giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Màn hình, ánh sáng buổi tối và giấc ngủ của trẻ

Chương 5 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 23 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi: màn hình và ánh sáng buổi tối đi kèm giấc ngủ của trẻ đến mức nào, và khi giảm màn hình thật trong thử nghiệm thì giấc ngủ có thay đổi không. Các phân tích gộp quan sát nhất quán về hướng: dùng màn hình nhiều hơn, nhất là quanh giờ ngủ, đi kèm ngủ ngắn hơn và đi ngủ muộn hơn. Nhưng độ lớn thường nhỏ, gần như toàn bộ dữ liệu là cắt ngang và tự báo cáo, và liên quan theo thời gian đi theo cả hai hướng, nên chiều nhân quả chưa rõ. Thử nghiệm ngẫu nhiên duy nhất chúng tôi có đo giấc ngủ bằng điện não đồ, ở gia đình Đan Mạch, giảm màn hình giải trí trong 2 tuần mà không thấy giấc ngủ thay đổi có ý nghĩa. Ở mức cơ chế, ba thực nghiệm nhỏ cùng chiều gợi ý melatonin của trẻ nhạy với ánh sáng buổi tối hơn người lớn. Nhưng chỉ một thực nghiệm so trực tiếp trẻ với người lớn và không thực nghiệm nào đo giấc ngủ sau đó.

Ánh sáng và nhịp sinh học ở người lớn có trong Tập 3 "Ánh sáng và nhịp". Lệch pha nhịp sinh học tuổi dậy thì có ở chương Vị thành niên: đồng hồ sinh học lùi muộn, thiếu ngủ và ngủ bù.

Trẻ dưới 5 tuổi: nhũ nhi, trẻ chập chững và mẫu giáo#

Phân tích gộp Janssen 2020#

Tổng quan hệ thống và phân tích gộp về màn hình, thời gian tĩnh tại, vận động và giấc ngủ ở trẻ dưới 5 tuổi gồm 31 bài, từ 29 mẫu nghiên cứu riêng, với 60.445 trẻ (Janssen và cs., 2020). Trong đó có 1 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT), 7 thuần tập dọc và 23 nghiên cứu cắt ngang. Chỉ 10 nghiên cứu dùng thước đo khách quan hoặc đã thẩm định, và 15/31 nghiên cứu có dưới 500 trẻ.

Thời gian xem màn hình nhiều hơn đi kèm thời lượng ngủ ngắn hơn. Độ lớn tương quan, tính theo giá trị tuyệt đối của hệ số r, là 0,09 (khoảng tin cậy, KTC 95% 0,01–0,17; I² = 90%). Theo nhóm tuổi, giá trị này là 0,07 ở nhũ nhi và 0,13 ở trẻ 1–3 tuổi (p = 0,004). Ở trẻ mẫu giáo 3–5 tuổi, giá trị là 0,10 nhưng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,203). Ước lượng gộp chỉ dựa trên 7 nghiên cứu.

Riêng màn hình buổi tối, các liên quan được báo cáo gần như đều bất lợi cho thời lượng ngủ: 2/2 ở nhũ nhi, 2/2 ở trẻ 1–3 tuổi và 3/4 ở trẻ mẫu giáo. Đây là đếm phiếu, không phải ước lượng gộp, và số nghiên cứu rất ít. Độ chắc chắn theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) là rất thấp cho gần như mọi liên quan. Tổng quan do các quỹ công tài trợ, tác giả khai không có xung đột lợi ích.

Phần lớn nghiên cứu là cắt ngang, vì vậy nhân quả ngược là khả dĩ: trẻ khó ngủ có thể được cho xem màn hình nhiều hơn. Một tương quan cỡ 0,09 nghĩa là thời gian màn hình giải thích dưới 1% biến thiên của thời lượng ngủ giữa các trẻ SL.

Màn hình cảm ứng ở trẻ 6–36 tháng#

Một khảo sát trực tuyến cắt ngang hỏi 715 phụ huynh ở Anh có con 6–36 tháng tuổi; biến giấc ngủ có khoảng 549–556 câu trả lời (Cheung và cs., 2017). Giấc ngủ được cha mẹ báo cáo bằng Bảng hỏi ngắn về giấc ngủ nhũ nhi (Brief Infant Sleep Questionnaire, BISQ). Tỉ lệ trẻ dùng màn hình cảm ứng hằng ngày tăng từ 51% ở 6–11 tháng lên 92,05% ở 25–36 tháng.

Sau hiệu chỉnh tuổi, giới, học vấn mẹ và tivi để bật làm nền, mỗi giờ dùng màn hình cảm ứng mỗi ngày đi kèm tổng thời gian ngủ ít hơn 15,6 phút. Phần này gồm ngủ đêm ít hơn khoảng 26,4 phút và ngủ ngày nhiều hơn khoảng 10,8 phút, cùng thời gian vào giấc dài hơn. Số lần thức đêm không liên quan có ý nghĩa thống kê (β = 0,068; p = 0,122). Mẫu trực tuyến tự chọn có thể không đại diện, và tác giả khai không có xung đột lợi ích.

Ở Hạ Môn (Trung Quốc), một nghiên cứu cắt ngang 827 trẻ dùng bản mở rộng của BISQ do cha mẹ trả lời và bảng hỏi màn hình do nhóm tác giả tự xây dựng (Lin và cs., 2022). Có 26,9% nhũ nhi và 61,4% trẻ chập chững không đạt khuyến nghị màn hình của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO). Sau hiệu chỉnh, thời gian xem tivi đi kèm tổng giấc ngủ ít hơn ở nhũ nhi (β chuẩn hoá −0,15; p < 0,001), và thời gian dùng điện thoại thông minh đi kèm tổng giấc ngủ ít hơn ở trẻ chập chững (β −0,12).

So sánh thô ở nhũ nhi cho chênh lớn, 11,87 so với 14,50 giờ, nhưng hệ số sau hiệu chỉnh nhỏ. Khoảng cách giữa số thô và số hiệu chỉnh gợi ý một phần chênh lệch thô có thể đến từ các yếu tố gia đình đi cùng màn hình SL.

Trẻ đi học và vị thành niên: các tổng hợp quan sát#

Tổng quan hệ thống Hale và Guan 2015 gồm 67 nghiên cứu (1999–2014) ở trẻ chủ yếu 5–17 tuổi (Hale và Guan, 2015). Khoảng 3/4 là cắt ngang, 13 nghiên cứu tiến cứu và 3 thử nghiệm; 99% dùng giấc ngủ do trẻ tự báo cáo hoặc cha mẹ báo cáo. Có 90% nghiên cứu thấy thời gian màn hình đi kèm bất lợi cho giấc ngủ, chủ yếu ngủ ngắn hơn và đi ngủ muộn hơn. Tỉ lệ này là 94% với máy tính, 91% với màn hình không phân loại, 86% với trò chơi điện tử, 83% với thiết bị di động và 76% với tivi.

Đếm số nghiên cứu không cho biết độ lớn hiệu ứng.

Phân tích gộp Carter 2016 nhắm riêng thiết bị di động có màn hình (Carter và cs., 2016). Tổng quan gồm 125.198 trẻ, tuổi trung bình 14,5 (độ lệch chuẩn 2,2), 50,1% nam, ở châu Âu, Bắc Mỹ, châu Á và châu Úc. Toàn bộ là nghiên cứu cắt ngang; giấc ngủ do trẻ hoặc cha mẹ báo cáo. "Ngủ không đủ" là dưới 10 giờ với trẻ và dưới 9 giờ với vị thành niên.

So với không có thiết bị, dùng thiết bị lúc đi ngủ đi kèm tỉ số chênh (odds ratio, OR) ngủ không đủ 2,17 (KTC 95% 1,42–3,32; I² = 90%). Với chất lượng ngủ kém, OR là 1,46 (1,14–1,88); với buồn ngủ ban ngày quá mức, OR là 2,72 (1,32–5,61). Chỉ cần có thiết bị trong phòng ngủ mà không dùng lúc đi ngủ cũng đi kèm OR 1,79 (1,39–2,31) cho ngủ không đủ, 1,53 (1,11–2,10) cho chất lượng kém và 2,27 (1,54–3,35) cho buồn ngủ ban ngày.

Tác giả chấm GRADE mức thấp: hạ vì thiết kế không ngẫu nhiên và dị biệt, nâng vì cỡ hiệu ứng lớn. Nhóm biên tập chấm rất thấp và không nâng bậc, vì ngủ không đủ là kết cục phổ biến nên OR 2,17 xa 1 hơn tỉ số nguy cơ tương ứng SL. Số nghiên cứu ghi không thống nhất trong bài: tóm tắt nói 20 nghiên cứu được đưa vào, sơ đồ chọn lọc ghi 17 sau đánh giá chất lượng và 11 vào phân tích gộp. Mẫu nghiêng về vị thành niên. Tài trợ đến từ Viện Quốc gia về Sức khoẻ Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ (National Institute of Child Health and Human Development, NICHD).

Liên quan với thiết bị để trong phòng mà không dùng có thể do trẻ dùng mà không khai, do thông báo và âm thanh, hoặc do yếu tố gia đình gây nhiễu như nhà ít quy tắc SL. Các OR này không đọc thành "nguy cơ cao hơn N lần": ngủ không đủ là kết cục phổ biến, vì vậy OR lớn hơn nhiều so với tỉ số nguy cơ tương ứng SL.

Ở Na Uy, khảo sát dân số youth@hordaland 2012 hỏi 9.846 vị thành niên 16–19 tuổi (Hysing và cs., 2015). Tổng thời gian màn hình sau giờ học trên 4 giờ/ngày đi kèm OR ngủ dưới 5 giờ là 3,64 so với nhóm dùng ít hơn (KTC 95% 3,06–4,33). Với thời gian vào giấc (sleep onset latency, SOL) trên 60 phút, OR là 1,49 (1,36–1,64). Đây là OR không hiệu chỉnh; tác giả nêu chưa đánh giá nhiễu như vấn đề cảm xúc, hành vi.

Ở Mỹ, khảo sát Sleep in America Poll 2014 hỏi 1.103 cha mẹ có con 6–17 tuổi trên bảng mẫu đại diện quốc gia (Buxton và cs., 2015). Trẻ có thiết bị điện tử để bật trong phòng ngủ ban đêm đi kèm OR 0,46 cho ngủ đủ và OR 0,50 cho chất lượng ngủ "xuất sắc" theo cha mẹ báo cáo (cả hai p < 0,001). Để tivi bật ít nhất thỉnh thoảng đi kèm ngủ ít hơn trên 30 phút mỗi đêm (p = 0,001). Cha mẹ báo cáo cả quy tắc lẫn giấc ngủ của con, vì vậy hai biến chung một nguồn sai số.

Ở Nhật Bản, một khảo sát cắt ngang toàn quốc thu 94.777 phiếu của học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông (Munezawa và cs., 2011). Có 84,4% dùng điện thoại hằng ngày, 8,3% gọi điện và 17,6% nhắn tin hằng ngày sau khi tắt đèn đi ngủ. Việc này đi kèm ngủ ngắn, chất lượng ngủ kém và buồn ngủ ban ngày, với cỡ hiệu ứng nhỏ theo tác giả; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt. Dữ liệu thuộc thời kỳ điện thoại phổ thông, trước khi điện thoại thông minh phổ biến SL.

Với trò chơi điện tử, phân tích gộp 33 nghiên cứu, 32 trong số đó cắt ngang, khảo sát "chơi game có vấn đề" (problematic gaming), khác với thời lượng chơi thông thường (Kristensen và cs., 2021). Chơi game có vấn đề đi kèm thời lượng ngủ ngắn hơn, hiệu số chuẩn hoá Hedges g = −0,238 (KTC 95% −0,364 đến −0,112; I² = 83,3%). Ở 6 nghiên cứu báo theo phút, chênh là −20,8 phút (−27,3 đến −14,3). Ở mẫu vị thành niên, g = −0,323, so với −0,037 ở người lớn hoặc mẫu không phân loại (p = 0,013).

OR cho chất lượng ngủ kém là 2,02 (1,47–2,78). Ước lượng không hiệu chỉnh và dị biệt rất cao.

NguồnMẫu, tuổiPhơi nhiễmKết cụcƯớc lượng
Janssen 2020Tổng quan 60.445 trẻ dưới 5 tuổi; ước lượng gộp từ 7 nghiên cứuThời gian màn hìnhThời lượng ngủĐộ lớn tương quan 0,09 (0,01–0,17)
Carter 2016125.198 trẻ, tuổi trung bình 14,5Dùng thiết bị lúc đi ngủNgủ không đủOR 2,17 (1,42–3,32)
Carter 2016Như trênCó thiết bị trong phòng, không dùngNgủ không đủOR 1,79 (1,39–2,31)
Hysing 20159.846, 16–19 tuổi, Na UyMàn hình trên 4 giờ sau giờ họcNgủ dưới 5 giờOR 3,64 (3,06–4,33), không hiệu chỉnh
Buxton 20151.103 cha mẹ, trẻ 6–17 tuổi, MỹThiết bị để bật ban đêmNgủ đủOR 0,46
Kristensen 202133 nghiên cứu, đa số vị thành niênChơi game có vấn đềThời lượng ngủ−20,8 phút (6 nghiên cứu)

Thử nghiệm: khi giảm màn hình thật#

Thử nghiệm ngẫu nhiên theo cụm ở Đan Mạch#

Thử nghiệm Pedersen 2022 phân ngẫu nhiên 89 gia đình có trẻ 6–10 tuổi: 45 gia đình vào nhóm can thiệp, 44 vào nhóm chứng (Pedersen và cs., 2022). Tổng cộng có 181 trẻ (tuổi trung bình 8,6 và 9,5 ở hai nhóm) và 164 người lớn. Trong 2 tuần, gia đình nhóm can thiệp nộp điện thoại thông minh và máy tính bảng, giới hạn màn hình giải trí ≤ 3 giờ/tuần. Nhóm chứng dùng màn hình như thường lệ. Mức nền là khoảng 35,9 giờ màn hình mỗi tuần.

Giấc ngủ được đo bằng điện não đồ (electroencephalography, EEG) một kênh tại nhà, 3 đêm đầu kỳ và 3 đêm cuối kỳ; trẻ dưới 6 tuổi không được đo. Vận động được đo bằng gia tốc kế. Có 97% trẻ nhóm can thiệp tuân thủ.

Kết cục rõ nhất là vận động. Thời gian hoạt động không tĩnh tại lúc rảnh tăng 44,8 phút/ngày ở nhóm can thiệp, so với 1,0 phút/ngày ở nhóm chứng. Chênh giữa hai nhóm là 45,8 phút/ngày (KTC 95% 27,9–63,6; p < 0,001). Con số khoảng 45 phút này là mức tăng vận động lúc rảnh, không phải số phút màn hình giảm: bài không báo số phút màn hình giảm, chỉ báo tỉ lệ tuân thủ.

Về giấc ngủ, tổng thời gian ngủ, độ trễ vào giấc và thời gian thức sau khi đã vào giấc đo bằng EEG đều không có khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng. Số phút cụ thể nằm ở phụ lục mà chúng tôi chưa đọc, vì vậy không biết khoảng tin cậy có loại trừ được một hiệu ứng nhỏ hay không. Can thiệp kéo dài 2 tuần và giảm màn hình cả ngày, không riêng giờ trước khi ngủ. Thử nghiệm do các quỹ công tài trợ; nhà tài trợ không có vai trò trong nghiên cứu.

Đổi nội dung xem ở trẻ mẫu giáo#

Một RCT ở Seattle (Mỹ) phân tích 565 trẻ 3–5 tuổi (Garrison và Christakis, 2012). Can thiệp gồm một lần thăm nhà và các cuộc gọi trong 6 tháng, khuyến khích thay nội dung bạo lực hoặc không hợp lứa tuổi bằng nội dung giáo dục, thân thiện. Can thiệp không yêu cầu giảm thời lượng xem.

Giấc ngủ do cha mẹ báo cáo bằng Bảng hỏi thói quen ngủ của trẻ (Children's Sleep Habits Questionnaire, CSHQ) ở 6, 12 và 18 tháng. Qua các lần theo dõi, nhóm can thiệp có OR có "bất kỳ vấn đề giấc ngủ nào" là 0,36 (KTC 95% 0,16–0,83). Hiệu ứng có xu hướng giảm dần theo thời gian (p = 0,07). Vấn đề hay gặp nhất là vào giấc chậm, ở 38% trẻ.

Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt, và tóm tắt không mô tả nhóm chứng. Cha mẹ biết mình ở nhóm nào và tự báo cáo giấc ngủ của con, tức kết cục không được làm mù. Thử nghiệm do NICHD tài trợ.

Ngừng màn hình sau 21:00 ở vị thành niên Thuỵ Sĩ#

Một can thiệp trước–sau không nhóm chứng ở Genève tuyển 569 học sinh 12–19 tuổi (Perrault và cs., 2019). Sau 2 tuần nền, học sinh được yêu cầu ngừng thiết bị màn hình sau 21:00 các tối Chủ nhật đến thứ Năm trong 2 tuần, kèm một buổi hội thảo giáo dục giấc ngủ 40 phút. Giấc ngủ đo bằng actigraphy cổ tay, tức thiết bị đeo ghi vận động để ước tính thức và ngủ.

Chỉ 183 em "tích cực", tuân thủ ít nhất 7 ngày, được phân tích; tuổi trung bình 15,35. Nhóm này giảm 71,3% thời gian màn hình sau 21:00. Giờ lên giường sớm hơn, từ 23:28 xuống 23:07, và giai đoạn ngủ dài thêm 17 phút (± 2) theo actigraphy.

Thiết kế không có nhóm chứng (tác giả nêu lý do đạo đức), không tách được tác động của hội thảo và của quy tắc, và chỉ phân tích nhóm tự nguyện tuân thủ. Nghiên cứu do Quỹ Gertrude von Meissner và Quỹ Khoa học Quốc gia Thuỵ Sĩ tài trợ.

Quan sát và thử nghiệm: vì sao khác nhau#

Các tổng hợp quan sát (Carter 2016; Hale và Guan 2015 với 90% nghiên cứu có liên quan bất lợi) thấy màn hình đi kèm ngủ ít, ngủ muộn. Thử nghiệm Đan Mạch, với 97% tuân thủ và giấc ngủ đo bằng EEG, thấy khác biệt không có ý nghĩa thống kê; chưa biết khoảng tin cậy có loại trừ một hiệu ứng nhỏ hay không. Thử nghiệm đổi nội dung ở Seattle, với kết cục cha mẹ báo cáo không làm mù, lại thấy giảm vấn đề giấc ngủ.

Các lý do khả dĩ gồm nhân quả ngược và nhiễu trong nghiên cứu quan sát, và can thiệp quá ngắn. Kết cục cũng khác nhau (EEG khách quan so với cha mẹ báo cáo không mù), và can thiệp nhắm thời lượng cả ngày so với nội dung xem. Thêm một khả năng: trẻ 6–10 tuổi ở Đan Mạch có thể đã ngủ đủ ở mức nền, tức ít chỗ để tăng SL. Chúng tôi chưa thu được thử nghiệm có nhóm chứng nào nhắm riêng màn hình buổi tối ở vị thành niên.

Thử nghiệmThiết kế, nhóm chứngMẫu, tuổiCan thiệp, thời gianĐo giấc ngủKết quả giấc ngủ
Pedersen 2022, Đan MạchRCT theo cụm gia đình; chứng dùng như thường lệ89 gia đình, 181 trẻ, mời gia đình có trẻ 6–10 tuổiMàn hình giải trí ≤ 3 giờ/tuần, 2 tuầnEEG một kênh tại nhàKhác biệt không có ý nghĩa thống kê
Garrison 2012, MỹRCT; nhóm chứng không mô tả trong tóm tắt565 trẻ 3–5 tuổiĐổi nội dung xem, 6 thángCha mẹ báo cáo, CSHQ, không mùOR 0,36 (0,16–0,83) cho bất kỳ vấn đề giấc ngủ
Perrault 2019, Thuỵ SĩTrước–sau, không nhóm chứng183 em tuân thủ trong 569, 12–19 tuổiNgừng màn hình sau 21:00, 2 tuần, kèm hội thảoActigraphyNgủ thêm 17 phút

Mạng xã hội, game và chiều nhân quả#

Một thuần tập, hai thông điệp#

Hai bài cùng dùng Nghiên cứu Thuần tập Thiên niên kỷ Anh (Millennium Cohort Study) ở vị thành niên 13–15 tuổi nhưng cho thông điệp trái nhau. Scott 2019 phân tích 11.872 em (Scott và cs., 2019). Có 20,8% dùng mạng xã hội từ 5 giờ/ngày trở lên; tỉ lệ này là 28,4% ở nữ và 13,7% ở nam.

So với nhóm dùng trung bình (1 đến dưới 3 giờ), nhóm dùng từ 5 giờ/ngày có OR đi ngủ sau 23:00 ngày đi học là 2,14 (KTC 95% 1,83–2,50). OR cho giờ dậy muộn là 1,97 (1,32–2,93), cho khó ngủ lại sau khi thức giữa đêm là 1,36 (1,10–1,66). Mô hình hiệu chỉnh nhiều yếu tố, kể cả điểm trầm cảm. Tác giả nêu rõ dữ liệu cắt ngang không cho phép kết luận nhân quả.

Orben và Przybylski 2020 phân tích 11.884 em, trong đó 4.642 em có nhật ký sử dụng thời gian (Orben và Przybylski, 2020). Mỗi giờ dùng công nghệ số thêm trong ngày đi kèm ngủ ít hơn khoảng 9 phút 17 giây vào ngày thường và 3 phút 26 giây vào cuối tuần. Dùng công nghệ trong 30 phút trước khi ngủ đi kèm khoảng 1 phút ngủ ít hơn. Tác giả gọi các hiệu ứng là rất nhỏ. Họ thừa nhận đã tiếp cận dữ liệu trước khi đặt câu hỏi, vì vậy phân tích không được đăng ký trước.

Các lý do khả dĩ cho hai thông điệp: phơi nhiễm khác nhau (mạng xã hội so với mọi công nghệ; bảng hỏi so với nhật ký thời gian). Kết cục cũng khác: giờ đi ngủ phân đôi tại 23:00 so với số phút ngủ liên tục. Cách trình bày khác nữa: OR của nhóm cực đoan so với đường hồi quy trung bình qua phân tích đặc tả đa chiều (specification curve). Cả hai có thể cùng đúng: một nhóm nhỏ dùng rất nhiều có giờ ngủ muộn rõ, trong khi hiệu ứng trung bình trên mỗi giờ dùng là nhỏ SL.

Liên quan theo thời gian: hai hướng#

Thuần tập Richardson 2021 ở Sydney (Úc) theo dõi vị thành niên qua 3 đợt hằng năm, từ 528 em (tuổi trung bình 11,18) ở đợt 1 đến 478 em (tuổi trung bình 13,19) ở đợt 3 (Richardson và cs., 2021). Vị thành niên và người chăm sóc chính, 96% là mẹ, điền bảng hỏi. Mô hình trễ chéo (cross-lagged) cho thấy thời gian dùng công nghệ dự báo ngủ ngắn hơn và buồn ngủ ban ngày nhiều hơn về sau. Đồng thời, ngủ ngắn và xu hướng "cú đêm" cũng dự báo dùng công nghệ nhiều hơn.

Cũng trong thuần tập này, việc cha mẹ kiểm soát dùng công nghệ không dự báo giấc ngủ tốt hơn về sau. Ngược lại, việc dùng công nghệ và giấc ngủ của trẻ dự báo mức kiểm soát của cha mẹ. "Kiểm soát của cha mẹ" ở đây đo bằng bảng hỏi chung, không phải can thiệp được thử nghiệm. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt, chưa có hệ số cụ thể.

Ánh sáng buổi tối và melatonin ở trẻ#

Trẻ mẫu giáo#

Một thực nghiệm tại nhà ở Colorado (Mỹ) tuyển 36 trẻ khoẻ mạnh 3,0–4,9 tuổi (trung bình 4,2), trong đó 27 trẻ vào phân tích melatonin (Hartstein và cs., 2022). Trẻ giữ lịch ngủ ổn định 7 ngày, rồi ở 29,5 giờ trong ánh sáng mờ (khoảng 1,5 lux). Đêm cuối, mỗi trẻ nhận một lần chiếu sáng 1 giờ trước giờ đi ngủ thường lệ, ở một trong 15 mức cường độ từ 5 đến 5.000 lux. Melatonin đo trong nước bọt.

Ánh sáng ức chế melatonin trung bình 85,4 ± 7,2% (69,4–98,7%). Ngay cả nhóm 5–40 lux, tương đương đèn trong nhà mờ, vẫn bị ức chế 77,5 ± 7,0%; các nhóm sáng hơn là 86,4%, 89,2% và 87,1%. Có 62% trẻ còn melatonin dưới 50% mức nền 50 phút sau khi tắt sáng.

Vì mức ức chế thấp nhất đã là 69%, nhóm tác giả không ước được cường độ gây ức chế 50%. Ở 5 và 10 lux, trẻ đã bị ức chế khoảng 82%. Các nghiên cứu người lớn được dẫn trong bài cho thấy ức chế 50% ở khoảng 25 lux, hoặc 50–130 lux. So sánh này là gián tiếp, khác phương pháp, và tác giả tự lưu ý điều đó.

Mỗi trẻ chỉ nhận một mức sáng, vì vậy không ước được độ nhạy từng cá nhân, và mẫu nhỏ. Thực nghiệm đo ánh sáng nói chung, không phải màn hình. Một số tác giả có quan hệ tư vấn hoặc nghiên cứu với công ty liên quan ánh sáng và nhịp sinh học (LumosTech; Circadian Therapeutics, Philips), được công bố trong bài.

Trẻ tiểu học và vị thành niên#

Một thực nghiệm giữa các nhóm ở Nhật Bản so sánh 22 trẻ (8,9 ± 2,2 tuổi) với 20 người lớn là cha mẹ của trẻ (41,7 ± 4,4 tuổi) (Lee và cs., 2018). Từ 19:00, mỗi người ở dưới một đèn trần dùng điốt phát quang (light-emitting diode, LED) khoảng 300 lux, nhiệt độ màu 3000 K hoặc 6200 K giàu ánh sáng xanh. Melatonin nước bọt được lấy mỗi giờ; buồn ngủ đo bằng thang Karolinska.

Melatonin của trẻ bị ức chế 81,2% dưới đèn 6200 K và 58,1% dưới đèn 3000 K (p = 0,012 giữa hai đèn). Ở người lớn, mức ức chế là 30,4% với cả hai đèn. Khác biệt giữa trẻ và người lớn có ý nghĩa thống kê (p = 0,004 với 6200 K; p = 0,047 với 3000 K). Dưới đèn 6200 K, trẻ ít buồn ngủ hơn dưới đèn 3000 K (p < 0,05), còn người lớn không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ màu.

Mẫu nhỏ, và số người lớn vào phân tích ghi không thống nhất trong bài (10 mỗi nhóm theo bảng, 6–7 mỗi nhóm theo hình). Đây là đèn trần chứ không phải màn hình, và giấc ngủ sau đó không được đo. Nghiên cứu do Hội Xúc tiến Khoa học Nhật Bản tài trợ qua chương trình KAKENHI.

Ở tuổi dậy thì, một thực nghiệm tại Mỹ chiếu ánh sáng 1 giờ từ 23:00 ở 15, 150 và 500 lux, mỗi mức một đêm (Crowley và cs., 2015). Mẫu gồm 38 trẻ tiền dậy thì đến giữa dậy thì (9,1–14,7 tuổi) và 29 em cuối dậy thì đến sau dậy thì (11,5–15,9 tuổi); 39 em nhận ánh sáng từ 23:00, 28 em nhận ánh sáng lúc 03:00. Với ánh sáng buổi sáng, mức ức chế không khác theo giai đoạn phát triển. Mức ức chế melatonin ở nhóm đầu–giữa dậy thì so với nhóm cuối dậy thì là 9,2% so với −5,3% ở khoảng 15 lux. Ở khoảng 150 lux là 26,0% so với 12,5%, và ở khoảng 500 lux là 36,9% so với 23,9% (p < 0,05).

Độ lệch chuẩn lớn (9,2 ± 20,5% ở 15 lux), và chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.

Ba thực nghiệm nhỏ cùng một hướng với ánh sáng buổi tối: melatonin của trẻ bị ức chế mạnh hơn ở người lớn hoặc vị thành niên lớn hơn, kể cả ở mức đèn trong nhà. Chỉ thực nghiệm Nhật Bản so trực tiếp với người lớn, và với ánh sáng buổi sáng thực nghiệm Crowley không thấy khác biệt theo giai đoạn phát triển. Đây là cơ chế giả định cho tác động của màn hình buổi tối, không phải số đo trực tiếp về màn hình. Từ ức chế melatonin đến thay đổi thời lượng ngủ còn một khoảng cách mà các thực nghiệm này không đo SL.

Số liệu Việt Nam#

Trong một nghiên cứu thí điểm ở 4 trường mầm non TP.HCM, cha mẹ báo cáo 87% (40/46) trẻ 4 tuổi dùng thiết bị điện tử trong 2 giờ trước khi ngủ hoặc có thiết bị trong phòng (Nguyễn Thị Đan Thanh và cs., 2024).

Nghiên cứu này gồm 277 trẻ 6–12 tuổi có rối loạn tăng động giảm chú ý (attention-deficit/hyperactivity disorder, ADHD), khám tại Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương. Theo cha mẹ báo cáo và nhật ký ngủ, 48,0% tiếp xúc màn hình hơn 2 giờ ngay trước giờ ngủ (Nguyen Thi Phuong Mai và cs., 2024). Tỉ lệ này là 18,2% ở trẻ không có bệnh đồng mắc và 64,6% ở trẻ có bệnh đồng mắc. Đây là mẫu một cơ sở, không có nhóm trẻ không ADHD, và nhân quả ngược là khả dĩ. Giấc ngủ ở trẻ ADHD được bàn ở chương Mất ngủ, hoảng sợ ban đêm, ADHD, tự kỷ và melatonin ở trẻ.

Ở học sinh trung học phổ thông (THPT), ba nghiên cứu cắt ngang dùng Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI), với ngưỡng > 5 là ngủ kém. Ở 768 học sinh lớp 10–12 của 3 trường THPT tại thị xã Đông Hoà (Phú Yên, 4/2021), 33,5% (KTC 95% 30,0–37,0) ngủ kém và 21,0% nghiện internet theo thang nghiện internet rút gọn 12 mục (short Internet Addiction Test, s-IAT) (Tran và cs., 2023). Nghiện internet đi kèm OR ngủ kém 3,69 (2,58–5,30) chưa hiệu chỉnh và 2,98 (2,05–4,34) sau hiệu chỉnh áp lực học tập và dùng internet sau 21 giờ.

OR 2,98 là tỉ số chênh, không phải nguy cơ cao hơn 2,98 lần. Dữ liệu thu trong giai đoạn COVID-19, và nghiên cứu không có tài trợ.

Ở 678 học sinh một trường THPT miền Bắc (tuổi trung bình 16,1; 7–9/2019), 58,8% ngủ kém và 30,7% dùng internet hơn 4 giờ/ngày (Nguyen và cs., 2022). Sau hiệu chỉnh các yếu tố nhân khẩu và sức khoẻ tự đánh giá, dùng internet quá mức đi kèm OR ngủ kém 1,58 (KTC 95% 1,06–2,35). Dùng internet quá mức không liên quan có ý nghĩa với triệu chứng trầm cảm (19,6%) hay lo âu (14,5%). Câu trích của tác giả diễn giải OR 1,58 là "58% more likely", nhưng đây là tỉ số chênh. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt; thời gian thu thập có một phần rơi vào mùa hè.

Ở 747 học sinh lớp 10–12 trường THPT Hai Bà Trưng (Huế, 3–4/2026), một trường duy nhất, 57,4% có PSQI > 5; điểm PSQI trung bình 6,51 ± 3,04 (Nguyễn Hữu Minh An và cs., 2026). Học sinh dùng mạng xã hội sau 22 giờ trung bình 77,4 ± 65,1 phút mỗi tối (trung vị 60). Điểm nghiện mạng xã hội theo thang nghiện mạng xã hội Bergen (Bergen Social Media Addiction Scale, BSMAS) tương quan thuận yếu với điểm PSQI (r = 0,312). Bài gọi PSQI > 5 là "rối loạn giấc ngủ", thực chất là ngủ kém theo một thang sàng lọc. Phần sức khoẻ tâm thần của bài được trình bày ở chương Giấc ngủ, trầm cảm, lo âu và hành vi nguy cơ ở vị thành niên.

Ba tỉ lệ ngủ kém, 33,5%, 58,8% và 57,4%, khác xa nhau dù cùng ngưỡng PSQI > 5. Thời điểm thu thập (giai đoạn COVID-19, mùa hè), địa bàn khác nhau (một thị xã, một thành phố, một trường miền Bắc không rõ địa bàn), và việc mỗi nghiên cứu chỉ ở một đến ba trường đều có thể góp phần. Không nghiên cứu nào đo giấc ngủ khách quan hay theo dõi dọc, vì vậy chưa nói được internet và mạng xã hội đi trước hay đi sau giấc ngủ kém ở học sinh Việt Nam SL.

Độ chắc chắn của các kết luận chính#

Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.

Câu hỏiMức chắc chắn
Ở trẻ dưới 5 tuổi, thời gian xem màn hình nhiều hơn có đi kèm ngủ ngắn hơn?Rất thấp
Ở trẻ đi học và vị thành niên, dùng thiết bị di động lúc đi ngủ có đi kèm ngủ không đủ?Rất thấp
Giảm màn hình giải trí trong thử nghiệm có thay đổi giấc ngủ đo khách quan của trẻ?Thấp
Ánh sáng buổi tối có ức chế melatonin ở trẻ mạnh hơn ở người lớn?Rất thấp

Điều chưa biết#

  • Số phút giấc ngủ trong thử nghiệm Đan Mạch. Số liệu phút cho giấc ngủ trong Pedersen 2022 nằm ở phụ lục chưa đọc; nhóm chứng của Garrison 2012 không được mô tả trong tóm tắt.
  • Thử nghiệm màn hình buổi tối ở vị thành niên. Chúng tôi chưa thu được RCT nào về hạn chế màn hình buổi tối ở vị thành niên (Perrault 2019 không có nhóm chứng), và chưa có dữ liệu về kính chặn ánh sáng xanh ở lứa tuổi này.
  • Ức chế melatonin ở trẻ so với người lớn. Bài gốc Higuchi 2014, so sánh trực tiếp trẻ và người lớn, chưa mở được.
  • Hướng dẫn chính thức về màn hình. Hướng dẫn của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) về dùng truyền thông năm 2016 và phần màn hình trong hướng dẫn WHO 2019 cho trẻ dưới 5 tuổi chưa được thu.
  • Việt Nam. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ khách quan khi xét màn hình, chưa có nghiên cứu dọc, và chưa có thử nghiệm can thiệp về màn hình và giấc ngủ ở trẻ hay học sinh Việt Nam.

Viết tắt trong trang

AAP
Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
EEG
điện não đồ (electroencephalography)
GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
SOL
thời gian đi vào giấc ngủ (sleep onset latency)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Màn hình, ánh sáng buổi tối và giấc ngủ của trẻ. Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/man-hinh-anh-sang-va-giac-ngu-tre/