên tập, khoảng 87% trẻ nhóm chờ không tiến triển lên AHI ≥ 3 trong 12 tháng SL. Biến cố nghiêm trọng liên quan phẫu thuật, chủ yếu chảy máu thứ phát, được tóm tắt ghi là 6 trẻ (2,7%). Bảng 4 ghi 5 ca chảy máu sau mổ ở nhóm phẫu thuật cộng 1 trẻ nhóm chờ đã chuyển sang mổ.

Cỡ mẫu nhóm chờ được ghi không thống nhất trong bài (228, 227 hay 237); khoảng 86% trẻ hoàn thành 12 tháng. Chúng tôi chưa đọc được phần nguồn tài trợ.

CHAT (2013)PATS (2023)
Trẻ464 trẻ 5–9 tuổi458 trẻ 3–12,9 tuổi
Mức bệnhAHI ≥ 2 hoặc chỉ số ngưng thở tắc nghẽn ≥ 1; loại AHI > 30Ngáy thường xuyên, AHI tắc nghẽn < 3, amiđan to
So sánhPhẫu thuật sớm so với theo dõi chờ đợiNhư CHAT
Theo dõi7 tháng12 tháng
Kết cục chínhNEPSY chú ý–điều hành: p = 0,16BRIEF GEC p = 0,27; Go/No-go p = 0,68
Nhóm chờ46% có PSG trở về bình thường13,2% tiến triển lên AHI ≥ 3
Kết cục phụPSG, hành vi, PedsQL tốt hơn ở nhóm mổHành vi, PedsQL, huyết áp tốt hơn ở nhóm mổ
Người chấm kết cục phụPhần lớn cha mẹ không mù; giáo viên cũng thấy lợi íchPhần lớn người chăm sóc không mù

Hướng dẫn và thử nghiệm: hai phía#

Một phía là hướng dẫn AAP 2012, xếp phẫu thuật cắt amiđan và nạo VA là lựa chọn hàng đầu cho OSAS có amiđan to (bằng chứng B). Phía kia là hai thử nghiệm ngẫu nhiên, CHAT ở OSA nhẹ–vừa và PATS ở ngáy hay OSA nhẹ. Cả hai đều không thấy chênh lệch có ý nghĩa thống kê so với theo dõi chờ đợi ở kết cục chính về chú ý và chức năng điều hành. Ở cả hai thử nghiệm, một phần đáng kể nhóm không mổ không xấu đi. Ở CHAT, 46% trẻ nhóm chờ tự bình thường hoá PSG trong 7 tháng; ở PATS, 13,2% tiến triển lên AHI ≥ 3, tức khoảng 87% không tiến triển SL.

Lợi ích của phẫu thuật thấy ở PSG, triệu chứng, hành vi và chất lượng cuộc sống; ngoài PSG, phần lớn các kết cục này do cha mẹ biết con được mổ chấm. Lý do khả dĩ cho độ vênh là hướng dẫn ra trước thử nghiệm và hai bên chọn kết cục khác nhau. Thử nghiệm loại trẻ OSA nặng. Một số thành viên tiểu ban hướng dẫn có quan hệ tài chính với hãng thiết bị thở; đây là thông tin công khai lợi ích, và khó dùng để giải thích chiều của khuyến cáo phẫu thuật SL. Hai thử nghiệm không trả lời câu hỏi về trẻ OSA nặng, trẻ béo phì nặng hay trẻ đang dùng thuốc ADHD SL.

Việt Nam: mẫu bệnh viện, bảng hỏi và đa ký hô hấp#

Mọi nghiên cứu Việt Nam chúng tôi có về ngáy và ngưng thở ở trẻ đều là mẫu bệnh viện. Phần lớn ở Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội), do hai nhóm tác giả thực hiện, với các mẫu có thể chồng lên nhau. Không nghiên cứu nào dùng PSG đầy đủ; OSA được xác định bằng đa ký hô hấp tại nhà, không ghi điện não, với ngưỡng AHI hay REI ≥ 1/giờ.

Trẻ có VA–amiđan quá phát#

Một nghiên cứu cắt ngang gồm 114 trẻ 2,5–12 tuổi có VA–amiđan quá phát và OSA tại Bệnh viện Nhi Trung ương (6/2017–8/2019). AHI trung bình trên đa ký hô hấp tại nhà là 12,6 ± 11,2/giờ (Phí Thị Quỳnh Anh và cs., 2022). Nhóm 51 trẻ được phẫu thuật có AHI 23,4 ± 13,1, nhóm 63 trẻ không phẫu thuật 3,9 ± 2,7. Có 38,6% (44/114) ở mức nặng, trong đó 32 trẻ có AHI > 20. SpO₂ thấp nhất trung bình là 75,7 ± 13,7%.

Trong mẫu này, 15,8% thừa cân và 10,5% béo phì, tổng 26,3%, trong khi 27,2% suy dinh dưỡng. Đây là mẫu chuyển tuyến trung ương, nặng hơn cộng đồng. Đa ký hô hấp không đo giấc ngủ, có thể cho AHI thấp hơn PSG. Bài ghi lẫn tỉ lệ ngáy (97,6% và 96,7%) và số trẻ không phẫu thuật (3 trong phần chữ, 63 trong bảng).

Một bài khác của cùng nhóm báo cáo 63 trẻ 2–12 tuổi có amiđan quá phát độ ≥ II và OSA nhẹ–vừa, tại cùng bệnh viện, 2016–2019 (Phí Thị Quỳnh Anh và cs., 2023). Thiết kế là can thiệp trước–sau, không ngẫu nhiên, không nhóm chứng, không làm mù. Sau 3 tháng dùng thuốc kháng thụ thể leukotriene, AHI giảm từ 3,9 ± 2,9 xuống 0,9 ± 1,0/giờ (p = 0,001), và 47,6% trẻ đạt AHI < 1. Tỉ lệ OSA mức vừa giảm từ 25,4% xuống 1,6%; SpO₂ thấp nhất tăng từ 78,8% lên 83,7% (p = 0,016).

Số lần ngáy mỗi đêm giảm từ 276,6 xuống 154,8, nhưng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,120), dù phần bàn luận gọi là có ý nghĩa. Bảng 1 cộng giới ra 72 thay vì 63 trẻ. Bài không nêu tài trợ. Chúng tôi thuật lại kết quả, không nêu liều và không coi đây là khuyến nghị dùng thuốc.

Hai bài, một nhóm trẻ. Nhóm 63 trẻ không phẫu thuật của bài năm 2022 nhiều khả năng là cùng mẫu với nghiên cứu thuốc kháng leukotriene SL: cùng số trẻ, cùng AHI 3,9 và cùng SpO₂ thấp nhất 78,8%. Hai bài vì vậy không được cộng như hai mẫu độc lập. Khi đọc kết quả "AHI giảm từ 3,9 xuống 0,9", có hai điểm phải đọc kèm SL. Không có nhóm chứng để tách tác động của thuốc với diễn tiến tự nhiên và hồi quy về trung bình. Ở nhóm theo dõi chờ đợi của CHAT, 46% trẻ đã tự bình thường hoá PSG trong 7 tháng.

Trẻ ADHD có ngưng thở khi ngủ#

Nhóm nghiên cứu ở Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương công bố ít nhất ba bài trên một thuần tập trẻ ADHD 6–12 tuổi, 2022–2024. Các con số dưới đây vì vậy là một nhóm trẻ được nhìn từ nhiều phía, không phải nhiều mẫu.

Bài thứ nhất gồm 524 trẻ ADHD (10/2022–9/2023), tuổi trung bình 7,8, 87,4% là nam (Nguyen-Thi-Phuong và cs., 2025). Trẻ được sàng lọc bằng PSQ; 184 trẻ có điểm PSQ > 7 được đo đa ký hô hấp tại nhà, ghi ít nhất 4 giờ. Có 122/524 trẻ, tức 23,3%, có OSA theo AHI ≥ 1/giờ, hơn 50% số ca ở mức trung bình–nặng (AHI ≥ 5). Trẻ có điểm PSQ thấp không được đo, vì vậy 23,3% có thể thấp hơn tỉ lệ thật.

Béo phì, phì đại VA–amiđan, hen và viêm mũi dị ứng gặp nhiều hơn ở nhóm có OSA, nhưng bài không nêu OR. Không có nhóm trẻ khoẻ mạnh để so; bài không có tài trợ.

Bài năm 2026 mô tả chuỗi sàng lọc mở rộng đến 10/2024. Có 629 trẻ ADHD được sàng lọc bằng PSQ, 293 trẻ có từ 8 câu "có" trở lên được đo, và 147 trẻ có đặc điểm lâm sàng phù hợp kèm REI ≥ 1/giờ (Nguyen-Thi-Phuong và cs., 2026). Theo tính toán của nhóm biên tập, 147/293 ≈ 50,2% và 147/629 ≈ 23,4% SL. Bài không tự báo cáo các tỉ lệ này.

Con số 147/293 không phải giá trị dự báo dương của PSQ, vì 147 trẻ phải thoả cả tiêu chí lâm sàng lẫn REI SL. Một bài tiếng Việt của cùng thuần tập ghi tỉ lệ OSA lúc ban đầu là 23,4% trong 629 trẻ (Nguyễn Thị Phương Mai và cs., 2025b).

Hai bài theo dõi cho hai con số khác nhau về diễn tiến. Ở 141 trẻ ADHD có OSA hoàn tất 6 tháng quản lý đa chuyên khoa cá thể hoá, REI giảm từ 11,8 ± 6,5 xuống 4,4 ± 2,8/giờ. Có 33,3% (47/141; KTC 95% 26,1–41,5) hết tiêu chuẩn OSA (Nguyen-Thi-Phuong và cs., 2026). Mọi trẻ dùng methylphenidate. Có 68 trẻ được phẫu thuật: 38 nạo VA kèm cắt amiđan, 17 chỉ cắt amiđan, 13 chỉ nạo VA. Trẻ còn được xử trí trào ngược, hen, viêm mũi dị ứng và tư vấn cân nặng.

SpO₂ thấp nhất tăng từ 78,9% lên 83,4%. Điểm giảm chú ý trên thang Vanderbilt do cha mẹ chấm giảm từ 18,7 xuống 14,4, điểm tăng động–xung động từ 17,3 xuống 13,3. Thời gian vào giấc theo nhật ký giảm từ 34,7 xuống 15,7 phút.

Ở toàn thuần tập, trẻ được xử trí đồng thời ADHD và rối loạn giấc ngủ (gồm thuốc ADHD, melatonin cho rối loạn giai đoạn ngủ muộn và cắt VA–amiđan cho trẻ OSA có quá phát). Tỉ lệ OSA giảm từ 23,4% xuống 17,0% sau 1 tháng và 16,0% sau 2 tháng (Nguyễn Thị Phương Mai và cs., 2025b). Cùng lúc, tỉ lệ mất ngủ giảm từ 40,2% xuống 9,0%. Trong các rối loạn có số theo dõi trong dữ kiện, OSA giảm ít nhất SL.

Cả hai bài theo dõi đều không có nhóm chứng và không làm mù; cha mẹ biết con được can thiệp. Mọi trẻ đều dùng thuốc ADHD, vì vậy không tách được tác động của xử trí OSA với thuốc, với diễn tiến tự nhiên hay với hồi quy về trung bình. Các bài này không cho phép nói can thiệp nào đã tạo ra cải thiện. Hai bài ghi không có tài trợ, không xung đột lợi ích (bài tiếng Việt không nêu tài trợ).

Bảng hỏi PSQ bản tiếng Việt và giới hạn của nó#

Có hai bản PSQ tiếng Việt được dịch độc lập, một ở TP.HCM và một ở Hà Nội, chưa được đối chiếu với nhau.

Bản V-PSQ 22 mục được kiểm định ở trẻ 3–14 tuổi khám hô hấp tại TP.HCM, ở phòng khám hô hấp Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM và Phòng khám CHAC 1 (Le Thi Minh Thu và cs., 2023). Độ tin cậy tốt: Cronbach's alpha toàn bộ 0,866, tương quan lặp lại Spearman 0,823. Nhưng ở 20 trẻ (tuổi trung bình 7,55) được đo đa ký hô hấp loại III, điểm V-PSQ không tương quan với AHI: rho = −0,012 (p = 0,96). Mẫu 20 trẻ quá nhỏ để loại trừ một tương quan vừa phải. Đây vẫn là dữ liệu Việt Nam duy nhất chúng tôi tìm được so PSQ với đo khách quan.

Bản dịch ở Hà Nội chỉ gồm thang rối loạn hô hấp liên quan giấc ngủ của PSQ. Bản này được thích ứng ở 60 trẻ 6–14 tuổi khám dị ứng–miễn dịch tại Bệnh viện Nhi Trung ương (2021–2022), 86,7% người trả lời là mẹ (Nguyen Ngoc Quynh Le và cs., 2023). Cronbach's alpha toàn thang là 0,763 theo bảng kết quả, trong khi tóm tắt ghi 0,781; hệ số Kappa lặp lại 0,498–0,832. Bài không so với đo khách quan.

Như vậy có một độ vênh. Nghiên cứu kiểm định ở TP.HCM không thấy điểm PSQ đi kèm AHI, trong khi các nghiên cứu ADHD ở Bệnh viện Nhi Trung ương dùng PSQ làm bước lọc trước khi đo đa ký hô hấp. Lý do khả dĩ là mẫu kiểm định quá nhỏ và hai bản dịch khác nhau. Hai lý do khác là ngưỡng OSA rất thấp (AHI hay REI ≥ 1) trên thiết bị không ghi điện não, và quần thể khác nhau (trẻ khám hô hấp so với trẻ ADHD). Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đối chiếu PSQ với PSG đầy đủ. Hệ quả SL: các tỉ lệ OSA khoảng 23% ở trẻ ADHD phụ thuộc vào một bước sàng lọc chưa được kiểm định độ chính xác.

Phẫu thuật VA–amiđan và ngáy ở Huế#

Tại Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (3/2017–6/2018), 49 trẻ ≤ 15 tuổi ngủ ngáy có VA và/hoặc amiđan quá phát được nạo VA và/hoặc cắt amiđan (Lê Thanh Thái và cs., 2018). Tỉ lệ không còn ngáy theo đánh giá lâm sàng và gia đình là 75,5% lúc ra viện và 93,9% sau 3 tháng; 3 trẻ (6,1%) còn ngáy. Phù lưỡi gà gặp ở 10,2%, chảy máu sớm hoặc muộn ở 8,2%.

Bài không đo PSG hay AHI. Kết cục là ngáy theo hỏi bệnh, ghi âm hoặc gia đình kể, và thang điểm dùng trong bài không được định nghĩa rõ. Nghiên cứu không có nhóm chứng, không làm mù, và trẻ không tái khám bị loại, vì vậy có thể có thiên lệch hao hụt. Chúng tôi thuật lại kết quả, không coi đây là khuyến nghị phẫu thuật.

Bảng dưới gom các nghiên cứu Việt Nam. Bảng hỏi thói quen ngủ của trẻ (Children's Sleep Habits Questionnaire, CSHQ) do cha mẹ trả lời.

Nghiên cứuCơ sởTrẻĐoThiết kếChồng mẫu
VA–amiđan quá phát, 2022Bệnh viện Nhi Trung ương114, 2,5–12 tuổiĐa ký hô hấp tại nhàCắt ngang63 trẻ không mổ trùng với bài 2023
Thuốc kháng leukotriene, 2023Bệnh viện Nhi Trung ương63, 2–12 tuổiĐa ký hô hấp tại nhàTrước–sau, không nhóm chứngNhư trên
ADHD và OSA, 2025Bệnh viện Nhi Trung ương524, 6–12 tuổiPSQ rồi đa ký hô hấpCắt ngangCùng thuần tập ADHD
ADHD, 2 tháng, 2025Bệnh viện Nhi Trung ương629, 6–12 tuổiCSHQ, đa ký hô hấpTrước–sauCùng thuần tập ADHD
ADHD và OSA, 6 tháng, 2026Bệnh viện Nhi Trung ương141, 6–12 tuổiĐa ký hô hấp, thang VanderbiltTrước–sauCùng thuần tập ADHD
V-PSQ, 20232 cơ sở TP.HCM20 trẻ đo khách quanPSQ, đa ký hô hấp loại IIIKiểm địnhKhông
PSQ Hà Nội, 2023Bệnh viện Nhi Trung ương60, 6–14 tuổiPSQKiểm địnhKhông rõ
Ngáy sau phẫu thuật, 2018Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế49, ≤ 15 tuổiHỏi bệnh, gia đình kểTrước–sauKhông

Độ chắc chắn của các kết luận chính#

Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.

Câu hỏiMức chắc chắn
Ở trẻ ngưng thở khi ngủ nhẹ–vừa hoặc ngáy, phẫu thuật cắt amiđan và nạo VA sớm có cải thiện chú ý và chức năng điều hành so với theo dõi chờ đợi (hai thử nghiệm: chênh lệch không có ý nghĩa thống kê)?Cao
Phẫu thuật cắt amiđan và nạo VA sớm có làm đa ký giấc ngủ trở về bình thường nhiều hơn theo dõi chờ đợi?Cao
Phẫu thuật cắt amiđan và nạo VA sớm có cải thiện hành vi và chất lượng cuộc sống do người chăm sóc chấm?Vừa
Ngáy và rối loạn thở khi ngủ có đi kèm vấn đề hành vi ở trẻ?Rất thấp

Điều chưa biết#

  • Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào đo PSG trên mẫu cộng đồng trẻ Việt Nam hay trẻ Đông Nam Á; dữ liệu PSG cộng đồng ở trẻ châu Á trong bộ nguồn chỉ có Hồng Kông. Vì vậy chưa có tỉ lệ ngưng thở khi ngủ ở trẻ Việt Nam nói chung.
  • Chưa có nghiên cứu Việt Nam nào đối chiếu PSQ bản tiếng Việt với PSG đầy đủ, và hai bản dịch PSQ chưa được so với nhau.
  • Phần lớn nguồn Việt Nam là một bệnh viện, nhiều bài cùng một nhóm tác giả với mẫu có thể chồng lấn; nguồn đa cơ sở có chọn mẫu xác suất còn ít.
  • Chúng tôi chưa tìm được thử nghiệm ngẫu nhiên nào ở Việt Nam về phẫu thuật VA–amiđan hay thuốc cho trẻ ngáy và ngưng thở khi ngủ.
  • Chúng tôi chưa mở được bài Pulmonary Therapy 2025 về OSA và rối loạn giấc ngủ ở trẻ ADHD. Cũng chưa mở được tổng quan dịch tễ ngáy và OSA ở trẻ của Lumeng và Chervin (2008) và phần tài trợ của thử nghiệm thứ hai.

Viết tắt trong trang

AAP
Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
AHI
chỉ số ngưng thở–giảm thở (apnea–hypopnea index)
BMI
chỉ số khối cơ thể (body mass index)
CPAP
thở áp lực dương liên tục (continuous positive airway pressure)
GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NIH
Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institutes of Health)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
OSA
ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Ngáy, ngưng thở khi ngủ và cắt amiđan ở trẻ. Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/ngay-va-ngung-tho-khi-ngu-o-tre/