Chương này hỏi hai câu: các tổ chức chuyên môn khuyến nghị trẻ ngủ bao nhiêu giờ mỗi ngày, và những con số đó đứng trên bằng chứng nào. Ba bộ khuyến nghị được dẫn nhiều nhất gần như trùng nhau từ 1 tuổi trở lên, nhưng khác nhau ở trẻ 0–3 tháng, ở cận trên cho trẻ 4–11 tháng và, ít hơn, ở cận trên cho tuổi đi học. Cả ba đều là đồng thuận chuyên gia dựa trên nghiên cứu quan sát, và bảng chứng cứ của hướng dẫn quốc tế xếp phần lớn các liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi vào mức chắc chắn thấp hoặc rất thấp. Thời lượng ngủ đo được thì dao động rộng theo quần thể và theo công cụ đo. Theo cha mẹ báo cáo, trẻ ở các nước chủ yếu châu Á ngủ ít hơn khoảng 1 giờ trên toàn dải 0–12 tuổi, nhưng ở tuổi mẫu giáo giấc trưa bù gần đủ phần thiếu ở đêm. Con số còn phụ thuộc công cụ đo: actigraphy, nhật ký của cha mẹ và quay video cho kết quả khác nhau. Vì vậy, khoảng khuyến nghị là mốc tham chiếu cho quần thể, không phải ngưỡng sinh học đã xác lập cho từng trẻ.
Nhịp ngày–đêm, thức đêm và khái niệm "ngủ xuyên đêm" được trình bày ở chương Năm đầu đời: nhịp ngày–đêm, thức đêm và "ngủ xuyên đêm". Liên quan giữa ngủ ít với cân nặng, học tập và hành vi có chương riêng, Ngủ ít với cân nặng, học tập và hành vi: hiệu ứng lớn đến đâu.
Ba bộ khuyến nghị và cách chúng được xây dựng#
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ, 2016#
Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine, AASM) công bố tuyên bố đồng thuận năm 2016 (Paruthi và cs., 2016b). Tuyên bố khuyến nghị trẻ 4–12 tháng ngủ 12–16 giờ mỗi 24 giờ, và trẻ 1–2 tuổi ngủ 11–14 giờ mỗi 24 giờ, đều tính cả giấc ngủ ngày. Với vị thành niên 13–18 tuổi, cùng tuyên bố khuyến nghị ngủ đều đặn 8–10 giờ mỗi 24 giờ. Các khoảng này dành cho trẻ khoẻ mạnh và mang mức đồng thuận chuyên gia.
Bài phương pháp đi kèm mô tả quy trình (Paruthi và cs., 2016a). Tìm kiếm ban đầu được 1.040 bài, còn 864 bài sau khi áp tiêu chí chọn. Hội đồng 13 chuyên gia dùng phương pháp đánh giá mức phù hợp RAND/UCLA có điều chỉnh (modified RAND/UCLA Appropriateness Method). Họ bỏ phiếu nhiều vòng trên thang Likert 9 điểm: trung vị 1–3 là không đồng ý, 4–6 là không chắc, 7–9 là đồng ý. Quá trình kéo dài 10 tháng và kết thúc vào tháng 2/2016.
Hai chi tiết trong bài phương pháp cho thấy giới hạn của khuyến nghị ở nhũ nhi. Thứ nhất, AASM không đưa khuyến nghị nào cho trẻ dưới 4 tháng, vì biên độ dao động bình thường quá rộng và thiếu bằng chứng ở nhóm 0–4 tháng. Nhóm "nhũ nhi" ban đầu là 0–12 tháng, rồi được thu hẹp thành 4–12 tháng. Thứ hai, hội đồng đạt đồng thuận cho mức 12–16 giờ nhưng không đạt đồng thuận cho mức 16–18 giờ vì thiếu dữ liệu; chính bài phương pháp thừa nhận chỉ có ít nghiên cứu ở nhóm 4 đến dưới 12 tháng.
Bằng chứng nhũ nhi mà AASM dẫn chủ yếu đến từ hai thuần tập sinh tiến cứu. Trong đó, trẻ khoẻ mạnh ngủ khoảng hơn 13 đến hơn 14 giờ mỗi 24 giờ, và trẻ ngủ ít hơn đi kèm khả năng có vấn đề chất lượng cuộc sống về sau cao hơn. Thời lượng ngủ trong các thuần tập này chủ yếu do cha mẹ báo cáo, và đây là liên quan quan sát. Khuyến nghị được gửi tới Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) và Hội Nghiên cứu Giấc ngủ để tán thành; văn bản chúng tôi đọc được không xác nhận việc tán thành đó.
Tổ chức Y tế Thế giới, 2019#
Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO) năm 2019 ban hành hướng dẫn về vận động, hành vi tĩnh tại và giấc ngủ cho trẻ dưới 5 tuổi. Hướng dẫn ghi khoảng 14–17 giờ cho trẻ 0–3 tháng và 12–16 giờ cho trẻ 4–11 tháng, kể cả ngủ ngày (WHO, 2019a). Trẻ 1–2 tuổi được ghi 11–14 giờ, kể cả ngủ ngày, với giờ ngủ và giờ dậy đều đặn. Hướng dẫn dựa trên tổng quan hệ thống và bảng chứng cứ theo hệ thống xếp hạng GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation). Chúng tôi đọc khuyến nghị từ thông cáo chính thức và phụ lục bằng chứng, vì toàn văn hướng dẫn không mở được. Cùng văn bản ghi rằng màn hình không được khuyến nghị cho trẻ dưới 1 tuổi.
Quỹ Giấc ngủ Quốc gia Mỹ, 2015#
Quỹ Giấc ngủ Quốc gia Mỹ (National Sleep Foundation, NSF) năm 2015 xây dựng khuyến nghị cho mọi lứa tuổi bằng hội đồng 18 thành viên từ 12 tổ chức, cũng theo phương pháp RAND/UCLA (Hirshkowitz và cs., 2015). Trẻ sơ sinh được khuyến nghị 14–17 giờ, nhũ nhi 12–15 giờ, trẻ chập chững 11–14 giờ. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt; phần này không có thông tin tài trợ hay xung đột lợi ích.
Trang thông tin hiện hành của NSF ghi trẻ 0–3 tháng cần 14–17 giờ, trẻ 4–11 tháng khoảng 12–15 giờ mỗi ngày, và trẻ trong năm thứ hai 11–14 giờ (National Sleep Foundation, 2026). Với nhóm năm thứ hai, trang viết "mỗi đêm" thay vì mỗi 24 giờ. NSF thêm rằng chênh thêm một hai giờ ở mỗi phía của khoảng có thể vẫn phù hợp tuỳ từng người.
Đặt ba bộ khuyến nghị cạnh nhau#
| Nhóm tuổi | AASM 2016 | WHO 2019 | NSF 2015 và trang hiện hành |
|---|---|---|---|
| 0–3 tháng | Không đưa khuyến nghị | 14–17 giờ, kể cả ngủ ngày | 14–17 giờ |
| 4–11 hoặc 4–12 tháng | 12–16 giờ/24 giờ (4–12 tháng) | 12–16 giờ, kể cả ngủ ngày (4–11 tháng) | 12–15 giờ (4–11 tháng) |
| 1–2 tuổi | 11–14 giờ/24 giờ | 11–14 giờ, kể cả ngủ ngày | 11–14 giờ (trang viết "mỗi đêm") |
| 3–5 tuổi | 10–13 giờ/24 giờ, kể cả ngủ ngày | 10–13 giờ, có thể gồm ngủ ngày (3–4 tuổi) | 10–13 giờ (mẫu giáo) |
| 6–12 tuổi | 9–12 giờ/24 giờ | Ngoài phạm vi (hướng dẫn dành cho trẻ dưới 5 tuổi) | 9–11 giờ (tuổi đi học) |
| 13–18 tuổi | 8–10 giờ/24 giờ | Ngoài phạm vi | 8–10 giờ (vị thành niên) |
| Phương pháp | Đồng thuận RAND/UCLA điều chỉnh; 13 chuyên gia; 864 bài | Tổng quan hệ thống và bảng chứng cứ GRADE | Đồng thuận RAND/UCLA; 18 thành viên từ 12 tổ chức |
Bảng 1. Khuyến nghị thời lượng ngủ theo nhóm tuổi của ba tổ chức. Tất cả là đồng thuận chuyên gia, không phải số đo trên một mẫu trẻ. Hàng 3–18 tuổi đọc từ văn bản AASM (Paruthi và cs., 2016b), thông cáo của WHO (WHO, 2019a) và tóm tắt NSF; tóm tắt NSF không ghi tuổi chính xác của các nhóm mẫu giáo, tuổi đi học và vị thành niên.
Hình 1. Khoảng giờ ngủ khuyến nghị theo nhóm tuổi của ba tổ chức
- Trẻ 0–3 tháng: AASM không đưa khuyến nghị vì thiếu bằng chứng; WHO và NSF ghi 14–17 giờ.
- Trẻ 4–11 hoặc 4–12 tháng: cận trên 16 giờ ở AASM và WHO, 15 giờ ở NSF.
- Trẻ 1–2 tuổi: cả ba ghi 11–14 giờ.
- Trẻ 3–5 tuổi: cả ba ghi 10–13 giờ; nhóm của WHO là 3–4 tuổi, có thể gồm ngủ ngày.
- Trẻ 6–12 tuổi: AASM 9–12 giờ, NSF 9–11 giờ cho tuổi đi học; hướng dẫn WHO 2019 chỉ dành cho trẻ dưới 5 tuổi.
- Vị thành niên 13–18 tuổi: AASM và NSF cùng ghi 8–10 giờ.
Biểu đồ số liệu. Cả ba bộ khuyến nghị là đồng thuận chuyên gia hoặc hướng dẫn dựa trên bằng chứng chất lượng thấp đến rất thấp, không phải số đo trên một mẫu trẻ; tóm tắt NSF không ghi tuổi chính xác của từng nhóm.
Từ 3 tuổi trở lên, ba tổ chức gần như trùng nhau: 10–13 giờ cho tuổi mẫu giáo và 8–10 giờ cho vị thành niên. Chỗ lệch duy nhất ở tuổi đi học là cận trên, 12 giờ ở AASM và 11 giờ ở NSF. Một báo cáo Mỹ về học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông dùng ngưỡng "ngủ ngắn" là dưới 9 giờ cho trẻ 6–12 tuổi và dưới 8 giờ cho trẻ 13–18 tuổi. Đó là cận dưới của khoảng AASM (Wheaton và cs., 2018).
Hai chỗ khác nhau và điều chúng nói về bằng chứng#
Trẻ 0–3 tháng và cận trên cho 4–11 tháng#
Chỗ khác thứ nhất là trẻ 0–3 tháng. AASM không đưa con số nào, trong khi WHO và NSF cùng ghi 14–17 giờ. Chỗ khác thứ hai là cận trên cho trẻ 4–11 hoặc 4–12 tháng: 16 giờ ở AASM và WHO, 15 giờ ở NSF.
Đây không phải mâu thuẫn giữa các bộ dữ liệu. Cả ba tổ chức nhìn vào cùng một khối nghiên cứu quan sát chất lượng thấp, và khác nhau ở cách hội đồng xử lý chỗ thiếu dữ liệu SL. AASM chọn không đưa con số khi bằng chứng không đủ; WHO và NSF chọn đưa một khoảng. Ở nhóm 4–12 tháng, hội đồng AASM không đồng thuận được cho mức 16–18 giờ, vì vậy cận trên dừng ở 16 giờ; NSF dừng ở 15 giờ nhưng lại nói thêm một hai giờ mỗi phía vẫn có thể phù hợp SL.
Mức chắc chắn của bằng chứng nền#
Phụ lục bằng chứng của WHO cho thấy rõ nền móng của các con số (WHO, 2019b). Với thời lượng ngủ và tăng mỡ cơ thể ở trẻ 0–4,9 tuổi, 15 nghiên cứu dọc với 31.482 trẻ và 18 nghiên cứu cắt ngang với 30.829 trẻ đều được xếp chất lượng bằng chứng thấp. Đa số báo cáo ngủ ngắn đi kèm tăng mỡ, nhưng một nghiên cứu thấy ngủ dài đi kèm tăng mỡ. Giấc ngủ trong các nghiên cứu này được đo bằng actigraphy (thiết bị đeo ghi vận động để ước tính thức và ngủ) hoặc do cha mẹ báo cáo.
Với điều hoà cảm xúc, bằng chứng dọc (7 phân tích trong bảng, chú thích ghi 8 nghiên cứu; 46.959–47.199 trẻ) và cắt ngang (17 nghiên cứu, 16.536 trẻ) đều được xếp rất thấp (WHO, 2019b). Với vận động thô và tinh ở nhũ nhi có tuổi trung bình 7,4–13 tháng, 2 nghiên cứu cắt ngang (1.403 trẻ) không thấy liên quan với thời lượng ngủ, mức chắc chắn thấp. Riêng bảng về mỡ cơ thể gộp mọi tuổi dưới 5, không tách riêng nhũ nhi.
Tổng quan hệ thống làm nền cho hướng dẫn 24 giờ ở trẻ nhỏ gồm 69 bài, 148.524 trẻ ở 23 nước, tuổi 1 tháng đến 4,99 tuổi (Chaput và cs., 2017). Phần lớn là nghiên cứu cắt ngang (42) và dọc (16); chỉ có 3 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT). Có 48 nghiên cứu dùng báo cáo của cha mẹ, 21 nghiên cứu đo khách quan. Ngủ ngắn đi kèm mỡ cơ thể cao hơn ở 20 trên 31 nghiên cứu, mức bằng chứng thấp. Với nhận thức, chỉ 6 trên 16 nghiên cứu thấy liên quan, 8 không thấy, và 2 thấy theo chiều ngược. Kết quả không thay đổi theo nhóm nhũ nhi, chập chững hay mẫu giáo.
Chính các tác giả tổng quan này thừa nhận khó xác định lượng ngủ tối ưu từ bằng chứng hiện có (Chaput và cs., 2017). Lý do là phần lớn nghiên cứu là tương quan, hoặc so sánh các nhóm chia theo những ngưỡng cắt khác nhau. Họ kêu gọi nghiên cứu có dữ liệu liều–đáp ứng. Đọc cùng nhau, các khoảng của WHO, AASM và NSF là kết luận của hội đồng trên bằng chứng quan sát, không phải ngưỡng mà dưới đó một trẻ cụ thể chắc chắn bị ảnh hưởng SL.
Trẻ thực sự ngủ bao nhiêu: số đo theo tháng tuổi, quần thể và công cụ#
Giá trị tham chiếu gộp#
Tổng quan hệ thống 34 nghiên cứu quan sát của Galland và cộng sự đưa ra giá trị tham chiếu trung bình 12,8 giờ ở nhũ nhi, với khoảng ±1,96 độ lệch chuẩn từ 9,7 đến 15,9 giờ (Galland và cs., 2012). Ở nhóm chập chững và mẫu giáo, giá trị là 11,9 giờ (9,9–13,8). Mọi số liệu là cha mẹ báo cáo qua bảng hỏi hay nhật ký, không đo khách quan. Phương trình phù hợp nhất cho số giờ ngủ theo tuổi 0–12 có R² = 0,89. Thời gian đi vào giấc ngủ tương đối ổn định trong khoảng 0–6 tuổi, nhưng dữ liệu rất thưa.
Khoảng tham chiếu rộng khoảng 6 giờ ở nhũ nhi: một trẻ ngủ 10 giờ hay 15 giờ vẫn nằm trong khoảng. Cũng trong tổng quan này, hồi quy gộp cho thấy các nước chủ yếu châu Á có thời lượng ngủ ngắn hơn có ý nghĩa thống kê, khoảng 1 giờ ít hơn trên toàn dải 0–12 tuổi. Chiều này phù hợp với số liệu châu Á và phương Tây đã trình bày ở Tập 12 "Giấc ngủ kiểu Việt".
Các thuần tập theo tháng tuổi#
Trong hai thuần tập sinh dựa dân số ở Phần Lan (CHILD-SLEEP và FinnBrain), tổng thời lượng ngủ trung bình do cha mẹ báo cáo giảm từ 14,4 giờ lúc 3 tháng xuống 11,9 giờ lúc 2 tuổi (Paavonen và cs., 2020). Công cụ là Bảng hỏi giấc ngủ nhũ nhi rút gọn (Brief Infant Sleep Questionnaire, BISQ). Cỡ mẫu CHILD-SLEEP giảm từ 1.427 trẻ lúc 3 tháng xuống 950 trẻ lúc 24 tháng; FinnBrain có 2.002 trẻ lúc 6 tháng và 1.693 trẻ lúc 12 tháng. Chất lượng giấc ngủ biến thiên rất lớn giữa các trẻ, nhất là trong hai năm đầu.
Thuần tập GUSTO ở Singapore cho con số thấp hơn nhiều, cũng bằng BISQ do cha mẹ báo cáo (Zhou và cs., 2015). Tổng thời lượng ngủ trung bình là 12,08 giờ lúc 3 tháng (độ lệch chuẩn 3,91), 11,75 giờ lúc 6 tháng, 11,66 giờ lúc 12 tháng và 11,14 giờ lúc 24 tháng. Mẫu có 899 trẻ người Hoa, Mã Lai và Ấn, với 399–719 trẻ ở mỗi thời điểm. Lúc 3 tháng, trẻ Mã Lai ngủ 10,96 giờ, so với 12,49 giờ ở trẻ người Hoa và 12,43 giờ ở trẻ người Ấn. Tỉ lệ trẻ ngủ ≤ 12 giờ lúc 3 tháng là 67,7% ở trẻ Mã Lai, 46,1% ở trẻ người Hoa và 45,7% ở trẻ người Ấn.
Ở 3 tháng, trung bình Singapore thấp hơn khoảng 2,3 giờ so với Phần Lan và thấp hơn khoảng 14–17 giờ của WHO cho nhóm 0–3 tháng SL. Trong GUSTO, ở nhóm ngủ ≤ 12 giờ lúc 3 tháng, ngủ ngắn hơn đi kèm chỉ số khối cơ thể cao hơn (β = −0,036; KTC 95% −0,065 đến −0,008). Trên toàn mẫu, liên quan này không có ý nghĩa thống kê (β = −0,014; −0,030 đến 0,001), và hiệu ứng rất nhỏ. Một số tác giả nhận phí từ hãng dinh dưỡng, và liên minh nghiên cứu nhận tài trợ từ Abbott, Nestlé và Danone.
Ở Hạ Môn (Trung Quốc, 2020), khảo sát cắt ngang tại bệnh viện trên 827 trẻ 0–3 tuổi dùng BISQ mở rộng bản tiếng Trung, do người chăm sóc báo cáo về 2 tuần qua (Lin và cs., 2022). Nhũ nhi có tuổi trung bình 5,8 tháng ngủ tổng 13,8 ± 2,5 giờ mỗi ngày: 4,6 giờ ban ngày, 9,2 giờ ban đêm, đoạn dài nhất 5,9 giờ. Trẻ chập chững có tuổi trung bình 26,2 tháng ngủ 10,9 ± 1,4 giờ: 2,2 giờ ban ngày, 8,7 giờ ban đêm, đoạn dài nhất 7,4 giờ. Trung bình của trẻ chập chững thấp hơn khoảng khuyến nghị 11–14 giờ cho trẻ 1–2 tuổi. Nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc và quỹ Lin Qiaozhi.
Ở Osaka và Mie (Nhật, 2003–2009), nhật ký giấc ngủ của 465 cặp người chăm sóc–trẻ lúc 18 tháng cho giờ vào giấc trung bình khoảng 21:34 (Tomisaki và cs., 2018). Trẻ ngủ đêm 9,64 ± 0,85 giờ và tổng 11,56 ± 1,02 giờ; chỉ 7,1% trẻ ngủ đêm hơn 11 giờ.
Cùng tuổi, khác công cụ#
Thử nghiệm ngẫu nhiên Pelotas ở Brazil (586 trẻ được phân ngẫu nhiên) đo giấc ngủ đêm bằng actigraphy (Santos và cs., 2019). Thời lượng ngủ đêm khoảng 7,99–8,02 giờ lúc 12 tháng và 8,17–8,32 giờ lúc 24 tháng, với trung vị khoảng 2–3 lần thức đêm. Con số này thấp hơn số cha mẹ báo cáo ở các thuần tập khác, nhưng khác công cụ đo, vì vậy không so trực tiếp được SL. Actigraphy chấm "ngủ" khác nhật ký: lúc 24 tháng, trẻ có thể thức lặng lẽ mà không gọi cha mẹ 0,23–0,52 giờ mỗi đêm.
Một nghiên cứu ở 90 trẻ Mỹ gốc Phi 3 tháng tuổi lấy quay video giấc ngủ làm chuẩn. So với video, cả actigraphy lẫn nhật ký của cha mẹ đều ước lượng thời gian ngủ dài hơn và số lần thức đêm ít hơn thực tế (Camerota và cs., 2018). Actigraphy có độ nhạy thấp khi phát hiện trạng thái thức. Như vậy, con số "thời lượng ngủ" ở nhũ nhi có thể phụ thuộc mạnh vào công cụ đo SL.
Số liệu Việt Nam ở trẻ dưới 2 tuổi#
Nghiên cứu Việt Nam duy nhất chúng tôi có về thời lượng ngủ trẻ dưới 2 tuổi được thực hiện ở một cơ sở: Trung tâm Tiêm chủng, Bệnh viện Nhi Trung ương, tháng 1–5/2023 (Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cs., 2023). Mẫu thuận tiện gồm 198 trẻ dưới 24 tháng, tuổi trung bình 10,36 ± 7,25 tháng. Người chăm sóc (97% là mẹ) trả lời BISQ mở rộng 33 mục, nhớ lại 2 tuần qua.
Tổng thời gian ngủ trung bình là 13,34 ± 2,56 giờ mỗi 24 giờ, gồm 9,03 giờ ngủ đêm và 4,31 giờ ngủ ngày. Con số giảm từ 15,44 giờ ở trẻ 0–2 tháng xuống 11,73 giờ ở trẻ 18–23 tháng. Giờ đi ngủ trung bình là 21:09, giờ dậy 07:11. Mẫu đến tiêm chủng ở bệnh viện tuyến trung ương, thiên về Hà Nội, do đó không đại diện cho trẻ Việt Nam nói chung. Khảo sát Mindell 2010 (đã dùng ở Tập 12) ghi tổng 12,99 giờ và giờ đi ngủ khoảng 21:44, nhưng nhóm tuổi (0–36 tháng) và cách hỏi khác.
| Nơi, nguồn | Công cụ, người báo cáo | Tuổi | Thời lượng |
|---|---|---|---|
| Gộp 34 nghiên cứu (Galland 2012) | Bảng hỏi, nhật ký; cha mẹ | Nhũ nhi | 12,8 giờ (9,7–15,9) |
| Phần Lan (Paavonen 2020) | BISQ; cha mẹ | 3 tháng → 2 tuổi | 14,4 → 11,9 giờ |
| Singapore, GUSTO (Zhou 2015) | BISQ; cha mẹ | 3 / 12 / 24 tháng | 12,08 / 11,66 / 11,14 giờ |
| Singapore, trẻ Mã Lai | BISQ; cha mẹ | 3 tháng | 10,96 giờ |
| Hạ Môn, Trung Quốc (Lin 2022) | BISQ mở rộng; người chăm sóc | 5,8 / 26,2 tháng | 13,8 / 10,9 giờ |
| Osaka và Mie, Nhật (Tomisaki 2018) | Nhật ký; người chăm sóc | 18 tháng | 11,56 giờ (đêm 9,64) |
| Pelotas, Brazil (Santos 2019) | Actigraphy; chỉ giấc đêm | 12 / 24 tháng | 7,99–8,02 / 8,17–8,32 giờ |
| Hà Nội, một bệnh viện (2023) | BISQ mở rộng; người chăm sóc | 0–2 → 18–23 tháng | 15,44 → 11,73 giờ |
Bảng 2. Thời lượng ngủ đo được ở nhũ nhi và trẻ chập chững theo quần thể và công cụ. Số actigraphy ở Pelotas chỉ là giấc ngủ đêm, không so trực tiếp với tổng 24 giờ.
Vì sao các con số lệch nhau#
Lúc 3 tháng, chênh lệch giữa Phần Lan (14,4 giờ) và trẻ Mã Lai ở Singapore (10,96 giờ) lớn hơn chính độ rộng của khoảng khuyến nghị WHO cho nhóm tuổi này SL. Các lý do khả dĩ gồm khác biệt văn hoá (châu Á ngủ ngắn hơn khoảng 1 giờ theo Galland) và giờ đi ngủ muộn SL. Công cụ cũng khác nhau: BISQ hồi tưởng, nhật ký, actigraphy. Thêm vào đó là định nghĩa "đêm", và việc có dùng tuổi hiệu chỉnh cho trẻ sinh non hay không. Không nghiên cứu nào trong số này cho biết lý do nào nặng hơn.
Nếu áp khoảng khuyến nghị như một ngưỡng, một tỉ lệ lớn trẻ khoẻ mạnh ở Singapore, Hạ Môn hay Osaka sẽ bị xếp là "ngủ thiếu" SL. Điều đó có thể phản ánh thiếu ngủ thật, nhưng cũng có thể phản ánh việc khuyến nghị được dựng chủ yếu trên dữ liệu phương Tây. Bộ dữ kiện hiện có không đủ để phân định hai khả năng này SL.
Cấu trúc giấc ngủ thay đổi theo tuổi#
Không chỉ lượng ngủ thay đổi, cấu trúc giấc ngủ cũng khác. Kaditis và Gozal có một tổng quan tường thuật về đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) ở năm đầu đời (Kaditis và Gozal, 2022). Theo đó, trẻ sơ sinh đủ tháng dành khoảng 50% tổng thời gian ngủ ở giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement, REM), còn gọi là giấc ngủ động. Tỉ lệ này giảm dần theo tuổi. Chu kỳ ngủ ở trẻ sơ sinh dài 30–70 phút và thường bắt đầu bằng REM, khác với chu kỳ 75–90 phút bắt đầu bằng giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement, NREM) ở trẻ lớn.
AASM có quy tắc riêng để chấm giai đoạn ngủ cho trẻ đủ tháng 0–2 tháng, gồm cả giai đoạn chuyển tiếp (Kaditis và Gozal, 2022). Ngưỡng tham chiếu của chỉ số ngưng thở tắc nghẽn ở bách phân vị 95 là 5,1 cơn mỗi giờ lúc 1 tháng rồi giảm theo tuổi. Chỉ số ngưng thở trung ương vẫn cao lúc 1 và 3 tháng, và giảm khoảng 75% đến 1 tuổi. Bảng 1 của cùng bài dùng một chỉ số khác, chỉ số ngưng thở–giảm thở tắc nghẽn, với bách phân vị 95 là 5,8 cơn mỗi giờ lúc 1 tháng. Ngưỡng của người lớn hay trẻ lớn không áp được cho nhũ nhi.
Trẻ mẫu giáo và trẻ đi học#
Khảo sát trực tuyến cắt ngang ở 13 nước và vùng (2/2011–3/2012) hỏi mẹ của 2.590 trẻ 3–6 tuổi bằng bảng hỏi giấc ngủ trẻ em rút gọn mở rộng (Mindell và cs., 2013). Tổng giấc ngủ 24 giờ, kể cả ngủ trưa, giảm từ 11,32 giờ ở 3 tuổi xuống 10,64 giờ ở 5 tuổi. Mẫu gồm 1.447 trẻ ở nhóm nước chủ yếu châu Á và 1.139 trẻ ở nhóm nước chủ yếu người da trắng (Úc–New Zealand, Canada, Anh, Mỹ).
Tỉ lệ mẹ cho rằng con có vấn đề giấc ngủ là 24,2% ở nhóm nước châu Á, so với 18,4% ở nhóm nước chủ yếu người da trắng. Tóm tắt bài không liệt kê Việt Nam trong nhóm nước châu Á. Mẫu nghiêng về gia đình thành thị, học vấn cao. Nghiên cứu được tài trợ bởi Hiệp hội Giấc ngủ Nhi khoa châu Á–Thái Bình Dương và Johnson & Johnson Consumer; một tác giả là nhân viên Johnson & Johnson và ba tác giả là tư vấn hoặc diễn giả cho hãng này.
Ngủ trưa ở tuổi mẫu giáo, kể cả quy định ngủ trưa ở trường mầm non Việt Nam, được trình bày ở chương Ngủ trưa ở trẻ mẫu giáo và ở trường mầm non Việt Nam.
Ở trẻ 6–17 tuổi, cuộc thăm dò Sleep in America 2014 của NSF hỏi 1.103 cha mẹ trên một bảng mẫu đại diện quốc gia Mỹ; tuổi trung bình của trẻ là 11,4 tuổi (Buxton và cs., 2015). Hơn 90% cha mẹ cho rằng giấc ngủ rất hoặc cực kỳ quan trọng. Tuy vậy, họ ước con chỉ cần tối thiểu trung bình 8,7 giờ, và con ngủ trung bình 8,4 giờ mỗi đêm theo lời cha mẹ. Khoảng 44% cha mẹ ước con ngủ thiếu ít nhất 1 giờ vào đêm đi học. Con số 8,7 giờ thấp hơn khoảng 9–12 giờ của AASM cho trẻ 6–12 tuổi nhưng nằm trong khoảng 8–10 giờ cho 13–17 tuổi SL.
Cùng bài có một mâu thuẫn nội bộ. Tóm tắt nêu 90% trẻ ngủ ít hơn khuyến nghị, trong khi phần kết quả nêu 60,0% trẻ đạt ngưỡng ngủ đủ của nghiên cứu (63,3% ở 6–11 tuổi; 56,7% ở 12–17 tuổi). Có thể bài dùng hai ngưỡng khác nhau, khuyến nghị chính thức và một ngưỡng tự định. Chúng tôi không dùng con số 90% vì bài không cho biết con số này dựa trên ngưỡng nào. Cuộc thăm dò do NSF tài trợ; tổ chức này nêu không nhận tài trợ doanh nghiệp cho khảo sát thường niên.
Ở Việt Nam, chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu cộng đồng nào đo thời lượng ngủ của trẻ tiểu học khoẻ mạnh bằng actigraphy. Số liệu chủ yếu là biến phụ trong nghiên cứu béo phì với ngưỡng dưới 8 giờ, và mẫu bệnh viện. Chương Giấc ngủ trẻ em Việt Nam: đã đo gì, chưa đo gì tổng hợp các nguồn này.
Vị thành niên: khuyến nghị 8–10 giờ và ước tính nhu cầu ngủ#
Với vị thành niên 13–18 tuổi, AASM khuyến nghị ngủ đều đặn 8–10 giờ mỗi 24 giờ (Paruthi và cs., 2016b). Như ở trẻ nhỏ, đây là đồng thuận chuyên gia theo phương pháp RAND/UCLA có điều chỉnh, sau khi rà soát 864 bài báo, không phải ngưỡng đo trực tiếp.
Một thực nghiệm ở Úc tìm cách đo nhu cầu ngủ trực tiếp hơn (Short và cs., 2018). 34 vị thành niên 15–17 tuổi ở trong phòng thí nghiệm 10 ngày 9 đêm. Sau 2 đêm nền với 10 giờ trên giường, các em được xếp vào một trong ba điều kiện, 5 đêm với 5 giờ, 7,5 giờ hoặc 10 giờ trên giường, rồi 2 đêm hồi phục. Kết cục là nhiệm vụ cảnh giác tâm vận (psychomotor vigilance task, PVT) 10 phút và thang buồn ngủ Karolinska, đo mỗi 3 giờ.
Mô hình liều–đáp ứng ước tính nhu cầu ngủ khoảng 9 giờ; cần khoảng 9,35 giờ ngủ để giữ chú ý duy trì tối ưu theo số lần sót trên PVT. Con số nằm ở nửa trên khoảng 8–10 giờ của AASM. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt, mẫu nhỏ, và điều kiện phòng thí nghiệm khác đời sống thường ngày.
Thực tế thường thấp hơn khuyến nghị, ít nhất theo tự báo cáo. Trong Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh thiếu niên Hoa Kỳ (Youth Risk Behavior Survey, YRBS) 2015, 72,7% trong 14.471 học sinh lớp 9–12 báo cáo ngủ dưới 8 giờ vào đêm trước ngày đi học (KTC 95% 70,4–74,9) (Wheaton và cs., 2018). Trong mẫu gộp 52.356 học sinh lớp 6–8 ở 9 bang, 57,8% ngủ ít hơn mức khuyến nghị theo tuổi (KTC 95% 56,7–58,9); mẫu 9 bang này không đại diện toàn quốc. Tỉ lệ ngủ ngắn ở nữ sinh cao hơn nam sinh ở cả hai cấp: 59,6% so với 56,0% ở trung học cơ sở, 75,6% so với 69,9% ở trung học phổ thông.
Các nghiên cứu Việt Nam về vị thành niên mà chúng tôi có phần lớn đo chất lượng giấc ngủ bằng Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index, PSQI), không báo số giờ ngủ. Ví dụ, ở 438 học sinh lớp 10–12 của một trường chuyên ở Long Xuyên (An Giang, 2023), 70,1% có PSQI > 5, nhưng bài không báo giờ đi ngủ hay thời lượng (Nguyễn Huỳnh Thùy Trang và cs., 2024). Đồng hồ sinh học lùi muộn ở tuổi dậy thì, thiếu ngủ và ngủ bù được trình bày ở chương Vị thành niên: đồng hồ sinh học lùi muộn, thiếu ngủ và ngủ bù.
Độ chắc chắn của các kết luận chính#
Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.
| Câu hỏi | Mức chắc chắn |
|---|---|
| Ở trẻ dưới 5 tuổi, ngủ ngắn có đi kèm tăng mỡ cơ thể? | Thấp |
| Trẻ ở các nước chủ yếu châu Á có ngủ ít hơn trẻ ở các nước phương Tây? | Rất thấp |
| Vị thành niên cần ngủ bao nhiêu để giữ chú ý duy trì tốt nhất? | Rất thấp |
Điều chưa biết#
- Toàn văn các khuyến nghị và chuẩn tham chiếu gốc. Toàn văn hướng dẫn WHO 2019 không mở được; khuyến nghị được đọc từ thông cáo chính thức và phụ lục bằng chứng. Phương pháp chi tiết của NSF 2015 chỉ đọc được tóm tắt. Các nguồn chuẩn tham chiếu gốc như nghiên cứu thuần tập Zurich chưa mở được.
- Khuyến nghị cho trẻ 3–5 tuổi và của NSF cho trẻ lớn. Bảng khuyến nghị cho nhóm 3–5 tuổi và cho trẻ lớn được nhóm biên tập bổ sung sau kiểm chứng, đọc từ văn bản AASM, thông cáo WHO và tóm tắt NSF. Tóm tắt NSF không ghi tuổi chính xác của các nhóm mẫu giáo, tuổi đi học và vị thành niên.
- Số đo theo tháng tuổi. Chưa đọc được bảng số lần thức đêm theo từng tháng tuổi của hai thuần tập Phần Lan. Chưa có dữ liệu PSG chuẩn tham chiếu theo tháng tuổi (tỉ lệ REM và NREM, thoi ngủ) ngoài tổng quan tường thuật của Kaditis và Gozal.
- Lượng ngủ tối ưu. Chính tổng quan nền cho hướng dẫn 24 giờ thừa nhận chưa xác định được; chưa có nghiên cứu liều–đáp ứng ở trẻ nhỏ.
- Việt Nam. Chúng tôi chưa tìm được văn bản nào của Bộ Y tế khuyến nghị thời lượng ngủ theo tuổi cho trẻ Việt Nam hay chấp nhận hướng dẫn 24 giờ của WHO 2019. Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (Multiple Indicator Cluster Surveys, MICS) gần nhất ở Việt Nam không có biến về thời lượng hay thói quen ngủ của trẻ. Số giờ ngủ trong một bài dùng dữ liệu Young Lives Việt Nam nằm ở bảng dạng ảnh, chúng tôi không đọc được. Chưa có nghiên cứu Việt Nam nào đo giấc ngủ trẻ dưới 2 tuổi bằng actigraphy.
Viết tắt trong trang
- AAP
- Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
- AASM
- Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine)
- GRADE
- khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
- KTC
- khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
- MICS
- Điều tra cụm đa chỉ tiêu (Multiple Indicator Cluster Surveys)
- NREM
- giấc ngủ không cử động mắt nhanh (non-rapid eye movement)
- PSG
- đa ký giấc ngủ (polysomnography)
- PSQI
- chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index)
- PVT
- bài kiểm tra cảnh giác tâm thần vận động (psychomotor vigilance task)
- RCT
- thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)
- REM
- giấc ngủ cử động mắt nhanh (rapid eye movement)
Cách trích dẫn trang này
Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Trẻ cần ngủ bao nhiêu: khuyến nghị và nền bằng chứng. Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/tre-can-ngu-bao-nhieu/