Chương này hỏi: trẻ ngủ ít đi kèm cân nặng cao hơn, học tập kém hơn và nhiều vấn đề hành vi hơn ở mức nào, và các thực nghiệm thay đổi giấc ngủ cho thấy gì. Về cân nặng, ngủ ngắn đi kèm nguy cơ thừa cân, béo phì về sau cao hơn trong các phân tích gộp thuần tập, nhưng mỗi giờ ngủ thêm chỉ đi kèm chỉ số khối cơ thể thấp hơn rất ít. Về nhận thức, học tập và hành vi ở trẻ 5–12 tuổi, các tương quan quan sát được đều rất nhỏ (r khoảng 0,08–0,09), phần lớn từ nghiên cứu quan sát; độ chắc chắn với nhận thức và học tập là rất thấp. Hai thực nghiệm nhỏ ở trẻ tiểu học (37 trẻ và 33 trẻ) rút ngắn giấc ngủ trong 5 đêm đến một tuần. Khi đó trẻ ăn nhiều hơn vào buổi tối, và giáo viên, không biết trẻ thuộc nhóm nào, chấm điểm hành vi xấu hơn; độ chắc chắn của cả hai kết quả là thấp. Ở Việt Nam, ba nghiên cứu cắt ngang và bệnh–chứng về béo phì đều thấy ngủ dưới 8 giờ đi kèm béo phì, nhưng ngưỡng 8 giờ thấp hơn nhiều so với khuyến nghị cho trẻ tiểu học, và hiệu chỉnh nhiễu còn hạn chế.
Khuyến nghị thời lượng ngủ theo tuổi có ở chương Trẻ cần ngủ bao nhiêu: khuyến nghị và nền bằng chứng. Giấc ngủ, trầm cảm và lo âu ở vị thành niên có ở chương Giấc ngủ, trầm cảm, lo âu và hành vi nguy cơ ở vị thành niên.
Ngủ ngắn và cân nặng: nguy cơ tương đối và chỉ số khối cơ thể#
Hai phân tích gộp, hai độ lớn#
Phân tích gộp Miller 2018 chỉ gồm nghiên cứu tiến cứu theo dõi ít nhất 1 năm, tìm đến 25/9/2017 (Miller và cs., 2018). Tổng quan có 42 nghiên cứu (63 thuần tập); phân tích thừa cân, béo phì gồm 75.499 người ở 9 nước. Giấc ngủ chủ yếu do cha mẹ hoặc trẻ tự báo cáo qua bảng hỏi, nhật ký; chỉ 1 nghiên cứu dùng đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) và 3 nghiên cứu dùng gia tốc kế.
Trẻ ngủ ngắn đi kèm nguy cơ thừa cân, béo phì về sau cao hơn, với tỉ số nguy cơ (risk ratio, RR) gộp 1,58 (khoảng tin cậy, KTC 95% 1,35–1,85; I² = 92%). Theo nhóm tuổi, RR là 1,40 (1,19–1,65) ở 0 đến dưới 3 tuổi, 1,57 (1,40–1,76) ở 3 đến dưới 9 tuổi, 2,23 (2,18–2,27) ở 9 đến dưới 12 tuổi và 1,30 (1,11–1,53) ở 12–18 tuổi. Kiểm định Egger gợi ý thiên lệch công bố (p = 0,005).
Khoảng tin cậy rất hẹp ở nhóm 9–12 tuổi gợi ý ước lượng bị chi phối bởi một nghiên cứu lớn SL. Tác giả dùng chữ "yếu tố nguy cơ hoặc chỉ dấu", tức chưa chứng minh nhân quả.
Cùng phân tích gộp xét chỉ số khối cơ thể (body mass index, BMI) như biến liên tục. Khi đó, mỗi giờ ngủ thêm chỉ đi kèm điểm BMI chuẩn hoá theo tuổi (BMI z) thấp hơn 0,03 (KTC 95% −0,04 đến −0,01; I² = 54%). Liên quan có ý nghĩa ở nhũ nhi và trẻ nhỏ, nhưng không có ý nghĩa thống kê ở tuổi 9–12 và vị thành niên.
Phân tích gộp Fatima 2015 tổng quan 22 nghiên cứu dọc và gộp 11 nghiên cứu (24.821 người) bằng phương pháp hiệu chỉnh thiên lệch (bias-adjusted), tìm đến 5/2014 (Fatima và cs., 2015). "Ngủ ngắn" được định nghĩa theo khuyến nghị của Sleep Health Foundation. So với trẻ ngủ dài, trẻ và thanh thiếu niên ngủ ngắn đi kèm tỉ số chênh (odds ratio, OR) thừa cân, béo phì về sau 2,15 (KTC 95% 1,64–2,81). Tóm tắt tự diễn đạt là "twice the risk", nhưng đây là OR, không phải nguy cơ. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Vì sao RR 1,58 và OR 2,15 khác nhau#
Hai con số trả lời hai câu hỏi hơi khác nhau. Fatima so sánh ngủ ngắn với ngủ dài, không phải với ngủ đủ, và dùng OR; OR phóng đại hơn RR khi kết cục phổ biến. Nhận xét này của nhóm biên tập có thể giải thích vì sao ước lượng của Fatima lớn hơn RR 1,58 của Miller SL. Hai phân tích cũng khác tập nghiên cứu và định nghĩa ngủ ngắn.
Điểm quan trọng hơn là khoảng cách giữa nguy cơ tương đối và thay đổi trung bình. Một RR 1,58 nghe có vẻ lớn, nhưng nó đi cùng mức chênh BMI z chỉ 0,03 mỗi giờ ngủ. Hai con số không đo cùng một phép so sánh: RR so nhóm ngủ ngắn với nhóm tham chiếu, còn 0,03 là độ dốc trung bình cho mỗi giờ. Một dịch chuyển trung bình nhỏ vẫn có thể đẩy một phần trẻ qua ngưỡng thừa cân SL. Ở mức cá nhân, độ lớn trung bình rất nhỏ dù có ý nghĩa thống kê. Một cách đọc khả dĩ là ngủ ngắn liên quan rõ hơn ở một nhóm nhỏ trẻ đã ở gần ngưỡng thừa cân SL. Cách đọc khác là ngủ ngắn là chỉ dấu của một nếp sống chung (màn hình, ăn uống, vận động) mà hiệu chỉnh chưa bắt hết SL.
Nhũ nhi: thuần tập, thử nghiệm và bảng chứng cứ của Tổ chức Y tế Thế giới#
Ở Mỹ, thuần tập tiến cứu Project Viva theo dõi 915 trẻ, với thời lượng ngủ do mẹ báo cáo lúc 6 tháng, 1 tuổi và 2 tuổi (Taveras và cs., 2008). Trẻ ngủ trung bình 12,3 giờ/ngày (độ lệch chuẩn 1,1), và 9% thừa cân lúc 3 tuổi. Ngủ dưới 12 giờ/ngày ở tuổi nhũ nhi đi kèm BMI z cao hơn 0,16 (KTC 95% 0,02–0,29) lúc 3 tuổi. Tổng độ dày nếp da (skinfold) cao hơn 0,79 mm (0,18–1,40), và OR thừa cân là 2,04 (1,07–3,91). Khoảng tin cậy rộng.
Ở Singapore, thuần tập GUSTO cho kết quả yếu hơn (Zhou và cs., 2015). Chỉ ở trẻ ngủ ngắn (≤ 12 giờ/ngày lúc 3 tháng), thời lượng ngủ ngắn hơn mới đi kèm BMI cao hơn (β = −0,036; KTC 95% −0,065 đến −0,008). Trên toàn mẫu, liên quan không có ý nghĩa thống kê (β = −0,014; −0,030 đến 0,001). Một số tác giả nhận phí từ hãng dinh dưỡng, và liên minh nghiên cứu nhận tài trợ của Abbott, Nestlé và Danone.
Thử nghiệm POI ở New Zealand là thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) 4 nhánh với 802 gia đình; nhánh giấc ngủ gồm giáo dục trước sinh và thăm nhà sớm (Adebowale và cs., 2020). Phân tích chính lúc 2 tuổi không thấy khác biệt BMI z có ý nghĩa giữa các nhánh can thiệp và chăm sóc thường quy. Trong phân tích thăm dò so sánh trẻ có và không nhận can thiệp giấc ngủ (theo bài thứ cấp Fangupo và cs., 2022), BMI z thấp hơn 0,15 (KTC 95% −0,28 đến −0,01) và OR béo phì là 0,52 (0,34–0,80). Lúc 5 tuổi, chênh BMI z là −0,23 (−0,38 đến −0,07) và RR béo phì là 0,49 (0,28–0,84), với tỉ lệ giữ lại 69%.
Các số liệu POI đến từ hai bài thứ cấp của cùng nhóm, vì chúng tôi chưa mở được bài gốc. Thử nghiệm luyện ngủ và dự phòng từ sơ sinh được trình bày đầy đủ ở chương Luyện ngủ cho trẻ nhỏ: thử nghiệm nói gì.
Hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO) 2019 có bảng chứng cứ về thời lượng ngủ và tăng mỡ cơ thể ở trẻ 0–4,9 tuổi. Trong đó, 15 nghiên cứu dọc với 31.482 trẻ được xếp chất lượng bằng chứng thấp theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) (WHO, 2019b). Đa số nghiên cứu báo cáo ngủ ngắn đi kèm tăng mỡ, nhưng một nghiên cứu thấy ngủ dài đi kèm tăng mỡ. Tổng quan nền cho hướng dẫn 24 giờ cho trẻ nhỏ (69 bài, 148.524 trẻ, 23 nước) thấy ngủ ngắn đi kèm mỡ cơ thể cao hơn ở 20/31 nghiên cứu, cũng với bằng chứng thấp (Chaput và cs., 2017).
Bức tranh ở nhũ nhi như vậy không thống nhất. Project Viva và các phân tích thăm dò của POI cùng chiều (phân tích chính của POI lúc 2 tuổi không có ý nghĩa thống kê); GUSTO không thấy liên quan trên toàn mẫu, còn WHO xếp toàn bộ bằng chứng ở mức thấp. Các nguyên nhân khả dĩ gồm nhiễu kinh tế–xã hội, ngưỡng cắt tuỳ ý, thiếu công suất thống kê, giấc ngủ do cha mẹ báo cáo và khác biệt quần thể.
| Nguồn | Thiết kế, mẫu | So sánh | Ước lượng |
|---|---|---|---|
| Miller 2018 | Gộp thuần tập tiến cứu, 75.499 người | Ngủ ngắn, mọi tuổi | RR thừa cân/béo phì 1,58 (1,35–1,85) |
| Miller 2018 | Như trên | Mỗi giờ ngủ thêm | BMI z −0,03 (−0,04 đến −0,01) |
| Fatima 2015 | Gộp 11 nghiên cứu dọc, 24.821 người | Ngủ ngắn so với ngủ dài | OR 2,15 (1,64–2,81) |
| Project Viva 2008 | Thuần tập, 915 trẻ, Mỹ | Ngủ dưới 12 giờ ở tuổi nhũ nhi | OR thừa cân lúc 3 tuổi 2,04 (1,07–3,91) |
| GUSTO 2015 | Thuần tập, 799 trẻ trong mô hình BMI, Singapore | Thời lượng ngủ, toàn mẫu | β −0,014 (−0,030 đến 0,001), không có ý nghĩa |
| POI | RCT, 802 gia đình, New Zealand | Nhận và không nhận can thiệp giấc ngủ (phân tích thăm dò) | 5 tuổi: BMI z −0,23; RR béo phì 0,49; giữ lại 69%; phân tích chính lúc 2 tuổi không có ý nghĩa |
Thực nghiệm thiếu ngủ và ăn buổi tối ở trẻ tiểu học#
Bằng chứng nhân quả trực tiếp nhất về giấc ngủ và ăn uống ở trẻ đến từ một thực nghiệm chéo ngẫu nhiên ở Mỹ (Hart và cs., 2022). Có 39 trẻ 8–11 tuổi đăng ký và 37 trẻ hoàn thành (tuổi trung bình 9,6). Sau một tuần ngủ thường lệ, mỗi trẻ có một tuần tăng và một tuần giảm thời gian nằm giường 1,5 giờ/đêm, thứ tự ngẫu nhiên. Giờ đi ngủ được đổi, giờ dậy giữ nguyên, và trẻ không ngủ trưa.
Giấc ngủ được đo bằng actigraphy, tức thiết bị đeo ghi vận động để ước tính thức và ngủ, kèm nhật ký. Ăn uống được đo bằng ba lần hỏi khẩu phần 24 giờ mỗi tuần. Chênh giấc ngủ giữa hai tuần là 141 phút/đêm (KTC 95% 133–148), tức khoảng 2 giờ 21 phút. Trong tuần ngủ ít, trẻ ăn nhiều hơn khoảng 134 kcal/ngày (p = 0,038) và nặng hơn khoảng 0,22 kg sau một tuần.
Đây là kết quả chính của bài gốc năm 2013 của cùng nhóm, được bài 2022 thuật lại; chúng tôi chưa mở được bài gốc. Phân tích thứ cấp năm 2022 cho thấy phần ăn thêm tập trung vào buổi tối. Khi ngủ ít do lùi giờ đi ngủ, trẻ ăn thêm khoảng 132 kcal sau 20 giờ (p < 0,001). Tỉ lệ trẻ có ăn sau 20 giờ tăng từ 11,1% lên 75,0%, và đồ uống có đường tăng từ 94 lên 129 kcal/ngày (p = 0,033). Tổng đồ ăn vặt giàu năng lượng cả ngày không có khác biệt có ý nghĩa (p = 0,485).
Cơ chế khả dĩ đơn giản là thức lâu hơn thì có thêm cơ hội ăn. Mẫu nhỏ, mỗi điều kiện chỉ một tuần, và ăn uống do trẻ, cha mẹ tự báo cáo qua hỏi khẩu phần. Bài 2022 do Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ tài trợ. Thực nghiệm không cho biết hiệu ứng có kéo dài qua nhiều tháng hay không SL.
Nhận thức, học tập và hành vi ở trẻ đi học#
Phân tích gộp Astill 2012#
Phân tích gộp "một thế kỷ nghiên cứu" gồm 86 nghiên cứu với 35.936 trẻ khoẻ mạnh 5–12 tuổi (Astill và cs., 2012). Thời lượng ngủ được đo theo nhiều cách: tự báo cáo, cha mẹ báo cáo và đo khách quan. Ngủ dài hơn đi kèm kết quả nhận thức chung tốt hơn ở mức r = 0,08 (KTC 95% 0,06–0,10). Hệ số là 0,07 (0,02–0,13) với chức năng điều hành, 0,10 (0,05–0,16) với nhiệm vụ đa lĩnh vực và 0,09 (0,06–0,12) với kết quả học tập. Không thấy liên quan có ý nghĩa với trí thông minh, chú ý duy trì và trí nhớ.
Với hành vi, ngủ ngắn hơn đi kèm nhiều vấn đề hành vi hơn, r = 0,09 (0,07–0,11). Hệ số là 0,09 (0,06–0,12) với vấn đề hướng nội như lo âu, buồn, và 0,08 (0,06–0,11) với vấn đề hướng ngoại như quấy phá. Phần lớn nghiên cứu là quan sát, vì vậy chiều ngược, trẻ có vấn đề hành vi thì khó ngủ, là khả dĩ. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.
Theo nhận xét của nhóm biên tập, r khoảng 0,08 tương ứng chưa đến 1% phương sai được giải thích SL. Sai số đo của thời lượng ngủ tự báo cáo làm tương quan quan sát được nhỏ hơn tương quan thật, và một hiệu ứng nhỏ ở từng trẻ vẫn có thể có ý nghĩa ở cấp quần thể SL. Con số này không ủng hộ quan niệm thời lượng ngủ quyết định thành tích học tập SL. Tác giả giải thích khác biệt với người lớn bằng vấn đề phương pháp và não chưa trưởng thành.
Thử nghiệm rút ngắn và kéo dài giấc ngủ#
Một thử nghiệm ngẫu nhiên song song ở Montréal (Canada) phân 34 trẻ phát triển điển hình 7–11 tuổi vào nhóm kéo dài hoặc rút ngắn giấc ngủ. Mức thay đổi là 1 giờ so với giờ ngủ thường lệ, trong 5 đêm ngày thường liên tiếp (Gruber và cs., 2012). Có 33 trẻ được phân tích: 17 ở nhóm kéo dài, 16 ở nhóm rút ngắn. Thử nghiệm không gồm trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý (attention-deficit/hyperactivity disorder, ADHD).
Theo actigraphy tại nhà, giấc ngủ nhóm rút ngắn giảm từ 556,71 xuống 502,35 phút, tức khoảng 54 phút mỗi đêm. Nhóm kéo dài tăng từ 558,46 lên 585,82 phút, tức khoảng 27 phút. Kết cục là thang Conners' Global Index cho giáo viên (CGI-T), do giáo viên chấm mà không biết trẻ ở nhóm nào.
Ở nhóm rút ngắn, điểm T dễ xúc động tăng từ 47,93 lên 51,5 và bồn chồn–bốc đồng từ 51,94 lên 55,06, tức xấu đi. Ở nhóm kéo dài, hai điểm giảm từ 50,33 xuống 47,33 và từ 49,94 xuống 47,05. Mẫu nhỏ và can thiệp chỉ 5 đêm. Các con số trên là thay đổi trước–sau trong từng nhóm; khoảng tin cậy của chênh lệch giữa hai nhóm không có trong phần chúng tôi đọc, và các điểm vẫn nằm trong khoảng thường gặp của thang SL. Bài ghi mức rút ngắn 54,04 phút ở tóm tắt và 54,4 phút ở phần kết quả. Thử nghiệm do quỹ công của Canada tài trợ.
Đặt cạnh Astill 2012, thử nghiệm Gruber gợi ý một điều: khi giấc ngủ bị rút ngắn khoảng 54 phút mỗi đêm trong 5 đêm, giáo viên không biết nhóm có thể nhận ra thay đổi hành vi. Gợi ý này không mâu thuẫn với tương quan nhỏ giữa các trẻ trong nghiên cứu quan sát SL. Thử nghiệm có hai nhóm song song 16 và 17 trẻ; các con số là thay đổi trước–sau trong từng nhóm, chưa có khoảng tin cậy của chênh lệch giữa hai nhóm SL.
Nhũ nhi: giấc ngủ và phát triển#
Tổng quan hệ thống Butler 2024 gồm 22 nghiên cứu ở trẻ đủ tháng khoẻ mạnh 0–18 tháng tuổi, chọn từ 7.136 tóm tắt (Butler và cs., 2024). Có 6 nghiên cứu đo giấc ngủ khách quan, 11 chủ quan và 5 dùng cả hai. Trong 101 liên quan được trích giữa giấc ngủ và phát triển nhận thức, vận động, 53,5% không có ý nghĩa, 39,6% hỗn hợp và chỉ 5,9% có ý nghĩa nhất quán.
Riêng thời lượng, 8/10 nghiên cứu về thời lượng ngủ đêm và 7/8 nghiên cứu về tổng thời lượng ngủ không thấy liên quan với phát triển. Nhưng 95% nghiên cứu không biện minh cỡ mẫu. Công suất thống kê hậu kiểm ước 0,063–0,876 ở 19/22 nghiên cứu, và chỉ một nghiên cứu đạt 0,80 để phát hiện hiệu ứng nhỏ. Kết luận "không liên quan" vì vậy một phần do nghiên cứu thiếu công suất, không chứng minh là không có liên quan. Công suất hậu kiểm là phép tính của tổng quan và chỉ phản ánh lại giá trị p; khoảng tin cậy của từng nghiên cứu mới cho biết có loại trừ được hiệu ứng nhỏ hay không SL.
Tổng quan Chaput 2017 cho kết quả tương tự với nhận thức ở trẻ dưới 5 tuổi: chỉ 6/16 nghiên cứu thấy liên quan, 8 không liên quan, 2 theo chiều ngược. Chúng tôi không đọc được mục tài trợ của cả hai tổng quan.
Một ngoại lệ đến từ Nhật Bản, ở 207 cặp mẹ–con (Tomisaki và cs., 2018). Năng lực xã hội được người quan sát đã huấn luyện chấm qua video quay trong phòng thí nghiệm, lúc 18, 30 và 42 tháng tuổi. Vào giấc sớm hơn kèm ngủ đêm dài hơn lúc 18 tháng đi kèm khả năng thuộc nhóm quỹ đạo năng lực xã hội cao hơn (hệ số 2,15; p = 0,03). Tương quan giữa ngủ đêm lúc 18 tháng và năng lực xã hội lúc 42 tháng là r = 0,18. Giấc ngủ chỉ đo một lần, và mô hình không hiệu chỉnh yếu tố kinh tế–xã hội.
Đọc cùng nhau, bằng chứng hiện có không ủng hộ niềm tin "ngủ nhiều giúp bé thông minh", nhưng cũng chưa đủ công suất để loại trừ một hiệu ứng nhỏ SL.
Số liệu Việt Nam: cân nặng, học tập và giấc ngủ#
Ngủ dưới 8 giờ và béo phì ở học sinh#
Ở Hà Nội, một nghiên cứu bệnh–chứng lồng trong khảo sát dựa dân số (2015–2017) chọn trẻ 6–11 tuổi từ 31 trường tiểu học thuộc 5 quận nội thành và 3 huyện ngoại thành (Le Thi Tuyet và cs., 2024). Mẫu phân tích gồm 559 trẻ (278 béo phì, 281 cân nặng bình thường) trong 687 trẻ được tuyển. Béo phì theo ngưỡng của Lực lượng Đặc nhiệm Béo phì Quốc tế (International Obesity Task Force, IOTF) 2000.
Ngủ đêm dưới 8 giờ theo cha mẹ báo cáo gặp ở 23,6% (65) trẻ béo phì, so với 10,6% (29) trẻ cân nặng bình thường. OR thô là 2,6 và OR hiệu chỉnh tuổi, giới là 2,7 (p < 0,001); bài không nêu KTC 95%. Câu trích của tác giả diễn giải OR thành "2,7 lần", nhưng đây là tỉ số chênh. Mô hình chỉ hiệu chỉnh tuổi và giới, không gồm thu nhập, màn hình hay vận động. Nghiên cứu do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tài trợ.
Ngưỡng dưới 8 giờ nằm dưới mức thấp nhất của khuyến nghị 9–12 giờ cho trẻ 6–12 tuổi. Nhóm "dưới 8 giờ" vì vậy là trẻ ngủ rất ít, và nghiên cứu không cho biết trẻ ngủ 8–9 giờ khác trẻ ngủ đủ khuyến nghị thế nào.
Ở 821 học sinh lớp 6 (11–12 tuổi) của 4 trường trung học cơ sở (THCS) công lập thuộc 2 quận nội thành Hà Nội (1/2014), mẫu phân tầng, nhóm ngủ dưới 8 giờ/ngày là nhóm tham chiếu (Pham và cs., 2019). Ngủ 8–11 giờ đi kèm OR thừa cân, béo phì hiệu chỉnh 0,57 (KTC 95% 0,40–0,81). Ngủ trên 11 giờ đi kèm 0,44 (0,22–0,87). Mô hình hiệu chỉnh giới; các biến khác cho kết quả này không được nêu rõ.
Bài không báo phân bố thời lượng ngủ và không mô tả câu hỏi giấc ngủ. Béo phì có thể làm ngủ kém, chẳng hạn qua ngưng thở khi ngủ, vì vậy không suy ra nhân quả từ thiết kế cắt ngang này. Nghiên cứu do các cơ quan nghiên cứu y học Nhật Bản tài trợ; nhà tài trợ không tham gia thiết kế, phân tích.
Ở Tiền Giang, một nghiên cứu bệnh–chứng ghép cặp 1:1 theo giới, tuổi và trường gồm 1.440 học sinh lớp 6–9 (720 ca béo phì, 720 chứng) tại TP. Mỹ Tho, huyện Cai Lậy và huyện Chợ Gạo (2023–2025) (Nguyễn Thành Nam và cs., 2025). Các em được chọn từ 6.009 học sinh của một khảo sát cắt ngang trước đó. Thời lượng ngủ được hỏi qua phỏng vấn học sinh bằng bảng hỏi bán cấu trúc, không nêu câu hỏi và không kiểm định.
Có 243/720 ca béo phì và 91/720 chứng ngủ dưới 8 giờ/đêm; tính từ số đếm ở Bảng 3, tỉ lệ là 33,8% so với 12,6% SL. OR thô là 3,52 (KTC 95% 2,67–4,66) và OR hiệu chỉnh 2,17 (1,62–2,93). Mô hình cuối chỉ gồm bữa sáng, ăn ngoài, ăn nhanh và ngủ, không hiệu chỉnh thu nhập gia đình hay màn hình.
Bài ghi "72,7% so với 27,3%"; đó là tỉ trọng trong 334 em ngủ ngắn (243/334 và 91/334), không phải tỉ lệ trong từng nhóm. Thiết kế bệnh–chứng không xác định được chiều thời gian. Bài không nêu tài trợ.
Khảo sát 43.505 trẻ ở 7 vùng và xung đột lợi ích#
Một khảo sát cắt ngang 43.505 trẻ 6–17 tuổi ở 7 vùng kinh tế–xã hội (1/2024–6/2025) chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhiều giai đoạn (Nguyen và cs., 2025). Có 53,2% trẻ được cha mẹ báo cáo là "đi ngủ sớm". Đi ngủ sớm đi kèm OR thừa cân, béo phì thấp hơn, 0,91 (KTC 95% 0,87–0,95), nhưng OR thấp còi cao hơn, 1,22 (1,10–1,35), theo Bảng 3; số này không có trong tóm tắt và phần chữ kết quả. Trong mẫu, 20,7% thừa cân, 11,4% béo phì và 3,9% thấp còi.
Biến "đi ngủ sớm" không được định nghĩa: bài không nêu mốc giờ hay câu hỏi, và không đo thời lượng ngủ. Tác giả tự gọi mẫu là đại diện toàn quốc nhưng không nêu số tỉnh, và tỉ lệ thừa cân, béo phì trên 30% cao so với điều tra dinh dưỡng quốc gia.
Dữ liệu lấy từ chương trình đánh giá MIDU (MIDU Assessment Program). Hai tác giả là nhân viên Công ty Cổ phần Midu MenaQ7, công ty có sản phẩm vitamin K2, và mô hình có biến "dùng vitamin K2 hằng ngày". Bài ghi không có tài trợ bên ngoài.
Giấc ngủ và kết quả học tập ở học sinh trung học phổ thông#
Một nghiên cứu cắt ngang ở 4 trường trung học phổ thông (THPT), 2 ở Hà Nội và 2 ở Hưng Yên, phân tích 541 học sinh lớp 10–11. Chất lượng giấc ngủ theo bản tiếng Việt của Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) được đặt cạnh điểm trung bình học tập tự báo cáo (Le và cs., 2026).
Chất lượng giấc ngủ kém hơn đi kèm điểm học tập thấp hơn, nhưng mức liên quan yếu: tương quan chính tắc thứ nhất là 0,20 (p hoán vị = 0,0108). Khi đưa động lực học tập và mức mệt mỏi vào mô hình, tương quan giảm khoảng 25% và không còn ý nghĩa thống kê.
Mệt mỏi có thể nằm trên đường trung gian giữa ngủ kém và học kém, vì vậy hiệu chỉnh mệt mỏi có thể che bớt liên quan thật SL. Điểm học tập tự báo cáo, không lấy từ sổ điểm. Bài không báo tỉ lệ PSQI > 5 hay số giờ ngủ. Nghiên cứu do Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tài trợ. Liên quan yếu này cùng chiều với Astill 2012, nhưng tương quan chính tắc với chất lượng giấc ngủ không so trực tiếp được với r của thời lượng ngủ SL.
Giấc ngủ sau COVID-19 ở trẻ Nghệ An#
Ở 168 trẻ 2–10 tuổi tại Nghệ An, người chăm sóc (97% là mẹ) được phỏng vấn 2–4 tuần sau khi trẻ dương tính COVID-19 (Trần Văn Phú và Nguyễn Thị Thanh Mai, 2023). Thang đo là Bảng hỏi thói quen ngủ của trẻ (Children's Sleep Habits Questionnaire, CSHQ) cho trẻ 6–10 tuổi (ngưỡng ≥ 41) và bản rút gọn cho trẻ 2–5 tuổi (ngưỡng ≥ 30). Có 51,8% (87/168) trẻ được xếp có rối loạn giấc ngủ.
Tỉ lệ là 55,7% ở trẻ 2–5 tuổi và 47,5% ở trẻ 6–10 tuổi, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,289). Trẻ nằm viện có tỉ lệ cao hơn trẻ được chăm sóc tại nhà (61,9% so với 45,7%; p = 0,04). Mẫu thuận tiện từ 2 cơ sở.
Không có số liệu trước COVID-19 của cùng trẻ và không có nhóm chứng, vì vậy không biết phần nào do COVID-19. Bài còn ghi thời gian thu thập mâu thuẫn (2–5/2022 ở phần phương pháp; 3–5/2021 ở phần bàn luận).
| Nghiên cứu | Nơi, thiết kế | Mẫu, tuổi | Đo giấc ngủ | Kết quả chính |
|---|---|---|---|---|
| Le Thi Tuyet 2024 | 31 trường tiểu học Hà Nội; bệnh–chứng lồng | 559 trẻ 6–11 tuổi | Cha mẹ báo cáo, ngưỡng < 8 giờ | 23,6% so với 10,6%; OR hiệu chỉnh tuổi, giới 2,7 |
| Pham 2019 | 4 trường THCS, 2 quận Hà Nội; cắt ngang | 821 học sinh lớp 6 | Bảng hỏi tự điền | 8–11 giờ: OR 0,57; trên 11 giờ: OR 0,44 (tham chiếu < 8 giờ) |
| Nguyễn Thành Nam 2025 | 3 địa bàn Tiền Giang; bệnh–chứng ghép cặp | 1.440 học sinh lớp 6–9 | Phỏng vấn học sinh, ngưỡng < 8 giờ | OR hiệu chỉnh 2,17 (1,62–2,93) |
| Nguyen 2025 | 7 vùng; cắt ngang; tác giả là nhân viên công ty vitamin K2 | 43.505 trẻ 6–17 tuổi | Cha mẹ báo cáo "đi ngủ sớm", không định nghĩa | Thừa cân/béo phì OR 0,91; thấp còi OR 1,22 |
| Le 2026 | 4 trường THPT, Hà Nội và Hưng Yên; cắt ngang | 541 học sinh lớp 10–11 | PSQI tự báo cáo | Tương quan chính tắc 0,20; mất ý nghĩa khi hiệu chỉnh |
| Trần Văn Phú 2023 | 2 cơ sở Nghệ An; cắt ngang, không nhóm chứng | 168 trẻ 2–10 tuổi sau COVID-19 | CSHQ, người chăm sóc trả lời | 51,8% vượt ngưỡng |
Ngoài khảo sát 43.505 trẻ có xung đột lợi ích, chỉ nghiên cứu ở 31 trường tiểu học Hà Nội có chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn trên 8 quận, huyện; các nghiên cứu còn lại ở một hoặc vài trường, địa bàn. Không nghiên cứu nào đo thời lượng ngủ bằng thiết bị, và giấc ngủ thường chỉ là một biến phụ trong nghiên cứu béo phì. Ba nghiên cứu béo phì cùng chiều với số liệu quốc tế, nhưng không đủ để ước độ lớn hiệu ứng ở trẻ Việt Nam SL.
Độ chắc chắn của các kết luận chính#
Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.
| Câu hỏi | Mức chắc chắn |
|---|---|
| Trẻ ngủ ngắn có đi kèm thừa cân, béo phì về sau? | Rất thấp |
| Ở trẻ tiểu học, rút ngắn giấc ngủ trong thực nghiệm có làm trẻ ăn nhiều hơn? | Thấp |
| Ở trẻ 5–12 tuổi khoẻ mạnh, ngủ dài hơn có đi kèm nhận thức và kết quả học tập tốt hơn? | Rất thấp |
| Ở trẻ 7–11 tuổi, rút ngắn giấc ngủ vài đêm có làm giáo viên chấm hành vi xấu đi? | Thấp |
Điều chưa biết#
- Bài gốc của các thử nghiệm. Chúng tôi chưa đọc được bài gốc POI (2017) và bài gốc Hart 2013 về thiếu ngủ và ăn uống; các số liệu đến từ bài thứ cấp của cùng nhóm.
- Tài trợ. Mục tài trợ, xung đột lợi ích chưa đọc được ở Butler 2024 và Chaput 2017.
- Học sinh tiểu học Việt Nam. Chưa có nghiên cứu cộng đồng Việt Nam nào đo thời lượng ngủ của học sinh tiểu học khoẻ mạnh bằng actigraphy hay dùng CSHQ. Số liệu hiện có chủ yếu là biến phụ trong nghiên cứu béo phì, với ngưỡng < 8 giờ.
- Giấc ngủ và học tập ở châu Á. Chúng tôi chưa thu được nghiên cứu về giấc ngủ và kết quả học tập ở học sinh tiểu học châu Á ngoài thuần tập đã có ở Tập 12.
- Can thiệp ở Việt Nam. Chưa có thử nghiệm can thiệp nào ở Việt Nam thay đổi giấc ngủ của trẻ rồi đo cân nặng, học tập hay hành vi.
- Mẫu đa cơ sở. Phần lớn nguồn Việt Nam là nghiên cứu một hoặc vài trường, bệnh viện; nguồn đa cơ sở có chọn mẫu xác suất còn ít.
Viết tắt trong trang
- BMI
- chỉ số khối cơ thể (body mass index)
- GRADE
- khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- RR
- tỉ số nguy cơ, còn gọi là nguy cơ tương đối (risk ratio, relative risk)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Ngủ ít với cân nặng, học tập và hành vi: hiệu ứng lớn đến đâu. Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/thoi-luong-ngu-can-nang-hoc-tap-hanh-vi/