Chương này hỏi vì sao vị thành niên ngủ muộn hơn trẻ nhỏ, thực tế các em ngủ bao nhiêu, và ngủ bù cuối tuần bù được tới đâu. Bằng chứng nhất quán nhất là đồng hồ sinh học lùi muộn trong tuổi dậy thì, đo được bằng melatonin trong nước bọt, trong khi giờ dậy ngày đi học bị lịch học giữ cố định. Ở Hoa Kỳ, khoảng bảy phần mười học sinh trung học phổ thông tự báo cáo ngủ dưới 8 giờ trong đêm trước ngày đi học. Trong thực nghiệm ở Singapore, nhóm có 7 đêm chỉ 5 giờ trên giường giảm dần chú ý và trí nhớ làm việc so với nhóm chứng 9 giờ. Sau hai đêm ngủ bù, buồn ngủ chủ quan và chú ý duy trì chưa về mức nền. Hai nhóm được phân ngẫu nhiên, nhưng mẫu nhỏ, không làm mù được, và độ chắc chắn là thấp SL. Ở Việt Nam, dữ liệu chủ yếu là bảng hỏi chất lượng giấc ngủ ở từng trường, với tỉ lệ ngủ kém dao động rất rộng.
Trung học cơ sở (THCS) là lớp 6–9 và trung học phổ thông (THPT) là lớp 10–12; với nghiên cứu nước ngoài, chúng tôi ghi lớp hoặc tuổi như bài gốc. Mỗi con số được ghi rõ nguồn đo: tự báo cáo, actigraphy (thiết bị đeo cổ tay ghi cử động để ước tính ngủ và thức) hay đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG).
Đồng hồ sinh học lùi muộn trong tuổi dậy thì#
Melatonin dưới ánh sáng mờ#
Pha của đồng hồ sinh học thường được đo bằng thời điểm khởi phát tiết melatonin dưới ánh sáng mờ (dim light melatonin onset, DLMO). Đó là lúc melatonin trong nước bọt bắt đầu tăng khi người tham gia ngồi trong phòng ánh sáng yếu.
Một thuần tập ở đông bắc Hoa Kỳ theo dõi 94 em trong 2,5 năm, đánh giá khoảng mỗi 6 tháng (Crowley và cs., 2014). Nhóm nhỏ gồm 38 em 9–10 tuổi lúc bắt đầu, nhóm lớn gồm 56 em 15–16 tuổi. DLMO được đo bằng nước bọt mỗi 30 phút dưới 40 lux. Giấc ngủ được đo bằng actigraphy và nhật ký ít nhất 1 tuần trước mỗi lần đo, có gọi điện kiểm 2 lần mỗi ngày.
DLMO trung bình dịch từ 20:42 lúc 9 tuổi sang 21:27 lúc 13 tuổi. Giờ vào giấc ngày thường dịch từ 21:28 sang 22:30. Mức dịch không đều theo tuổi: lớn nhất, khoảng 1 giờ, ở giai đoạn 11–13 tuổi của nhóm nhỏ và 17–19 tuổi của nhóm lớn. Ở nhóm lớn, khoảng cách giữa DLMO và giờ ngủ rộng hơn, gần 2 giờ.
Cùng thuần tập cho thấy giờ dậy cuối tuần của nhóm nhỏ muộn dần khoảng 40 phút qua 2,5 năm. Giờ dậy ngày đi học thì bị giữ cố định hoặc sớm hơn. Như vậy khoảng cách giữa đồng hồ sinh học và lịch học nới rộng dần theo tuổi. Mẫu nhỏ, một vùng, đo trong năm học; tài trợ từ Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH).
Hai cơ chế và dấu mốc cuối tuổi vị thành niên#
Báo cáo kỹ thuật năm 2014 của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) tổng kết hai cơ chế sinh học (Owens, 2014). Thứ nhất, điểm giữa giấc ngủ cuối tuần dịch muộn tuyến tính khoảng 2 giờ ở nữ và 3 giờ ở nam trong khoảng 10–20 tuổi. Thứ hai, vị thành niên trưởng thành hơn tích luỹ áp lực ngủ chậm hơn, tức là ít buồn ngủ hơn vào buổi tối. Con số 2–3 giờ dẫn lại từ dữ liệu kiểu thời gian sinh học trên dân số.
Một khảo sát dân số ở Đức và Thuỵ Sĩ dùng bảng hỏi kiểu thời gian sinh học Munich (Munich ChronoType Questionnaire, MCTQ) (Roenneberg và cs., 2004). Xu hướng ngủ muộn tăng suốt tuổi vị thành niên rồi đổi chiều đột ngột quanh 20 tuổi. Mốc này muộn hơn tuổi kết thúc dậy thì, khoảng 16 tuổi ở nữ và 17,5 tuổi ở nam. Nhóm tác giả đề xuất đây là dấu ấn sinh học đầu tiên của sự kết thúc tuổi vị thành niên. Dữ liệu là cắt ngang, so các nhóm tuổi khác nhau chứ không theo dõi cùng một người, và chúng tôi chỉ đọc phần tóm tắt.
Giới, giai đoạn dậy thì và độ nhạy với ánh sáng#
Trong thuần tập Crowley, quỹ đạo phát triển của DLMO và giờ ngủ–dậy giống nhau ở hai giới, trừ giờ vào giấc ngày thường (Crowley và cs., 2014). Ở nhóm nhỏ, giai đoạn dậy thì theo thang Tanner từ 3 trở lên đi kèm giờ vào giấc ngày thường muộn hơn khoảng 12 phút. Với 94 em, khả năng phát hiện khác biệt giới là hạn chế.
Trong một thực nghiệm khác, 1 giờ ánh sáng khoảng 150 lux từ 23:00 ức chế melatonin nước bọt 26,0% ở trẻ tiền dậy thì đến giữa dậy thì. Ở vị thành niên cuối dậy thì đến sau dậy thì, mức này là 12,5% (Crowley và cs., 2015). Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt; đây là cơ chế giả định, không phải số đo trực tiếp về màn hình. Phần màn hình được bàn ở chương Màn hình, ánh sáng buổi tối và giấc ngủ của trẻ.
Vị thành niên ngủ bao nhiêu#
Khuyến nghị và nhu cầu đo trong phòng thí nghiệm#
Tuyên bố đồng thuận năm 2016 của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM) khuyến nghị vị thành niên 13–18 tuổi ngủ đều đặn 8–10 giờ mỗi 24 giờ (Paruthi và cs., 2016b). Khuyến nghị dựa trên đồng thuận của 13 chuyên gia theo phương pháp RAND cải biên, sau khi rà soát 864 bài báo; đây không phải ngưỡng đo trực tiếp. Cách các khuyến nghị theo tuổi được xây dựng được bàn ở chương Trẻ cần ngủ bao nhiêu.
Một thực nghiệm 10 ngày 9 đêm ở Úc thử ước tính nhu cầu ngủ của 34 vị thành niên 15–17 tuổi (Short và cs., 2018). Sau 2 đêm nền 10 giờ trên giường, các em được phân vào 5 đêm 5 giờ, 7,5 giờ hoặc 10 giờ trên giường. Mô hình liều–đáp ứng cho nhu cầu khoảng 9 giờ; để giữ chú ý duy trì tối ưu trên nhiệm vụ cảnh giác tâm vận, con số là 9,35 giờ. Mẫu nhỏ, điều kiện phòng thí nghiệm, và chúng tôi chỉ đọc tóm tắt. Con số nằm ở nửa trên của khoảng 8–10 giờ.
Thời lượng thực tế theo tự báo cáo#
Hầu hết số liệu quy mô lớn về thời lượng ngủ là học sinh tự báo cáo.
| Nguồn | Nơi, năm | Lớp hoặc tuổi | Ai báo cáo, đo gì | Kết quả |
|---|---|---|---|---|
| Wheaton và cs., 2018 | Hoa Kỳ, Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh thiếu niên (YRBS) 2015, mẫu quốc gia | Lớp 9–12, n = 14.471 | Học sinh tự báo cáo, đêm trước ngày đi học | 72,7% ngủ dưới 8 giờ |
| Wheaton và cs., 2018 | Hoa Kỳ, 9 bang, 2015 | Lớp 6–8, n = 52.356 | Học sinh tự báo cáo | 57,8% ngủ ít hơn mức khuyến nghị theo tuổi |
| Weaver và cs., 2018 | Hoa Kỳ, YRBS gộp 2007–2015 | THPT, 67.615 phiếu | Học sinh tự báo cáo, 4 mức | 30,4% ngủ từ 8 giờ; 17,6% dưới 6 giờ |
| Owens, 2014 (AAP) | Hoa Kỳ, dẫn lại thăm dò của Quỹ Giấc ngủ Quốc gia Mỹ (NSF) | Lớp 12 | Tự báo cáo | 75% dưới 8 giờ; 3% từ 9 giờ |
| Olds và cs., 2010 | Phân tích gộp 30 nghiên cứu | 9–18 tuổi | Thời gian trên giường, chủ yếu tự báo cáo | Giảm 14 phút mỗi năm tuổi vào ngày học |
| Tran Danh Tien Thinh và cs., 2025 | Đà Nẵng, một trường, 2024 | 15–17 tuổi, n = 737 | Tự báo cáo | Trung bình 6,40 giờ mỗi ngày |
Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh thiếu niên Hoa Kỳ (Youth Risk Behavior Survey, YRBS) năm 2015 hỏi: "trong một đêm đi học bình thường, em ngủ bao nhiêu giờ?" (Wheaton và cs., 2018). Có 72,7% (khoảng tin cậy, KTC 95% 70,4–74,9) học sinh lớp 9–12 trả lời dưới 8 giờ. Theo bang, tỉ lệ đi từ 61,8% (South Dakota) đến 82,5% (West Virginia). Ở lớp 9 là 65,6%, ở lớp 10–12 là 71,7–77,6%.
Ở mẫu gộp 52.356 học sinh lớp 6–8 của 9 bang, 57,8% (KTC 95% 56,7–58,9) ngủ ít hơn mức khuyến nghị theo tuổi. Ngưỡng là dưới 9 giờ với trẻ 6–12 tuổi và dưới 8 giờ với 13–18 tuổi. Mẫu 9 bang này không đại diện toàn quốc.
Gộp YRBS 2007–2015, chỉ 30,4% học sinh THPT ngủ từ 8 giờ trở lên trong đêm trước ngày đi học, 22,0% ngủ 6 giờ và 17,6% ngủ dưới 6 giờ (Weaver và cs., 2018). Báo cáo kỹ thuật AAP dẫn lại thăm dò của Quỹ Giấc ngủ Quốc gia Mỹ (National Sleep Foundation, NSF): đến lớp 12, 75% ngủ dưới 8 giờ và 3% ngủ từ 9 giờ trở lên (Owens, 2014). Số thứ cấp này khớp hướng với YRBS.
Tại trường THPT Hoà Vang (Đà Nẵng, 4–10/2024), 737 học sinh 15–17 tuổi tự báo cáo ngủ trung bình 6,40 ± 1,10 giờ mỗi ngày (Tran Danh Tien Thinh và cs., 2025). Có 31,2% (230/737) đi ngủ sau nửa đêm. Đây là một trường và một câu hỏi tự báo cáo, không đại diện học sinh Đà Nẵng hay cả nước. Trung bình này thấp hơn cận dưới 8 giờ của khuyến nghị AASM SL.
Khác biệt giới: hai nguồn ngược chiều#
YRBS 2015 cho thấy tỉ lệ ngủ ngắn ở nữ sinh cao hơn nam sinh ở cả hai cấp (Wheaton và cs., 2018). Ở lớp 6–8, tỉ lệ là 59,6% ở nữ so với 56,0% ở nam; ở lớp 9–12 là 75,6% so với 69,9%.
Phân tích gộp của Olds và cộng sự thấy chiều ngược lại (Olds và cs., 2010). Nữ ngủ nhiều hơn nam khoảng 11 phút mỗi đêm ngày đi học và 29 phút ngày nghỉ (cả hai p = 0,003).
Lý do khả dĩ của hai kết quả trái chiều nằm ở cách đo. YRBS đếm tỉ lệ dưới một ngưỡng, còn Olds tính trung bình số phút. YRBS hỏi thời gian ngủ, còn Olds gộp thời gian trên giường, vốn dài hơn thời gian ngủ thực. Dữ liệu của Olds trải 30 năm trước 2010 và nhiều nước, còn YRBS là Hoa Kỳ năm 2015. Ở Đà Nẵng, thời lượng tự báo cáo của nam là 6,48 giờ và của nữ là 6,35 giờ, chênh lệch không có ý nghĩa thống kê (p = 0,106) (Tran Danh Tien Thinh và cs., 2025). Tỉ lệ đi ngủ sau nửa đêm gần như bằng nhau, 31,3% ở nam và 31,2% ở nữ.
Khác biệt địa lý và xu hướng theo thời gian#
Phân tích gộp Olds dùng 30 nghiên cứu ở trẻ khoẻ 9–18 tuổi, trải 30 năm (Olds và cs., 2010). Tác giả tạo 92.977 điểm dữ liệu mô phỏng từ thống kê tóm tắt bằng phương pháp Monte Carlo. Tóm tắt ghi 20 nước, còn tiêu đề ghi 23 nước. Thời gian trên giường ngày đi học giảm khoảng 14 phút cho mỗi năm tuổi, ngày nghỉ giảm khoảng 7 phút; khoảng cách giữa hai loại ngày vì vậy nới rộng theo tuổi.
Cùng phân tích gộp cho thấy vị thành niên ở các nước châu Á có thời gian trên giường ít hơn khoảng 40–60 phút mỗi đêm so với vị thành niên Mỹ, và 60–120 phút so với châu Âu. Vì dữ liệu mô phỏng từ số tóm tắt và phương pháp đo khác nhau giữa các nước, độ chính xác hạn chế, và chúng tôi chỉ đọc tóm tắt. Các yếu tố như giờ vào học sớm và học thêm, bàn ở chương Giờ vào học sớm, học thêm và buồn ngủ khi lái xe, là giả thuyết khả dĩ cho khoảng cách này, chưa được kiểm trong dữ liệu gộp SL.
Về xu hướng, khảo sát Monitoring the Future hỏi 272.077 vị thành niên Hoa Kỳ hằng năm từ 1991 đến 2012 (Keyes và cs., 2015). Tỉ lệ tự báo cáo thường ngủ ít nhất 7 giờ giảm dần trong 20 năm, giảm mạnh nhất giữa giai đoạn 1991–1995 và 1996–2000. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt, không có số phần trăm. Mức giảm bắt đầu từ cuối thập niên 1990, trước thời điện thoại thông minh, vì vậy không quy được toàn bộ cho điện thoại SL. Trong YRBS, tỉ lệ học sinh THPT ngủ dưới 8 giờ tăng từ 68,9% năm 2007 lên 71,9% năm 2015 (Weaver và cs., 2018).
Thiếu ngủ thực nghiệm và ngủ bù#
Thực nghiệm Need for Sleep ở Singapore#
Thực nghiệm Need for Sleep diễn ra tại một trường nội trú, với 56 vị thành niên khoẻ 15–19 tuổi (25 nam), học sinh một trường hàng đầu ở Singapore (Lo và cs., 2016). Sau 3 đêm nền 9 giờ trên giường, một nhóm có 7 đêm chỉ 5 giờ trên giường, nhóm chứng giữ 9 giờ, rồi cả hai có 3 đêm hồi phục 9 giờ. Giấc ngủ được đo bằng actigraphy và PSG; nhận thức được đo 3 lần mỗi ngày; không làm mù được.
Ở nhóm hạn chế ngủ, chú ý duy trì, trí nhớ làm việc và chức năng điều hành giảm dần qua 7 đêm. Buồn ngủ tăng và khí sắc tích cực giảm, trong khi nhóm 9 giờ giữ nguyên mức nền. Có nhóm chứng song song và điều kiện ngủ do nhà nghiên cứu đặt, vì vậy đây là bằng chứng thực nghiệm về tác động ngắn hạn. Hai nhóm được phân ngẫu nhiên, nhưng với 56 em, khác biệt ban đầu giữa hai nhóm vẫn có thể còn; số cụ thể nằm trong hình, chúng tôi chưa trích. Nghiên cứu do Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Quốc gia Singapore và Far East Organization tài trợ, không phải ngành liên quan giấc ngủ.
Sau 2 đêm hồi phục 9 giờ, buồn ngủ chủ quan và chú ý duy trì của nhóm từng hạn chế ngủ vẫn chưa về mức nền. Kết quả gợi ý hai đêm ngủ bù có thể chưa đủ bù một tuần thiếu ngủ nặng SL. Nhưng điều kiện 5 giờ mỗi đêm trong phòng thí nghiệm khắc nghiệt hơn thực tế của nhiều học sinh, và khác ngủ bù cuối tuần ở nhà SL. Mẫu là học sinh giỏi, có động lực cao, vì vậy khó khái quát.
Một thử nghiệm ngẫu nhiên bắt chéo tại nhà ở Cincinnati (Hoa Kỳ), với 50 vị thành niên 14–17 tuổi, đặt 5 đêm 6,5 giờ trên giường so với giai đoạn kéo dài thời gian trên giường (Baum và cs., 2014). Hai giai đoạn chênh khoảng 2,5 giờ ngủ mỗi đêm, đo bằng actigraphy và tự báo cáo. Khi ngủ ít, các em tự đánh giá căng thẳng, giận dữ, mệt mỏi cao hơn và cha mẹ ghi nhận cáu kỉnh hơn (p = 0,001–0,01). Điểm trầm cảm thì chênh lệch không có ý nghĩa thống kê. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt. Phần khí sắc được bàn ở chương Giấc ngủ, trầm cảm, lo âu và hành vi nguy cơ ở vị thành niên.
Ngủ bù cuối tuần và lệch giờ xã hội#
Lệch giờ xã hội (social jetlag) là chênh lệch điểm giữa giấc ngủ cuối tuần so với ngày học. Ngủ bù cuối tuần (weekend catch-up sleep) là phần tổng thời gian ngủ cuối tuần dài hơn ngày học. Hai chỉ số liên quan nhưng không trùng nhau.
Ở Emilia-Romagna (Ý), 504 học sinh THPT, tuổi trung bình 16,17, đeo actigraphy 7 ngày liên tiếp (Tonetti và cs., 2023). Mỗi em cần ít nhất 3 đêm đi học và 1 đêm cuối tuần hợp lệ. Có 33,9% học sinh lệch giờ xã hội từ 120 phút trở lên, 38,3% từ 60–119 phút, và chỉ 27,8% dưới 60 phút. Đây là số đo khách quan, nhưng 7 ngày có thể chỉ gồm 1–2 đêm cuối tuần.
Trong cùng mẫu, ngủ bù cuối tuần từ 120 phút trở lên gặp ở 34,1% học sinh ngủ dưới 7 giờ, so với 13,1% ở học sinh ngủ từ 7 giờ trở lên. Ở nhóm dưới 7 giờ, điểm hạnh phúc chủ quan là 3,91 khi ngủ bù từ 120 phút, so với 4,31 khi ngủ bù 0–59 phút. Ở nhóm từ 7 giờ trở lên không thấy liên quan này. Tương quan giữa lệch giờ xã hội và hạnh phúc không có ý nghĩa thống kê ở nhóm nào. Tác giả không hiệu chỉnh yếu tố nhiễu, và thiết kế cắt ngang. Ngủ bù dài có thể là dấu hiệu nợ ngủ lớn hơn chứ không phải nguyên nhân của điểm hạnh phúc thấp.
Ở Bologna (Ý), học sinh 18–21 tuổi tự báo cáo ngủ 7,3 giờ ngày thường và 8,9 giờ cuối tuần (Pizza và cs., 2010). Ở Kentucky, ngủ bù cuối tuần giảm từ 1,9 xuống 1,1 giờ sau khi giờ vào học được lùi (Danner và Phillips, 2008).
Ghép các nguồn SL: ngày học ngắn hơn nhu cầu, cuối tuần dài hơn, và phần chênh lớn nhất ở những em ngủ ngày học ít nhất. Chưa có thử nghiệm nào trong dữ kiện của chúng tôi so trực tiếp ngủ bù cuối tuần với ngủ đều đặn.
Hội chứng ngủ muộn pha#
Hội chứng ngủ muộn pha (delayed sleep phase syndrome, DSPS) là khi giờ ngủ và giờ dậy muộn kéo dài, khó dời sớm hơn, gây khó vào giấc vào giờ mong muốn và khó dậy cho lịch học.
Nghiên cứu ung@hordaland (mùa xuân 2012) hỏi 9.338 vị thành niên 16–19 tuổi, tuổi trung bình 17,0, ở hạt Hordaland (Na Uy) (Sivertsen và cs., 2013). Hội chứng được xác định gần đúng từ câu hỏi tự báo cáo, theo tiêu chí của Phân loại quốc tế các rối loạn giấc ngủ bản sửa đổi (ICSD-R). Tiêu chí gồm giờ vào giấc và giờ dậy cuối tuần muộn ít nhất 1 giờ so với ngày thường, khó vào giấc thường xuyên, ít thức giữa đêm và hay ngủ quên. Có 3,3% (306 em) thoả tiêu chí, ở nữ là 3,7% và ở nam 2,7%. Hơn một nửa đồng thời thoả tiêu chí mất ngủ: 53,8% ở nam và 57,1% ở nữ.
Số ngày nghỉ học lấy từ sổ đăng ký của trường, không phải tự báo cáo. Sau hiệu chỉnh tuổi, học vấn cha mẹ, mất ngủ và trầm cảm, hội chứng ngủ muộn pha đi kèm tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio, aOR) nghỉ học 3,22 (KTC 95% 1,94–5,34) ở nam và 1,87 (1,25–2,80) ở nữ. Điểm trầm cảm theo bảng hỏi khí sắc và cảm xúc rút gọn (Short Mood and Feelings Questionnaire, SMFQ) là 8,8 ở nhóm có hội chứng so với 5,7 ở nhóm còn lại (p < 0,001).
Chẩn đoán qua bảng hỏi, không phỏng vấn lâm sàng hay đo DLMO, và tỉ lệ tham gia 53% có thể gây thiên lệch. Với thiết kế cắt ngang, không rõ hội chứng dẫn tới nghỉ học hay ngược lại. Vì hội chứng trùng nhiều với mất ngủ, con số 3,3% không tách được một rối loạn nhịp thuần tuý SL.
Caffeine, nước tăng lực và vận động viên trẻ#
Ai uống và uống gì#
Một tổng quan nhanh đưa vào 46 trong 410 nghiên cứu về nước tăng lực ở trẻ em và người trẻ (Visram và cs., 2016). Có 31 trong 42 nghiên cứu định lượng là cắt ngang. Tổng quan dẫn một khảo sát của Cơ quan An toàn Thực phẩm châu Âu (European Food Safety Authority, EFSA) ở 16 nước: nhóm 10–18 tuổi có tỉ lệ uống nước tăng lực cao nhất, 68%. Con số này là thứ cấp. Tổng quan ghi một số nghiên cứu được đưa vào do ngành nước ngọt tài trợ; bản thân tổng quan do một tổ chức từ thiện trẻ em tài trợ.
Theo Khảo sát Quốc gia về Sức khoẻ và Dinh dưỡng Hoa Kỳ (NHANES) 1999–2010, khoảng 73% trẻ em và vị thành niên dùng caffeine trong một ngày bất kỳ (Branum và cs., 2014). Lượng trung bình không đổi đáng kể, nhưng nguồn dịch chuyển. Phần caffeine từ nước ngọt có ga giảm từ 62% xuống 38%, từ cà phê tăng từ 10% lên gần 24%, và nước tăng lực từ 0 lên gần 6% vào 2009–2010. Nghiên cứu không đo giấc ngủ, dữ liệu dừng ở 2010, và chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Nước tăng lực và giờ ngủ ở học sinh 13 tuổi#
Năm 2011, toàn bộ học sinh lớp 7 Phần Lan (13 tuổi) được mời làm khảo sát tại lớp; 9.446 em được phân tích, tỉ lệ trả lời 73% (Koivusilta và cs., 2016). Có 2,4% uống nước tăng lực nhiều lần mỗi ngày và tổng cộng 5,2% uống hằng ngày. Có 44,6% có uống, 55,4% không uống.
So với học sinh không uống, học sinh uống nhiều lần mỗi ngày có aOR 7,9 (KTC 95% 5,7–10,9) cho đi ngủ từ 23:00 trở đi trong ngày đi học. Tóm tắt của bài ghi 7,8, bảng ghi 7,9. Với vấn đề giấc ngủ, aOR là 3,6 (2,2–5,8), và với mệt mỏi là 3,7 (2,4–5,7). Mô hình hiệu chỉnh giới, học vấn cha mẹ, cấu trúc gia đình, kết quả học tập và bệnh mạn tính.
Đây là tỉ số chênh cắt ngang, không đọc được như tỉ số nguy cơ SL; chiều ngược cũng khả dĩ, khi trẻ thức khuya và mệt mỏi uống nước tăng lực để tỉnh. Báo cáo kỹ thuật AAP dẫn nghiên cứu cho thấy học sinh THPT dùng caffeine mức vừa đến cao có khả năng khó ngủ và buồn ngủ buổi sáng cao hơn (Owens, 2014). Con số dẫn lại là gần 2, không nêu loại tỉ số. Báo cáo đồng thời cảnh báo xu hướng uống nước tăng lực pha rượu. Chúng tôi không nêu mức caffeine cụ thể.
Vận động viên trẻ#
Ở một trường liên cấp tại Hoa Kỳ, 112 vận động viên 12–18 tuổi tự báo cáo giờ ngủ, còn chấn thương lấy hồi cứu từ hồ sơ của trường (Milewski và cs., 2014). Ngủ trung bình dưới 8 giờ mỗi đêm đi kèm ước tính 1,7 (KTC 95% 1,0–3,0; p = 0,04) cho việc từng bị chấn thương, so với ngủ từ 8 giờ trở lên. Mỗi lớp học cao hơn đi kèm 1,4 (1,2–1,6). Tóm tắt, phần duy nhất chúng tôi đọc, không ghi rõ đây là tỉ số chênh hay tỉ số nguy cơ. Giấc ngủ hỏi tại một thời điểm, còn chấn thương là hồi cứu, vì vậy trình tự thời gian không rõ; chấn thương cũng có thể làm ngủ kém.
Ở 340 vận động viên tuổi teen của trường thể thao tinh hoa Thuỵ Điển, bảng hỏi được gửi qua email 2 lần trong một năm học (von Rosen và cs., 2017). Có 19% không ngủ đủ lượng khuyến nghị vào ngày thường. Ngủ hơn 8 giờ ngày thường đi kèm tỉ số chênh (odds ratio, OR) chấn thương mới 0,39 (KTC 95% 0,16–0,99). Khoảng tin cậy rất rộng, cận trên sát 1. Dữ liệu là quan sát, và chúng tôi chỉ đọc tóm tắt. Hai nghiên cứu cùng hướng nhưng đều nhỏ và tự báo cáo SL.
Chất lượng giấc ngủ theo bảng hỏi: Trung Quốc và Việt Nam#
Phân tích gộp ở vị thành niên Trung Quốc#
Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI) là bảng hỏi tự điền, ngưỡng chuẩn cho "ngủ kém" là trên 5 điểm; nó sàng lọc chất lượng ngủ chứ không chẩn đoán rối loạn.
Một phân tích gộp 63 nghiên cứu cắt ngang, với 430.422 vị thành niên 13–19 tuổi ở Trung Quốc (gồm Đài Loan), ước tính tỉ lệ rối loạn giấc ngủ là 26% (KTC 95% 24–27%) (Liang và cs., 2021). Có 53 nghiên cứu dùng PSQI, phần lớn với ngưỡng từ 8 điểm, cao hơn ngưỡng chuẩn. Sau hiệu chỉnh thiên lệch xuất bản bằng phương pháp trim-and-fill, ước tính còn 23,6%. Học sinh THPT có tỉ lệ 28% (24–31%), THCS 20% (15–24%); tác giả không thấy khác biệt theo giới.
Dị biệt cực cao (I² = 99,14%), tỉ lệ từng nghiên cứu từ 8% đến 54,7%, và có dấu hiệu thiên lệch xuất bản. Vì ngưỡng PSQI phần lớn là từ 8, con số 26% không so trực tiếp được với các nghiên cứu Việt Nam dùng ngưỡng trên 5 SL.
Học sinh THPT ở Việt Nam#
Các nghiên cứu Việt Nam về giấc ngủ học sinh THPT mà chúng tôi tìm được đều cắt ngang, dùng PSQI, và cho tỉ lệ ngủ kém rất khác nhau.
| Nghiên cứu | Nơi, thời điểm | Mẫu | Ngưỡng PSQI | Ngủ kém |
|---|---|---|---|---|
| Tran và cs., 2023 | 3 trường, thị xã Đông Hoà (Phú Yên), 4/2021 | 768 học sinh lớp 10–12 | Trên 5 | 33,5% |
| Tran Danh Tien Thinh và cs., 2025 | Một trường, Hoà Vang (Đà Nẵng), 2024 | 737 học sinh 15–17 tuổi | Từ 5 | 47,5% |
| Nguyễn Hữu Minh An và cs., 2026 | Một trường, TP. Huế, 3–4/2026 | 747 học sinh lớp 10–12 | Trên 5 | 57,4% |
| Nguyen và cs., 2022 | Một trường ở miền Bắc, 7–9/2019 | 678 học sinh, tuổi trung bình 16,1 | Theo PSQI, chỉ đọc tóm tắt | 58,8% |
| Nguyễn Huỳnh Thùy Trang và cs., 2024 | Trường THPT chuyên, Long Xuyên (An Giang), 2–4/2023 | 438 học sinh lớp 10–12 | Trên 5 | 70,1% |
Mẫu Đông Hoà gồm 768 học sinh của 3 trường, khảo sát tháng 4/2021 trong giai đoạn COVID-19 (Tran và cs., 2023). Tỉ lệ 47,5% ở Hoà Vang có trong chính bài này và trong một bài khác trên cùng mẫu, đã dùng ở Tập 12 — Giấc ngủ kiểu Việt (Tran Danh Tien Thinh và cs., 2025). Bài dùng ngưỡng từ 5 thay cho trên 5, vì vậy tỉ lệ theo ngưỡng chuẩn không cao hơn 47,5% SL. Mẫu Huế khảo sát mùa xuân 2026, với PSQI trung bình 6,51 ± 3,04 (Nguyễn Hữu Minh An và cs., 2026). Mẫu miền Bắc thu thập tháng 7–9, một phần trong hè (Nguyen và cs., 2022).
Lý do khả dĩ của khoảng 33,5–70,1% gồm trường chuyên so với trường thường, thị xã so với thành phố, thời điểm thu thập (COVID-19, hè, mùa thi) và ngưỡng khác nhau. Hầu hết là một trường, không đại diện tỉnh, vì vậy chúng tôi không gộp chúng thành một "tỉ lệ học sinh Việt Nam ngủ kém" SL.
Căng thẳng học tập ở một trường chuyên#
Nghiên cứu ở trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên, An Giang) chọn ngẫu nhiên phân tầng theo lớp 438 học sinh từ 1.308 em, tuổi trung bình 17,0 ± 0,8 (Nguyễn Huỳnh Thùy Trang và cs., 2024). Có 98,0% phiếu hợp lệ. Ngoài 70,1% ngủ kém, 60,0% có căng thẳng học tập từ mức trung bình trở lên và 25,8% ở mức nặng theo thang căng thẳng học tập 16 mục (Educational Stress Scale for Adolescents, ESSA).
Tác giả báo tỉ số hiện mắc (prevalence ratio, PR) từ hồi quy Poisson, tức tỉ số tỉ lệ chứ không phải tỉ số chênh. So với căng thẳng nhẹ, căng thẳng vừa đi kèm PR ngủ kém 1,24 (KTC 95% 1,15–1,33) và căng thẳng nặng 1,53 (1,32–1,78). So với gia đình rất quan tâm, gia đình ít hoặc không quan tâm đi kèm PR 1,30 (1,11–1,52). So với sống cùng cả cha và mẹ, sống với người khác đi kèm PR 1,17 (1,02–1,35). Sống với một trong hai người cho PR 0,91 (0,74–1,12), không có ý nghĩa thống kê.
Thiết kế cắt ngang không xác định chiều: ngủ kém cũng có thể làm tăng cảm nhận căng thẳng. Bài không báo số giờ ngủ, giờ đi ngủ, màn hình hay học thêm, và không nêu nguồn tài trợ. Một trường chuyên không đại diện học sinh THPT nói chung. Hai yếu tố gia đình trong mô hình là cảm nhận của học sinh, không phải đánh giá cách nuôi dạy của cha mẹ SL.
Độ chắc chắn của các kết luận chính#
Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.
| Câu hỏi | Mức chắc chắn |
|---|---|
| Đồng hồ sinh học của vị thành niên có lùi muộn trong tuổi dậy thì? | Thấp |
| Một tuần chỉ 5 giờ trên giường mỗi đêm có làm giảm chú ý và trí nhớ làm việc của vị thành niên? | Thấp |
| Nữ sinh có ngủ ít hơn nam sinh? | Rất thấp |
Điều chưa biết#
- Chúng tôi chưa tìm được nguồn mở cho các nghiên cứu nền của Carskadon về dậy thì và lệch pha, của Jenni về áp lực ngủ, và về giảm sóng chậm tuổi dậy thì. Cơ chế hiện chỉ có qua thuần tập Crowley và báo cáo kỹ thuật AAP 2014.
- Chưa có số liệu đọc được về giấc ngủ vị thành niên ở Hàn Quốc hay ở Đông Nam Á ngoài Singapore và các trường Việt Nam nêu trên; Đài Loan chỉ có trong phân tích gộp tỉ lệ ở Trung Quốc.
- Chưa đọc được nghiên cứu Twenge 2017 về giảm thời lượng ngủ 2009–2015 gắn với màn hình, để đối chiếu với xu hướng giảm từ trước thời điện thoại thông minh trong Monitoring the Future.
- Thiếu số liệu nước tăng lực và caffeine với giấc ngủ ở vị thành niên châu Á; dữ liệu hiện có từ Phần Lan (2011) và Hoa Kỳ (đến 2010) đã cũ.
- Một số dữ kiện chỉ đọc tóm tắt (Keyes, Baum, Branum, Milewski, von Rosen, Short 2018, Olds, Roenneberg, Crowley 2015, Nguyen 2022); chưa có khoảng tin cậy, biến hiệu chỉnh hay tuyên bố xung đột lợi ích đầy đủ.
- Ở Việt Nam, chưa có khảo sát đại diện quốc gia đo thời lượng ngủ hay dùng PSQI ở học sinh. Chúng tôi chưa tìm được số liệu giấc ngủ từ Điều tra sức khoẻ học sinh toàn cầu (GSHS) hay Điều tra quốc gia sức khoẻ tâm thần vị thành niên (V-NAMHS).
- Thuần tập vị thành niên ở Huế có hỏi số giờ ngủ nhưng chưa công bố số liệu giấc ngủ; chưa có nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ học sinh THPT bằng actigraphy hay đo DLMO.
Viết tắt trong trang
- AAP
- Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
- AASM
- Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
- aOR
- tỉ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio)
- DLMO
- thời điểm bắt đầu tiết melatonin trong ánh sáng mờ (dim light melatonin onset)
- GRADE
- khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- MCTQ
- bảng hỏi kiểu thời gian Munich (Munich ChronoType Questionnaire)
- NIH
- Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institutes of Health)
- OR
- tỉ số chênh (odds ratio)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Vị thành niên: đồng hồ sinh học lùi muộn, thiếu ngủ và ngủ bù. Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/vi-thanh-nien-ngu-muon-va-thieu-ngu/