Chương này chỉ nói về Việt Nam và hỏi: về giấc ngủ của trẻ em và vị thành niên Việt Nam, điều gì đã có số đo, đo bằng thiết kế nào, và điều gì vẫn chưa có. Phần lớn số liệu là cắt ngang, do cha mẹ hay học sinh tự báo cáo, ở một trường hay một bệnh viện. Đo khách quan chỉ có ở 46 trẻ 4 tuổi đeo gia tốc kế và ở trẻ đến bệnh viện được đo đa ký hô hấp tại nhà. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào dùng đa ký giấc ngủ đầy đủ ở trẻ Việt Nam. Văn bản chính thức quy định giấc ngủ trưa ở trường mầm non khá chi tiết, nhưng văn bản phổ thông không nhắc tới giấc ngủ. Suy luận của nhóm biên tập được gắn nhãn SL; chương không đề xuất chính sách.
Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) là bảng hỏi tự báo cáo về tháng qua. Bảng hỏi thói quen ngủ của trẻ (Children's Sleep Habits Questionnaire, CSHQ) và Bảng hỏi giấc ngủ nhi khoa (Pediatric Sleep Questionnaire, PSQ) do cha mẹ trả lời. Tỉ số chênh (odds ratio, OR) và tỉ số hiện mắc (prevalence ratio, PR) được ghi kèm khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) khi bài có.
Nguồn Việt Nam hiện có#
Chỉ một khảo sát tự gọi là toàn quốc, và khảo sát đó có xung đột lợi ích. Vài nghiên cứu có nhiều trường; phần còn lại là một trường hay một bệnh viện. Trong bảng, trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) là tên cấp học.
| Nguồn | Phạm vi, cỡ mẫu | Giấc ngủ đo bằng |
|---|---|---|
| Khảo sát 7 vùng (Nguyen và cs., 2025) | 43.505 trẻ 6–17 tuổi | Một biến "đi ngủ sớm" do cha mẹ trả lời |
| Tiểu học Hà Nội (Le Thi Tuyet và cs., 2024) | 31 trường, 559 trẻ (bệnh–chứng) | Thời lượng ngủ đêm do cha mẹ báo cáo |
| Lớp 6 Hà Nội (Pham và cs., 2019) | 4 trường, 821 học sinh | Bảng hỏi tự điền |
| THCS Tiền Giang (Nguyễn Thành Nam và cs., 2025) | 3 địa bàn, 1.440 học sinh (bệnh–chứng) | Phỏng vấn học sinh |
| THPT Hà Nội, Hưng Yên (Le và cs., 2026) | 4 trường, 541 học sinh | PSQI |
| THPT Đông Hoà, Phú Yên (Tran và cs., 2023) | 3 trường, 768 học sinh | PSQI |
| Trẻ 4 tuổi TP.HCM (Nguyễn Thị Đan Thanh và cs., 2024) | 4 trường mầm non, 46 trẻ có số đo | Gia tốc kế và bảng hỏi cha mẹ |
Khảo sát 43.505 trẻ chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhiều giai đoạn, nhưng không nêu số tỉnh. Biến "đi ngủ sớm" không được định nghĩa, và dữ liệu lấy từ chương trình đánh giá của Công ty Cổ phần Midu MenaQ7, nơi hai tác giả làm việc. Công ty này có sản phẩm vitamin K2, và mô hình có biến "dùng vitamin K2 hằng ngày".
Nhiều bài, ít mẫu. Phần lớn nghiên cứu ở trẻ có bệnh đến từ Bệnh viện Nhi Trung ương, do hai nhóm tác giả thực hiện, với mẫu có thể chồng lấn. Ít nhất năm bài về trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý (attention-deficit/hyperactivity disorder, ADHD) đến từ cùng một khoa, với số liệu thu trong 2022–2024. Hai bài về trẻ có VA (tổ chức lympho vòm họng, adenoid) và amiđan quá phát gần như chắc chắn dùng chung 63 trẻ (Phí Thị Quỳnh Anh và cs., 2022; Phí Thị Quỳnh Anh và cs., 2023). Các bài như vậy không được cộng như những mẫu độc lập SL.
Theo lứa tuổi: những gì đã có số đo#
Dưới 2 tuổi#
Nguồn duy nhất là 198 trẻ dưới 24 tháng đến tiêm chủng tại Bệnh viện Nhi Trung ương (1–5/2023), chọn thuận tiện (Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cs., 2023). Người chăm sóc, 97% là mẹ, trả lời Bảng hỏi ngắn về giấc ngủ nhũ nhi (Brief Infant Sleep Questionnaire, BISQ) mở rộng về 2 tuần qua. Tổng thời gian ngủ trung bình là 13,34 giờ mỗi 24 giờ, giảm từ 15,44 giờ ở 0–2 tháng xuống 11,73 giờ ở 18–23 tháng. Giờ đi ngủ trung bình 21:09, giờ dậy 7:11.
Trong cùng mẫu, 35,3% người chăm sóc đánh giá con có vấn đề giấc ngủ mức vừa và 4,5% mức nặng. Khảo sát Mindell 2010 ở Việt Nam, dùng ở Tập 12, lại ghi chỉ 10,1% cha mẹ coi con 0–36 tháng có vấn đề giấc ngủ. Lý do khả dĩ là câu hỏi và thang trả lời khác nhau, mẫu khác nhau, nhóm tuổi khác nhau và hai thời điểm cách nhau 13 năm SL. Trong mẫu bệnh viện, 89,4% trẻ ngủ giường cha mẹ và 13,6% nằm sấp; chủ đề này thuộc chương Ngủ chung cha mẹ và con của Tập 12 "Giấc ngủ kiểu Việt".
Mẫu giáo#
Số đo khách quan duy nhất ở trẻ khoẻ mạnh là nghiên cứu thí điểm ở trẻ 4 tuổi của 4 trường mầm non TP.HCM năm 2019 (Nguyễn Thị Đan Thanh và cs., 2024). Trong 103–105 trẻ đồng ý, chỉ 46 trẻ có ít nhất một đêm số liệu gia tốc kế hợp lệ, và 59% trong số đó chỉ có 1 đêm. Gia tốc kế đeo hông cho giờ vào giấc trung bình 22:06 và giấc ngủ đêm 505 ± 46 phút. Theo cha mẹ, 61% trẻ đi ngủ sau 22 giờ, chỉ 7% trước 21 giờ, và 63% ngủ ngày 2–3 giờ.
Chương trình giáo dục mầm non dành 140–150 phút cho giấc ngủ trưa của trẻ mẫu giáo. Câu hỏi giấc trưa dài ở trường có đi kèm giờ ngủ tối muộn hay không chưa được kiểm định ở Việt Nam: bài TP.HCM không phân tích, và mẫu chỉ 46 trẻ SL. Phân tích ở chương Ngủ trưa ở trẻ mẫu giáo và ở trường mầm non Việt Nam.
Bài có hai con số cho tổng thời gian ngủ: 8 giờ 35 phút ở tóm tắt và 505 phút, tức khoảng 8 giờ 25 phút, ở phần kết quả. Chúng tôi dùng số trong phần kết quả.
Tiểu học#
Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu cộng đồng nào đo thời lượng ngủ của học sinh tiểu học Việt Nam bằng thiết bị. Số liệu chủ yếu là biến phụ trong nghiên cứu béo phì. Ở 31 trường tiểu học thuộc 8 quận, huyện Hà Nội (2015–2017), ngủ đêm dưới 8 giờ theo cha mẹ gặp ở 23,6% trẻ béo phì so với 10,6% trẻ cân nặng bình thường (Le Thi Tuyet và cs., 2024). OR hiệu chỉnh tuổi và giới là 2,7, bài không nêu KTC. Câu diễn giải của tác giả viết thành "2,7 lần", nhưng đây là tỉ số chênh, không phải nguy cơ.
Ở 168 trẻ 2–10 tuổi tại Nghệ An, người chăm sóc được phỏng vấn 2–4 tuần sau khi trẻ dương tính COVID-19. Có 51,8% trẻ vượt ngưỡng rối loạn giấc ngủ theo CSHQ hay bản rút gọn (Trần Văn Phú và Nguyễn Thị Thanh Mai, 2023). Không có số liệu trước COVID-19 của cùng trẻ, không có nhóm chứng, và bài ghi hai khoảng thời gian thu thập khác năm.
Trung học cơ sở#
Ở 821 học sinh lớp 6 (11–12 tuổi) của 4 trường nội thành Hà Nội năm 2014, thời lượng ngủ hỏi qua bảng hỏi mà bài không nêu ai trả lời. Nhóm tham chiếu là ngủ từ 8 giờ trở xuống theo tóm tắt bài. Ngủ 8–11 giờ đi kèm OR thừa cân, béo phì 0,57 (KTC 95% 0,40–0,81) sau hiệu chỉnh giới (Pham và cs., 2019). Ở Tiền Giang, nghiên cứu bệnh–chứng 720 cặp học sinh lớp 6–9 cho OR béo phì 2,17 (1,62–2,93) với ngủ dưới 8 giờ (Nguyễn Thành Nam và cs., 2025). Tỉ lệ ngủ ngắn là 33,8% ở nhóm béo phì và 12,6% ở nhóm chứng, do nhóm biên tập tính lại từ số đếm SL. Câu trích của bài ghi "72,7% so với 27,3%", đó là tỉ trọng trong nhóm ngủ ngắn, dễ bị đọc nhầm.
Khảo sát 43.505 trẻ 6–17 tuổi cho 53,2% "đi ngủ sớm" theo cha mẹ. Biến này đi kèm OR thừa cân, béo phì 0,91 (0,87–0,95) và OR thấp còi 1,22 (1,10–1,35) (Nguyen và cs., 2025). Biến không có định nghĩa và khảo sát có xung đột lợi ích như đã nêu. Phân tích ở chương Ngủ ít với cân nặng, học tập và hành vi: hiệu ứng lớn đến đâu.
Trung học phổ thông#
Học sinh THPT có nhiều nghiên cứu nhất, gần như đều dùng PSQI. Tỉ lệ ngủ kém dao động từ khoảng một phần ba đến khoảng bảy phần mười.
| Mẫu | n | Thời điểm | Ngưỡng | Ngủ kém |
|---|---|---|---|---|
| 3 trường, Đông Hoà, Phú Yên | 768 | 4/2021 | PSQI > 5 | 33,5% |
| THPT Hoà Vang, Đà Nẵng (Tran Danh Tien Thinh và cs., 2025) | 737 | 4–10/2024 | PSQI ≥ 5 | 47,5% (bài cùng mẫu dùng ở Tập 12; bài trích dẫn ở cột Mẫu không báo tỉ lệ này) |
| THPT Hai Bà Trưng, Huế (Nguyễn Hữu Minh An và cs., 2026) | 747 | 3–4/2026 | PSQI > 5 | 57,4% |
| Một trường miền Bắc (Nguyen và cs., 2022) | 678 | 7–9/2019 | PSQI | 58,8% |
| THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu, An Giang (Nguyễn Huỳnh Thùy Trang và cs., 2024) | 438 | 2–4/2023 | PSQI > 5 | 70,1% |
Lý do khả dĩ cho khoảng chênh là trường chuyên so với trường thường, thời điểm thu thập (giai đoạn COVID-19, mùa hè, mùa thi), ngưỡng khác nhau, và thành thị so với thị xã SL. Hai bài Đà Nẵng dùng ngưỡng PSQI ≥ 5 thay vì > 5 chuẩn, vì vậy 47,5% không so trực tiếp được với các bài khác. Ở Đà Nẵng, thời lượng ngủ tự báo cáo trung bình 6,40 giờ mỗi ngày và 31,2% đi ngủ sau nửa đêm.
Các yếu tố đi kèm đều từ nghiên cứu cắt ngang. Ở An Giang, căng thẳng học tập nặng đi kèm PR ngủ kém 1,53 (1,32–1,78) so với mức nhẹ (Nguyễn Huỳnh Thùy Trang và cs., 2024). Ở Phú Yên, nghiện internet đi kèm OR ngủ kém 2,98 (2,05–4,34) sau hiệu chỉnh (Tran và cs., 2023). Ở trường miền Bắc, dùng internet quá mức đi kèm OR 1,58 (1,06–2,35) (Nguyen và cs., 2022). Tóm tắt bài miền Bắc diễn giải OR 1,58 thành khả năng cao hơn 58%; đó là tỉ số chênh, không phải nguy cơ tương đối.
Ở Huế, theo học sinh tự báo cáo, thời gian dùng mạng xã hội sau 22:00 trung bình 77,4 phút mỗi tối (trung vị 60 phút). Kết cục chính của bài là hành vi tự gây tổn thương không tự sát, trình bày ở chương Giấc ngủ, trầm cảm, lo âu và hành vi nguy cơ ở vị thành niên. Người đang có ý nghĩ tự hại, hoặc cha mẹ lo con có ý nghĩ đó, cần tìm hỗ trợ ngay từ nhân viên y tế hoặc người lớn tin cậy.
Ở 541 học sinh lớp 10–11 của 4 trường Hà Nội và Hưng Yên, ngủ kém hơn theo PSQI đi kèm điểm học tập tự báo cáo thấp hơn, nhưng tương quan chính tắc chỉ 0,20 (Le và cs., 2026). Liên quan mất ý nghĩa thống kê khi đưa động lực học tập và mệt mỏi vào mô hình.
Trẻ có bệnh ở bệnh viện#
Ở trẻ đến bệnh viện, tỉ lệ có rối loạn giấc ngủ theo CSHQ ≥ 41 là 70,0% ở 629 trẻ ADHD (Nguyễn Thị Phương Mai và cs., 2025b) và 81,2% ở 117 trẻ tự kỷ (Nguyễn Thị Thanh Mai và cs., 2022). Ở 98 trẻ động kinh, tỉ lệ là 60,2% (Phạm Hồng Nhung và cs., 2025). Không mẫu nào có nhóm trẻ khoẻ mạnh, và ngưỡng 41 cho tỉ lệ cao cả ở trẻ khoẻ mạnh ở nhiều nước. Các nghiên cứu theo dõi, như 141 trẻ ADHD có ngưng thở khi ngủ trong 6 tháng hay 49 trẻ ngáy được phẫu thuật VA–amiđan tại Huế, đều không có nhóm chứng. Ngưng thở khi ngủ được xác định ở 23,3% trong 524 trẻ ADHD được sàng lọc; trẻ có PSQ âm tính không được đo, nên tỉ lệ thật có thể cao hơn (Nguyen-Thi-Phuong và cs., 2025). Chi tiết ở chương Ngáy, ngưng thở khi ngủ và cắt amiđan ở trẻ và chương Mất ngủ, hoảng sợ ban đêm, ADHD, tự kỷ và melatonin ở trẻ.
Văn bản chính thức#
Mầm non: ngủ trưa và phòng ngủ#
Chương trình giáo dục mầm non nằm trong Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BGDĐT ngày 13/04/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình quy định trẻ mẫu giáo 3–6 tuổi được tổ chức ngủ một giấc trưa khoảng 150 phút (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021). Bảng chế độ sinh hoạt dành 140–150 phút cho "Ngủ", khoảng thời gian dài nhất trong ngày ở trường. Ngoài tổ chức ngủ trưa, chỗ ngủ trong lớp và vài mục hành vi như "giờ ngủ không làm ồn", chương trình không có mục giáo dục riêng về nhu cầu hay thói quen ngủ. Chúng tôi đọc văn bản qua caselaw.vn, chưa xác minh hiệu lực trên cổng chính thức.
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 3907:2011 "Trường mầm non – Yêu cầu thiết kế" quy định phòng ngủ 1,20–1,50 m² mỗi trẻ. Mỗi phòng không nhỏ hơn 18 m² với nhóm trẻ và 30 m² với lớp mẫu giáo (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2011). Phòng ngủ phải "yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông", nhưng tiêu chuẩn không nêu mức ồn hay nhiệt độ. Bản chúng tôi đọc do một doanh nghiệp chiếu sáng đăng, và TCVN là tiêu chuẩn tự nguyện trừ khi được viện dẫn trong quy chuẩn.
Bộ Xây dựng đăng dự thảo tiêu chuẩn thay thế để lấy ý kiến năm 2025. Dự thảo giữ mức tối thiểu 1,20 m² mỗi trẻ và đặt hệ số chiếu sáng tự nhiên tối thiểu 1,5% cho phòng ngủ (Bộ Xây dựng, 2025). Dự thảo yêu cầu cách âm tốt cho phòng học, phòng ngủ nhưng vẫn không nêu mức ồn. Dự thảo chưa có số hiệu, và chúng tôi chưa xác minh được việc ban hành.
Phổ thông: giờ học, giờ vào lớp và học thêm#
Công văn 4567/BGDĐT-GDPT ngày 05/08/2025 hướng dẫn dạy học 2 buổi mỗi ngày năm học 2025–2026 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Ở tiểu học, mỗi ngày không quá 7 tiết, mỗi tiết 35 phút; THCS và THPT không quá 7 tiết, mỗi tiết 45 phút. Theo tính toán của nhóm biên tập, giờ tiết học tối đa khoảng 4 giờ 5 phút mỗi ngày ở tiểu học và 5 giờ 15 phút ở THCS, THPT, chưa tính giờ ra chơi SL. Công văn không quy định giờ vào học, giao nhà trường xây dựng phương án nghỉ trưa và không nhắc tới ngủ trưa. Đây là công văn hướng dẫn, không phải văn bản quy phạm pháp luật, và chúng tôi đọc qua luatvietnam.vn.
Ở TP.HCM, Công văn 2258/SGDĐT-VP ngày 12/09/2025 của Sở Giáo dục và Đào tạo đặt tiết đầu buổi sáng của trường phổ thông từ 7:00, không trễ hơn 8:00. Buổi chiều kết thúc trong khoảng 16:00–17:00 (Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh, 2025). Lý do nêu là giao thông. Chúng tôi chỉ đọc bản tóm lược.
Ở Hà Nội, theo báo chí, từ 01/02/2012 học sinh THPT ở 10 quận nội thành, Thanh Trì và Từ Liêm bắt đầu học từ trước 7 giờ và tan sau 19 giờ. Đây là đợt điều chỉnh giờ học để giảm ùn tắc (Báo Pháp luật Việt Nam, 2012). Từ 13/02/2012, giờ tan buổi chiều của THPT được rút xuống 18 giờ (Tiền Phong, 2012). Không có số hiệu văn bản trong bài báo, và không rõ quy định còn áp dụng hay không.
Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT về dạy thêm, học thêm, ban hành 30/12/2024, có hiệu lực 14/02/2025 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024). Thông tư không cho dạy thêm học sinh tiểu học, trừ bồi dưỡng nghệ thuật, thể dục thể thao, kỹ năng sống, và giới hạn dạy thêm trong trường ở 2 tiết mỗi tuần cho mỗi môn. Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT (31/03/2026, hiệu lực 15/05/2026) cho phép Giám đốc Sở điều chỉnh thời lượng này theo đề nghị của hiệu trưởng. Văn bản chỉ yêu cầu chung thời lượng, thời điểm dạy thêm phù hợp tâm sinh lý và bảo đảm sức khoẻ học sinh. Không có giờ kết thúc muộn nhất hay quy định nào về nghỉ ngơi, giấc ngủ.
Chúng tôi không đọc được toàn văn Thông tư 29/2024 gốc; ngày hiệu lực đọc trên cổng thông tin của Nghệ An và Cần Thơ, chưa đọc trên cổng văn bản của Chính phủ. Chúng tôi cũng chưa tìm được văn bản nào của Bộ Y tế khuyến nghị thời lượng ngủ theo tuổi cho trẻ Việt Nam. Một quyết định năm 2015 của Bộ Y tế về bệnh thường gặp ở trẻ em cần đăng nhập, vì vậy chưa đọc được.
| Văn bản | Cơ quan | Nội dung liên quan giấc ngủ | Tình trạng kiểm |
|---|---|---|---|
| 01/VBHN-BGDĐT, 13/04/2021 | Bộ Giáo dục và Đào tạo | Ngủ trưa khoảng 150 phút ở mẫu giáo | Đọc qua caselaw.vn |
| TCVN 3907:2011 | Bộ Khoa học và Công nghệ công bố | Diện tích phòng ngủ; không có mức ồn, nhiệt độ | Bản sao của doanh nghiệp |
| Dự thảo TCVN, 2025 | Bộ Xây dựng | Chiếu sáng tự nhiên 1,5%; cách âm không định lượng | Dự thảo, chưa xác minh ban hành |
| 4567/BGDĐT-GDPT, 05/08/2025 | Bộ Giáo dục và Đào tạo | Số tiết tối đa; không quy định giờ vào học | Đọc qua luatvietnam.vn |
| 2258/SGDĐT-VP, 12/09/2025 | Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM | Tiết đầu 7:00–8:00, vì giao thông | Chỉ đọc bản tóm lược |
| 29/2024/TT-BGDĐT; 19/2026/TT-BGDĐT | Bộ Giáo dục và Đào tạo | Dạy thêm; không có giờ kết thúc | Hiệu lực đọc ở cổng địa phương |
Điểm chung SL: giấc ngủ chỉ được định lượng ở mầm non, dưới dạng giấc trưa ở trường. Ở hai địa phương có thông tin thu được (Hà Nội 2012 qua báo chí, TP.HCM 2025 qua bản tóm lược công văn), giờ vào học được đặt theo lý do giao thông.
Công cụ đo bản tiếng Việt và giới hạn#
CSHQ bản tiếng Việt (CSHQ-V, 33 câu) được thích ứng ở 115 trẻ ADHD 4–12 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương, với Cronbach's alpha 0,78 (Nguyễn Thị Phương Mai và cs., 2025a). Bài nêu độ nhạy 99% và độ đặc hiệu 80% ở điểm cắt 41 nhưng không nêu tiêu chuẩn tham chiếu. Công cụ chưa được kiểm định ở trẻ cộng đồng, dù CSHQ bản tiếng Việt đã được dùng cho trẻ động kinh, và các bản CSHQ trước bài thích ứng này đã được dùng cho trẻ tự kỷ và trẻ sau COVID-19.
Có hai bản PSQ tiếng Việt độc lập, ở TP.HCM và Hà Nội, chưa được đối chiếu với nhau. Bản TP.HCM có độ tin cậy tốt, nhưng ở 20 trẻ được đo đa ký hô hấp, tương quan giữa điểm PSQ và chỉ số ngưng thở–giảm thở gần bằng 0 (rho = −0,012). Mẫu quá nhỏ để loại trừ một tương quan vừa phải (Le Thi Minh Thu và cs., 2023). Bản Hà Nội chưa được so với đo khách quan (Nguyen Ngoc Quynh Le và cs., 2023). Trong khi đó, các nghiên cứu ở trẻ tăng động giảm chú ý dùng PSQ làm bước lọc trước khi đo đa ký hô hấp. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đối chiếu PSQ với đa ký giấc ngủ đầy đủ.
PSQI bản tiếng Việt được dùng ở hầu hết nghiên cứu học sinh, nhưng chúng tôi chưa thấy bài kiểm định ở vị thành niên trong bộ nguồn SL. Gia tốc kế ở trẻ 4 tuổi TP.HCM đeo ở hông, chấm bằng thuật toán Sadeh vốn dành cho cổ tay, vì vậy có thể sai lệch.
Con số lưu hành trên báo#
Một số con số về "trẻ em Việt Nam thiếu ngủ" được báo chí đăng mà không có nguồn đo. Báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 12/09/2017 có tiêu đề "40% trẻ em Việt Nam thiếu ngủ do học quá nhiều" (SGGP, 2017). Thân bài dẫn lời một bác sĩ phòng khám, không nêu nghiên cứu hay nước. Báo Văn hoá ngày 21/08/2019 có tiêu đề "22–45% trẻ em Việt Nam gặp phải chứng rối loạn giấc ngủ", chỉ ghi "theo nghiên cứu" (Báo Văn hoá, 2019).
Chúng tôi nhắc hai con số này như một hiện tượng, không dùng làm số liệu. Số đo thực ở Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào công cụ, ngưỡng và mẫu: chẳng hạn giấc ngủ đêm 505 phút ở trẻ 4 tuổi đo bằng gia tốc kế, hay 33,5–70,1% học sinh THPT ngủ kém theo PSQI tuỳ trường.
Câu hỏi và nguồn Việt Nam tốt nhất hiện có#
| Câu hỏi | Nguồn tốt nhất hiện có | Thiết kế | Giới hạn |
|---|---|---|---|
| Trẻ dưới 2 tuổi ngủ bao lâu | 198 trẻ, Bệnh viện Nhi Trung ương | Cắt ngang, BISQ | Một cơ sở; cha mẹ nhớ lại; không đo khách quan |
| Trẻ mẫu giáo ngủ đêm bao lâu | 46 trẻ 4 tuổi, TP.HCM | Thí điểm, gia tốc kế | Mẫu rất nhỏ; đa số chỉ 1 đêm; không đo giấc trưa |
| Học sinh tiểu học ngủ bao lâu | 31 trường Hà Nội | Bệnh–chứng béo phì | Mẫu chọn theo tình trạng béo phì nên không ước được phân bố thời lượng ngủ; chỉ ngưỡng 8 giờ; cha mẹ báo cáo |
| Học sinh THPT ngủ kém bao nhiêu | Năm mẫu dùng PSQI | Cắt ngang | Phần lớn một trường; ngưỡng khác nhau |
| Giấc ngủ và cân nặng | Khảo sát 43.505 trẻ; Tiền Giang; Hà Nội | Cắt ngang; bệnh–chứng | Biến ngủ không định nghĩa; xung đột lợi ích |
| Trẻ tăng động giảm chú ý có ngưng thở khi ngủ | Thuần tập Bệnh viện Nhi Trung ương | Cắt ngang, trước–sau | Sàng lọc PSQ chưa kiểm định; nhiều bài trùng mẫu |
| Giờ vào học và giấc ngủ | Không có | Không có | Văn bản đặt giờ học vì giao thông |
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được số liệu giấc ngủ nào từ Điều tra sức khoẻ học sinh toàn cầu tại Việt Nam hay Điều tra các chỉ số mục tiêu phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ 2020–2021. Young Lives và điều tra quốc gia sức khoẻ tâm thần vị thành niên 2021–2022 cũng vậy.
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo tác động của giờ vào học lên thời lượng ngủ.
- Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ trẻ dưới 2 tuổi bằng thiết bị, nghiên cứu giấc ngủ trẻ sinh non, hay thử nghiệm can thiệp hành vi về giấc ngủ trẻ.
- Chưa có nghiên cứu cộng đồng đo giấc ngủ học sinh tiểu học bằng gia tốc kế (actigraphy), hay dùng CSHQ ở trẻ khoẻ mạnh.
- Chưa có số liệu cộng đồng về đái dầm, hoảng sợ ban đêm, mộng du ở trẻ Việt Nam.
- Thuần tập vị thành niên ở Huế công bố năm 2025 có đo số giờ ngủ tự báo cáo nhưng không công bố số liệu giấc ngủ.
- Chưa tìm được văn bản Bộ Y tế nào về thời lượng ngủ theo tuổi cho trẻ, và chưa kiểm được tình trạng pháp lý của melatonin dùng cho trẻ.
- Nguồn nhiều cơ sở có chọn mẫu xác suất còn ít; nhiều nghiên cứu "giấc ngủ người trẻ" thực ra là sinh viên đại học, ngoài phạm vi tập này.
Viết tắt trong trang
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Giấc ngủ trẻ em Việt Nam: đã đo gì, chưa đo gì. Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/tre-em-viet-nam-ngu-the-nao/