giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Giấc ngủ, trầm cảm, lo âu và hành vi nguy cơ ở vị thành niên

Chương 11 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 15 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi giấc ngủ của vị thành niên liên quan thế nào với trầm cảm, lo âu, hành vi nguy cơ và ý nghĩ tự sát, và chiều nào đi trước. Một phân tích gộp 73 nghiên cứu thấy ngủ ngắn đi kèm khí sắc kém với mọi cách đo giấc ngủ, kể cả đo khách quan, nhưng dị biệt giữa các nghiên cứu rất cao (I² = 97,9%). Phần lớn dữ liệu lại là cắt ngang. Nghiên cứu dọc riêng lẻ cho kết quả trái ngược. Trong một thử nghiệm bắt chéo 5 đêm ở 50 vị thành niên, ngủ ít đi kèm cảm xúc hằng ngày xấu hơn, còn chênh lệch điểm trầm cảm không có ý nghĩa thống kê. Với tự sát, liên quan mạnh trong số liệu cắt ngang yếu đi khi chỉ xét các thuần tập tiến cứu; ở Việt Nam, dữ liệu hiện có là tương quan cắt ngang ở từng trường.

Mọi số liệu trong chương là liên quan ở cấp quần thể, không phải dự báo cho một người cụ thể. Phần lớn giấc ngủ và khí sắc đều do vị thành niên tự báo cáo; chúng tôi ghi rõ khi có đo khách quan. Tỉ số chênh (odds ratio, OR) và tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio, aOR) không đọc được như tỉ số nguy cơ khi kết cục phổ biến.

Ngủ ngắn và khí sắc: số liệu gộp#

Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2020 gồm 74 nghiên cứu ở 361.505 vị thành niên 10–19 tuổi, mẫu không lâm sàng (Short và cs., 2020). Trong đó 42 nghiên cứu là cắt ngang, 19 nghiên cứu dọc và 13 thực nghiệm. Gộp 73 nghiên cứu, ngủ ngắn hơn đi kèm OR 1,55 (khoảng tin cậy, KTC 95% 1,44–1,67) cho rối loạn khí sắc. Khí sắc ở đây gồm giảm cảm xúc tích cực, tăng cảm xúc tiêu cực, khí sắc trầm, lo âu và giận dữ.

Theo từng thành phần, khí sắc trầm có OR 1,62 (1,38–1,85; k = 43), cảm xúc tiêu cực 1,60 (1,49–1,71), và giảm cảm xúc tích cực 2,02 (1,62–2,42). Gộp riêng 19 nghiên cứu dọc cho OR 1,71 (1,31–2,10). Dị biệt rất cao (I² = 97,9%), và thiết kế nghiên cứu là nguồn dị biệt lớn nhất (Q(2) = 144,28). Chúng tôi đọc bản thảo đã được chấp nhận; số nghiên cứu theo từng cách đo lệch nhẹ giữa phần chữ và bảng.

Điểm đáng chú ý là liên quan xuất hiện với mọi cách đo thời lượng ngủ.

Cách đo giấc ngủSố nghiên cứu (xấp xỉ)OR gộp cho khí sắc kém
Đa ký giấc ngủ (PSG)k = 51,70 (KTC 95% 1,20–2,20)
Actigraphy14–161,45
Bảng hỏi44–451,55
Nhật ký ngủk = 91,30

Actigraphy là thiết bị đeo cổ tay ghi cử động để ước tính ngủ và thức; đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) ghi điện não và các tín hiệu khác trong đêm. Vì liên quan vẫn còn với PSG và actigraphy, nó không chỉ do sai số tự báo cáo. Nhưng đo khách quan không giải quyết được chiều nhân quả SL.

Báo cáo nhiều trường ở Minnesota, Colorado và Wyoming khảo sát hơn 9.000 học sinh trung học phổ thông (THPT) Hoa Kỳ (Wahlstrom và cs., 2014). Học sinh ngủ dưới 8 giờ báo triệu chứng trầm cảm cao hơn có ý nghĩa so với học sinh ngủ từ 8 giờ, với hiệu số chuẩn hoá d = 0,44, mức nhỏ đến trung bình. Nhóm ngủ ngắn cũng dùng caffeine nhiều hơn và có nguy cơ dùng chất cao hơn. Đây là so sánh cắt ngang trong một báo cáo kỹ thuật không qua bình duyệt; trầm cảm có thể là nguyên nhân chứ không chỉ là hệ quả của ngủ kém.

Lo âu ở học sinh THPT Việt Nam#

Tại trường THPT Hoà Vang (Đà Nẵng, 4–10/2024), 737 học sinh 15–17 tuổi tự điền chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) và thang lo âu lan toả GAD-7 (Tran Danh Tien Thinh và cs., 2025). Điểm PSQI tương quan thuận mức vừa với điểm lo âu (r = 0,543; p < 0,001). Học sinh ngủ trung bình 6,40 giờ mỗi ngày theo tự báo cáo, và 31,2% đi ngủ sau nửa đêm.

Nữ có điểm PSQI cao hơn nam (6,3 so với 5,2; p < 0,001) và điểm GAD-7 cao hơn (8,3 so với 5,8). Bài chỉ tính tương quan Pearson, không có mô hình hiệu chỉnh. Tương quan giữa thời lượng ngủ và lo âu được ghi là 0,276 không dấu ở phần tóm tắt và kết quả, dù mô tả là tương quan nghịch, và −0,276 ở phần bàn luận. Chúng tôi không xác định được dấu đúng từ bài. Đây là một trường, thiết kế cắt ngang, và nghiên cứu không có tài trợ.

Ở một trường THPT miền Bắc (7–9/2019), 678 học sinh có tuổi trung bình 16,1 (Nguyen và cs., 2022). Có 19,6% có triệu chứng trầm cảm theo thang trầm cảm của Trung tâm Nghiên cứu Dịch tễ học (Center for Epidemiologic Studies Depression Scale, CES-D) và 14,5% có lo âu theo thang lo âu Việt Nam. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt, và tóm tắt không báo liên quan trực tiếp giữa giấc ngủ và trầm cảm hay lo âu.

Chiều nào trước: nghiên cứu dọc và thực nghiệm#

Nghiên cứu dọc cho kết quả trái ngược#

Trong tổng quan Short 2020, các nghiên cứu dọc riêng lẻ không cùng chiều (Short và cs., 2020). Nghiên cứu của Nowakowski (2016) thấy thời lượng ngủ dự báo khí sắc trầm 1 năm sau, khi đã kiểm soát khí sắc ban đầu. Các nghiên cứu của Lovato (2017), Doane (2015) và Fan (2017) không thấy dự báo có ý nghĩa. Chúng tôi thuật lại các nghiên cứu này qua tổng quan, chưa đọc bài gốc. Như vậy OR gộp 1,71 của nghiên cứu dọc che đi sự không nhất quán giữa từng nghiên cứu SL.

Thực nghiệm hạn chế ngủ#

Một thử nghiệm ngẫu nhiên bắt chéo, cân bằng thứ tự, tại nhà ở Cincinnati (Hoa Kỳ) gồm 50 vị thành niên khoẻ 14–17 tuổi (Baum và cs., 2014). Sau 1 tuần nền, các em trải qua 5 đêm 6,5 giờ trên giường và một giai đoạn kéo dài thời gian trên giường. Hai giai đoạn chênh khoảng 2,5 giờ ngủ mỗi đêm, đo bằng actigraphy và tự báo cáo. Nhóm nghiên cứu kiểm hiệu ứng kỳ vọng bằng một thang tăng động.

Khi ngủ ít, vị thành niên tự đánh giá căng thẳng, lo âu, giận dữ, bối rối và mệt mỏi cao hơn. Cha mẹ ghi nhận cáu kỉnh hơn và điều hoà cảm xúc kém hơn. Các khác biệt khí sắc có p = 0,001–0,01. Điểm trầm cảm thì chênh lệch không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Người tham gia không thể được làm mù với điều kiện ngủ, và chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.

Thực nghiệm Need for Sleep ở Singapore có kết quả cùng hướng (Lo và cs., 2016). Ở 56 vị thành niên 15–19 tuổi, 7 đêm chỉ 5 giờ trên giường đi kèm khí sắc tích cực giảm (thực nghiệm nhóm song song phân ngẫu nhiên, không mù). Nhóm chứng 9 giờ giữ nguyên mức nền. Chi tiết thiết kế được bàn ở chương Vị thành niên: đồng hồ sinh học lùi muộn, thiếu ngủ và ngủ bù.

Đọc hai loại bằng chứng cùng nhau#

Đây là một mâu thuẫn chính của chương. Số liệu gộp cho OR 1,55, và 1,71 ở nghiên cứu dọc. Nhưng từng nghiên cứu dọc không thống nhất, và thực nghiệm 5 đêm làm xấu cảm xúc thường ngày mà điểm trầm cảm thay đổi không có ý nghĩa thống kê.

Lý do khả dĩ gồm ba điểm. Thứ nhất, trầm cảm là kết cục tích luỹ, có thể cần thời gian dài hơn vài đêm thực nghiệm. Thứ hai, nhân quả ngược rất khả dĩ: trầm cảm làm ngủ kém. Thứ ba, thang đo khí sắc khác nhau giữa các nghiên cứu, và số liệu cắt ngang như d = 0,44 ở trên không phân biệt được chiều. Theo đánh giá của chúng tôi, bằng chứng thực nghiệm gợi ý thiếu ngủ vài đêm làm xấu cảm xúc hằng ngày, với độ chắc chắn thấp vì mẫu nhỏ và khí sắc tự đánh giá không làm mù được. Tác động lên trầm cảm lâm sàng chưa được chứng tỏ SL.

Một nghiên cứu dân số ở Na Uy khảo sát vị thành niên 16–19 tuổi (Sivertsen và cs., 2013). Nhóm thoả tiêu chí gần đúng của hội chứng ngủ muộn pha có điểm trầm cảm theo bảng hỏi khí sắc và cảm xúc rút gọn (Short Mood and Feelings Questionnaire, SMFQ) 8,8, so với 5,7 ở nhóm còn lại (p < 0,001). Với thiết kế cắt ngang, chiều cũng không rõ.

Hành vi nguy cơ#

Dữ liệu gộp từ Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh thiếu niên Hoa Kỳ (Youth Risk Behavior Survey, YRBS) 2007–2015 gồm 67.615 phiếu của học sinh THPT (Weaver và cs., 2018). Thời lượng ngủ đêm ngày đi học tự báo cáo được chia 4 mức: từ 8 giờ, 7 giờ, 6 giờ và dưới 6 giờ. Mô hình hồi quy logistic có trọng số chỉ hiệu chỉnh tuổi, giới, chủng tộc hay dân tộc và năm khảo sát.

Hành vi (so nhóm ngủ dưới 6 giờ với nhóm từ 8 giờ)aOR (KTC 95%)
Hiếm khi hoặc không bao giờ thắt dây an toàn2,98 (2,65–3,34)
Lái xe sau khi uống rượu, ở người có lái xe1,98 (1,62–2,42)
Nhắn tin khi lái xe1,29 (1,12–1,50)
Uống rượu2,01 (1,84–2,19)
Dùng cần sa1,94 (1,78–2,11)
Hút thuốc lá1,94 (1,80–2,10)
Dùng chất khác2,34 (2,16–2,52)

Theo tiêu đề bài, các liên quan có dạng liều–đáp ứng: ngủ càng ít, tỉ số chênh càng cao. Đây là liên quan cắt ngang, không phải nhân quả. Nhiễu bởi tính cách ưa mạo hiểm, dùng chất và trầm cảm chưa được hiệu chỉnh. Chiều ngược, khi dùng chất làm ngủ kém, rất khả dĩ. Vì nhiều hành vi trong bảng phổ biến ở học sinh THPT, các aOR này không đọc được như tỉ số nguy cơ SL.

Về xung đột lợi ích, một tác giả (Klerman) tư vấn cho Pfizer; một tác giả khác (Barger) tư vấn cho bốn tổ chức, trong đó có Sygma, Trung tâm Nghiên cứu Ames của NASA và CurAegis, và ngồi hội đồng khoa học của CurAegis. Tài trợ chính từ các cơ quan công của Hoa Kỳ (Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, NIH; Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ, NASA; Viện Quốc gia về An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp Hoa Kỳ, NIOSH).

Buồn ngủ khi lái xe và va chạm được bàn ở chương Giờ vào học sớm, học thêm và buồn ngủ khi lái xe.

Mạng xã hội, giấc ngủ và sức khoẻ tâm thần ở học sinh Việt Nam#

Ở trường THPT Hai Bà Trưng (TP. Huế, 3–4/2026), 747 học sinh lớp 10–12 được chọn theo mẫu cụm hai giai đoạn (Nguyễn Hữu Minh An và cs., 2026). Có 57,4% có PSQI trên 5. Học sinh dùng mạng xã hội sau 22:00 trung bình 77,4 ± 65,1 phút mỗi tối, trung vị 60 phút. Điểm nghiện mạng xã hội theo thang Bergen (BSMAS) tương quan thuận yếu với điểm PSQI (r = 0,312). Điểm PSQI tương quan nghịch với lòng tự trọng theo thang Rosenberg (r = −0,284; p < 0,001).

Bài gọi PSQI trên 5 là "rối loạn giấc ngủ", nhưng thực chất đây là chất lượng ngủ kém theo một thang sàng lọc. Tác giả dựng một mô hình trung gian nối tiếp, bootstrap 5.000 lần, hiệu chỉnh giới, khối lớp và kinh tế gia đình. Mô hình đi từ mạng xã hội qua ngủ kém, qua lòng tự trọng thấp, tới kết cục tự gây tổn thương không tự sát. Mô hình trung gian trên dữ liệu cắt ngang không chứng minh chiều nhân quả của chuỗi này SL. Nghiên cứu không có tài trợ và tác giả khai không có xung đột lợi ích. Người đang có ý nghĩ tự hại, hoặc cha mẹ lo con có ý nghĩ đó, cần tìm hỗ trợ ngay từ nhân viên y tế hoặc người lớn tin cậy.

Ở trường THPT miền Bắc nêu trên, sau hiệu chỉnh, dùng internet quá mức đi kèm OR ngủ kém 1,58 (KTC 95% 1,06–2,35), trong khi liên quan với trầm cảm hay lo âu không có ý nghĩa thống kê (Nguyen và cs., 2022). Câu kết luận của tác giả diễn giải OR 1,58 thành "khả năng cao hơn 58%", nhưng đây là tỉ số chênh, không phải nguy cơ tương đối. Dữ liệu thu một phần trong hè.

Một thuần tập ở Sydney (Úc) theo dõi 3 đợt hằng năm từ 11 đến 13 tuổi gợi ý quan hệ hai chiều (Richardson và cs., 2021). Thời gian dùng công nghệ dự báo ngủ ngắn hơn và buồn ngủ ban ngày nhiều hơn về sau, và ngủ ngắn cùng xu hướng "cú đêm" cũng dự báo dùng công nghệ nhiều hơn. Đây là cảnh báo khi đọc chiều mũi tên trong mô hình Huế SL. Màn hình và mạng xã hội được bàn đầy đủ ở chương Màn hình, ánh sáng buổi tối và giấc ngủ của trẻ.

Giấc ngủ và ý nghĩ, hành vi tự sát: số liệu dịch tễ#

Phần này chỉ trình bày số liệu liên quan ở cấp quần thể. Không con số nào dưới đây cho biết một em cụ thể có nguy cơ hay không, và không con số nào cho biết cải thiện giấc ngủ có làm giảm nguy cơ.

Tuyên bố đồng thuận năm 2016 của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM) dựa trên rà soát 864 bài báo, chủ yếu quan sát (Paruthi và cs., 2016b). Tuyên bố ghi nhận ngủ không đủ ở vị thành niên đi kèm nguy cơ cao hơn về tự gây hại, ý nghĩ tự sát và cố gắng tự sát. Đây là kết luận định tính, không kèm con số, và là liên quan quan sát.

Số liệu cắt ngang#

Trong YRBS gộp 2007–2015, so với học sinh THPT ngủ từ 8 giờ trở lên, học sinh ngủ dưới 6 giờ có aOR 3,12 (KTC 95% 2,85–3,41) cho nghĩ nghiêm túc đến tự sát (Weaver và cs., 2018). Với lập kế hoạch, aOR là 3,17 (2,87–3,51); với cố gắng tự sát, 3,39 (3,00–3,82); với cố gắng tự sát cần chăm sóc y tế, 4,24 (3,53–5,10). Mô hình không hiệu chỉnh trầm cảm hay dùng chất. Tác giả nêu thiết kế cắt ngang không cho phép xét quan hệ hai chiều: trầm cảm có thể vừa làm ngủ ít vừa đi kèm ý nghĩ tự sát.

Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2019 gồm 9 nghiên cứu cắt ngang (37.536 vị thành niên), 4 thuần tập tiến cứu (9.295) và 1 báo cáo hồi cứu (80) (Liu và cs., 2019). Rối loạn giấc ngủ chủ yếu do vị thành niên tự báo cáo. Gộp các nghiên cứu cắt ngang, có rối loạn giấc ngủ đi kèm OR 2,35 cho ý nghĩ tự sát, 1,58 cho kế hoạch và 1,92 cho cố gắng tự sát. Tóm tắt, phần duy nhất chúng tôi đọc, không nêu KTC cho các số này.

Số liệu tiến cứu#

Trong 4 thuần tập tiến cứu của cùng phân tích gộp, rối loạn giấc ngủ dự báo ý nghĩ tự sát về sau, OR 1,79 (KTC 95% 1,36–2,36) (Liu và cs., 2019). Liên quan với cố gắng tự sát về sau có OR 1,98 (0,62–6,29), không có ý nghĩa thống kê. Theo tác giả, trầm cảm không điều biến các liên quan này, tức độ mạnh liên quan không khác có ý nghĩa giữa nhóm có và không có trầm cảm. Vị thành niên than phiền mất ngủ có nguy cơ ý nghĩ tự sát cao hơn nhóm có than phiền giấc ngủ khác.

Một phân tích cắt ngang, đặt ở đây để đối chiếu chứ không thuộc nhóm tiến cứu: ở Add Health (Hoa Kỳ, 1994–96), 15.659 vị thành niên lớp 7–12 tự báo cáo giờ đi ngủ do cha mẹ đặt (Gangwisch và cs., 2010). Giờ đi ngủ từ nửa đêm trở đi, so với từ 22:00 trở về trước, đi kèm OR ý nghĩ tự sát 1,20 (KTC 95% 1,01–1,41). Khi đưa thời lượng ngủ và cảm nhận ngủ đủ vào mô hình, OR còn 1,09 (0,92–1,29), không còn ý nghĩa. Thiết kế cắt ngang. Một tác giả nhận hỗ trợ và tiền tư vấn của nhiều công ty dược.

Mâu thuẫn: cắt ngang so với tiến cứu#

NguồnThiết kếPhơi nhiễmÝ nghĩ tự sátCố gắng tự sát
Weaver và cs., 2018 (YRBS)Cắt ngang, 67.615 phiếuNgủ dưới 6 giờ so với từ 8 giờaOR 3,12 (2,85–3,41)aOR 3,39 (3,00–3,82)
Liu và cs., 2019Gộp 9 nghiên cứu cắt ngangCó rối loạn giấc ngủOR 2,35OR 1,92
Liu và cs., 2019Gộp 4 thuần tập tiến cứuCó rối loạn giấc ngủOR 1,79 (1,36–2,36)OR 1,98 (0,62–6,29)

Số liệu cắt ngang cho liên quan mạnh với cả ý nghĩ lẫn cố gắng tự sát. Số liệu tiến cứu vẫn thấy rối loạn giấc ngủ dự báo ý nghĩ tự sát, nhưng không thấy dự báo có ý nghĩa với cố gắng tự sát. Lý do khả dĩ gồm ba điểm. Chỉ có 4 nghiên cứu tiến cứu, vì vậy thiếu lực thống kê và KTC rất rộng. YRBS không hiệu chỉnh trầm cảm hay dùng chất. Phơi nhiễm cũng khác nhau: thời lượng ngủ ở YRBS so với "rối loạn giấc ngủ" trong phân tích gộp. Ước lượng điểm 1,98 gần với số cắt ngang, vì vậy kết quả tiến cứu là "chưa đủ chắc" chứ không phải "không có liên quan" SL.

Số liệu Việt Nam#

Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào phân tích liên quan giữa giấc ngủ và ý nghĩ hay hành vi tự sát ở vị thành niên. Nghiên cứu ở Huế nêu trên là nguồn duy nhất có kết cục tự gây tổn thương không tự sát, trong một mô hình trung gian cắt ngang ở một trường.

Người đang có ý nghĩ tự hại, hoặc cha mẹ lo con có ý nghĩ đó, cần tìm hỗ trợ ngay từ nhân viên y tế hoặc người lớn tin cậy.

Độ chắc chắn của các kết luận chính#

Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.

Câu hỏiMức chắc chắn
Ở vị thành niên, ngủ ngắn hơn có đi kèm khí sắc kém hơn?Rất thấp
Hạn chế ngủ ngắn hạn có làm xấu cảm xúc hằng ngày của vị thành niên?Thấp
Hạn chế ngủ ngắn hạn có làm tăng điểm trầm cảm của vị thành niên?Thấp
Rối loạn giấc ngủ có dự báo ý nghĩ tự sát về sau ở vị thành niên?Rất thấp

Điều chưa biết#

  • Ngoài vài nghiên cứu cắt ngang ở từng trường Việt Nam, chưa có số liệu đọc được từ Hàn Quốc, Đài Loan hay các nước Đông Nam Á khác về giấc ngủ vị thành niên và trầm cảm hay tự sát.
  • Phân tích gộp về rối loạn giấc ngủ và tự sát mới đọc qua tóm tắt; chưa có KTC cho các OR cắt ngang và chưa biết cách định nghĩa rối loạn giấc ngủ ở từng nghiên cứu.
  • Các nghiên cứu dọc thành phần trong tổng quan khí sắc (Nowakowski, Lovato, Doane, Fan) chưa được đọc bài gốc.
  • Thử nghiệm hạn chế ngủ ở vị thành niên đều ngắn hạn; chưa có thực nghiệm nào đủ dài để xét kết cục trầm cảm.
  • Ở Việt Nam, chưa tìm được số liệu giấc ngủ từ Điều tra sức khoẻ học sinh toàn cầu (GSHS) hay Điều tra quốc gia sức khoẻ tâm thần vị thành niên (V-NAMHS). Bộ dữ liệu GSHS công khai có biến ý định tự sát nhưng không có biến giấc ngủ. Các nghiên cứu hiện có là cắt ngang ở từng trường.
  • Bài ở Hoà Vang ghi dấu của tương quan thời lượng ngủ–lo âu không nhất quán, và chưa có nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ học sinh bằng actigraphy cùng với sức khoẻ tâm thần.

Viết tắt trong trang

AASM
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
aOR
tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
NIH
Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institutes of Health)
NIOSH
Viện Quốc gia về An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp Hoa Kỳ (National Institute for Occupational Safety and Health)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
PSQI
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Giấc ngủ, trầm cảm, lo âu và hành vi nguy cơ ở vị thành niên. Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/giac-ngu-va-suc-khoe-tam-than-vi-thanh-nien/