giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Năm đầu đời: nhịp ngày–đêm, thức đêm và "ngủ xuyên đêm"

Chương 2 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 22 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi: trong năm đầu đời, nhịp ngày–đêm hình thành theo trình tự nào, trẻ thức đêm bao nhiêu lần, và "ngủ xuyên đêm" thực ra là gì. Các nghiên cứu đo nội tiết cho thấy nhịp melatonin và cortisol xuất hiện dần trong vài tháng đầu, chậm hơn ở trẻ sinh non nếu tính theo tuổi thực. Thức đêm vẫn phổ biến cuối năm đầu: ở một mẫu Anh, theo mẹ ước tính, gần bốn phần năm trẻ 6–12 tháng thức ít nhất một lần mỗi đêm. Giấc ngủ đêm liền mạch chỉ bắt đầu trong năm thứ hai ở hai thuần tập Phần Lan. Tỉ lệ "không ngủ xuyên đêm" dao động rất rộng tuỳ định nghĩa, và ở một thuần tập Canada, không thấy liên quan có ý nghĩa thống kê với điểm phát triển trí tuệ, vận động. Theo báo cáo của cha mẹ, trẻ bú mẹ thức nhiều lần hơn nhưng không rõ có ngủ ít hơn; ở đây các nghiên cứu mâu thuẫn và một thuần tập lớn có tài trợ từ hãng sữa.

Ngủ chung giường, ngủ an toàn và đột tử trẻ sơ sinh không được viết lại ở đây. Người đọc xem Tập 12 "Giấc ngủ kiểu Việt", nhất là chương Ngủ chung cha mẹ và con: tỉ lệ, giấc ngủ của trẻ và của mẹ và chương Đột tử trẻ sơ sinh và ngủ chung giường. Khuyến nghị thời lượng ngủ theo tuổi nằm ở chương Trẻ cần ngủ bao nhiêu: khuyến nghị và nền bằng chứng.

Nhịp ngày–đêm hình thành thế nào#

Trình tự xuất hiện các nhịp#

Một nghiên cứu đơn ca theo dõi liên tục một trẻ trai khoẻ mạnh trong 6 tháng tại nhà, với ánh sáng tự nhiên và ăn ngủ theo nhu cầu (McGraw và cs., 1999). Nhiệt độ cơ thể được đo mỗi giờ, melatonin nước bọt 24 giờ được đo mỗi tuần từ tuần 3, còn ngủ, thức và bú do cha mẹ ghi. Nhịp nhiệt độ xuất hiện đầu tiên và có ý nghĩa ngay trong tuần đầu. Nhịp thức đạt ý nghĩa ở ngày 45, cùng lúc melatonin buổi tối bắt đầu tăng. Nhịp ngủ xuất hiện cuối cùng, sau ngày 56. Vì chỉ có một trẻ, đây là minh hoạ về trình tự, không phải chuẩn tham chiếu.

Ở mức nhóm, chất chuyển hoá của melatonin trong nước tiểu (6-sulfatoxymelatonin) hầu như không có nhịp bài tiết trước 9–12 tuần tuổi ở trẻ đủ tháng (Kennaway và cs., 1992). Lúc 24 tuần, tổng lượng bài tiết mới bằng 25% mức người lớn. Tóm tắt không nêu số trẻ.

Nhịp cortisol cũng hình thành dần. Phân tích gộp dữ liệu cá thể từ 15 thuần tập, gồm 1.904 trẻ khoẻ mạnh 0–1 tuổi và 17.079 mẫu cortisol nước bọt, so cortisol buổi sáng (06:00–12:00) với buổi tối (18:00–00:00) (Kervezee và cs., 2024). Tỉ số sáng/tối tăng từ 1,7 (KTC 95% 1,3–2,1) lúc mới sinh lên 3,7 (3,0–4,5) lúc 6–9 tháng, rồi ổn định ở 3,6 lúc 10–13 tháng. Phân tích loại các nghiên cứu chỉ có trẻ sinh non. Thời điểm lấy mẫu vì vậy quan trọng khi đọc số đo cortisol trong các thử nghiệm can thiệp giấc ngủ ở nhũ nhi SL.

Ánh sáng và nhịp hoạt động#

Ở 44 cặp mẹ–con khoẻ mạnh đeo actigraphy (thiết bị đeo ghi vận động để ước tính thức và ngủ) có cảm biến ánh sáng liên tục 3 ngày lúc 4, 8 và 12 tuần. Trẻ nhận ánh sáng ít hơn mẹ (Thomas và cs., 2016). Lúc 4 tuần, biên độ ánh sáng của trẻ là 1,55 Ln lux so với 3,24 Ln lux ở mẹ. Tương quan pha giữa ánh sáng và hoạt động của trẻ tăng từ r = 0,385 lúc 4 tuần lên 0,686 lúc 12 tuần. Sau khi kiểm soát hoạt động của mẹ, tương quan chỉ rõ ở 12 tuần (r = 0,491, so với 0,177 lúc 4 tuần).

Đây là tương quan trên hoạt động, không đo giấc ngủ trực tiếp, và không chứng minh ánh sáng làm đồng bộ nhịp. Bài dẫn lại một nghiên cứu cho rằng trẻ 6–12 tuần nhận nhiều ánh sáng buổi chiều ngủ đêm nhiều hơn; chúng tôi chưa đọc được bài gốc đó.

Melatonin trong sữa mẹ#

Ở 98 bà mẹ khoẻ mạnh tại Trung Quốc (32 sinh non, 66 đủ tháng), 392 mẫu sữa lấy ở bốn thời điểm trong 30 ngày đầu sau sinh cho thấy melatonin có nhịp ngày–đêm rõ (Qin và cs., 2019). Nồng độ trung bình là 23,49 pg/mL lúc 03:00, so với 3,27 pg/mL lúc 09:00, 2,40 pg/mL lúc 15:00 và 6,81 pg/mL lúc 21:00. Đỉnh khoảng 03:00 giảm dần từ sữa non đến sữa trưởng thành.

Nghiên cứu không đo giấc ngủ của trẻ. Giả thuyết melatonin trong sữa liên quan đến giấc ngủ của trẻ chỉ là bối cảnh tác giả dẫn, chưa được kiểm chứng trong bài. Văn bản đọc được không có tuyên bố nguồn tài trợ cụ thể.

Thức đêm theo tháng tuổi và các định nghĩa "ngủ xuyên đêm"#

Thức đêm là bình thường đến đâu#

Một tổng quan hệ thống tổng hợp số lần thức đêm do cha mẹ báo cáo theo nhóm tuổi đến 2 tuổi (Galland và cs., 2012). Khoảng tham chiếu là 0–3,4 lần mỗi đêm ở trẻ 0–2 tháng, và còn 0–2,5 lần mỗi đêm ở trẻ 1–2 tuổi. Nói cách khác, thức đêm 1–2 lần ở trẻ 1–2 tuổi vẫn nằm trong khoảng tham chiếu.

Trong hai thuần tập sinh Phần Lan (CHILD-SLEEP và FinnBrain), cha mẹ báo cáo bằng Bảng hỏi giấc ngủ nhũ nhi rút gọn (Brief Infant Sleep Questionnaire, BISQ) ở 3, 6, 8, 12, 18 và 24 tháng (Paavonen và cs., 2020). Thời gian vào giấc giảm trước 6 tháng, còn giấc ngủ đêm chỉ bắt đầu liền mạch trong năm thứ hai. Kết quả này trái với niềm tin phổ biến rằng trẻ "phải" ngủ xuyên đêm trong năm đầu.

Ở Anh, khảo sát cắt ngang 756 bà mẹ có con 6–12 tháng ghi 78,1% trẻ thường thức ít nhất một lần mỗi đêm trong khoảng 20:00–06:00 (Brown và Harries, 2015). Có 59,9% trẻ được bú ít nhất một cữ đêm, và số lần thức trung bình là 1,77 (độ lệch chuẩn 1,54). Số liệu do mẹ ước tính.

Ở năm thành phố tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc, 2021), khảo sát thuận tiện tại bệnh viện cộng đồng trên 493 trẻ 12–35 tháng dùng BISQ bản tiếng Trung, phỏng vấn trực tiếp người chăm sóc (Lin và cs., 2024). 67,1% trẻ vào giấc với cha mẹ bên cạnh, 13,6% tự ngủ và 12,0% ngủ khi bú mẹ hoặc bú bình. Trẻ ngủ khi đang bú có trung bình 2,39 lần thức đêm. Khoảng 65% trẻ thức hơn một lần mỗi đêm (64,6% ở 1–2 tuổi và 67,2% ở 2–3 tuổi), dù nhãn tuổi của tỉ lệ này trong bài còn mơ hồ. Dữ liệu được thu trong đại dịch COVID-19.

"Ngủ xuyên đêm" tuỳ vào định nghĩa#

Thuần tập MAVAN ở Canada (388 trẻ) hỏi mẹ về giai đoạn ngủ liền dài nhất lúc 6 và 12 tháng (Pennestri và cs., 2018). Tuỳ định nghĩa ngủ liền 6 giờ hay 8 giờ, 27,9–57,0% trẻ 6 và 12 tháng không ngủ xuyên đêm. Liên quan giữa ngủ xuyên đêm và phát triển trí tuệ, vận động (thang Bayley II lúc 6, 12 và 36 tháng), hay khí sắc của mẹ, không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết quả này không chứng minh là không có liên quan SL. Tóm tắt không tách tỉ lệ theo từng định nghĩa và từng tuổi.

Một thuần tập ở New Zealand theo dõi 52 trẻ bằng nhật ký cha mẹ 6 ngày đêm mỗi lần, ở 1, 3, 6, 9 và 12 tháng; 54% gia đình được kiểm tra thêm bằng quay video hồng ngoại (Henderson và cs., 2020). Theo Thang Giấc ngủ Tổng hợp (Composite Sleep Scale), 56% trẻ tự điều hoà giấc ngủ lúc 6 tháng và 72% lúc 12 tháng. Có 21% trẻ chuyển từ chưa tự điều hoà sang tự điều hoà giữa 6 và 12 tháng.

Trong cùng nghiên cứu, sự có mặt của cha mẹ lúc trẻ vào giấc và số lần thức đêm ở 1 tháng tuổi phân loại đúng 94,2% trẻ tự điều hoà hay không lúc 6 tháng, và 84,6% lúc 12 tháng. Lúc 1 tháng, nhóm chưa tự điều hoà (ở 6 tháng) có cha mẹ hiện diện lúc vào giấc 4,86 đêm trên 6 đêm, so với 1,96 đêm ở nhóm còn lại (d = 1,61). Đây là liên quan quan sát và có thể theo chiều ngược: trẻ khó ngủ khiến cha mẹ phải ở bên. Mẫu nhỏ, ở một nước; 89% trẻ bú mẹ hoàn toàn lúc 1 tháng, vì vậy không phân tích được yếu tố bú. Nghiên cứu do Lotteries Health và học bổng Đại học Canterbury tài trợ.

Cha mẹ lo lắng bao nhiêu#

Con số "vấn đề giấc ngủ" ở nhũ nhi thay đổi mạnh theo cách hỏi. Ở thuần tập CHILD-SLEEP, cha mẹ lo lắng về giấc ngủ của khoảng một trong bốn trẻ, cao nhất lúc 8 tháng với 39,4% trong 1.301 trẻ (Paavonen và cs., 2020). Ở thuần tập sinh Cincinnati (Mỹ, 359 cặp mẹ–con), tỉ lệ cha mẹ báo cáo con có vấn đề giấc ngủ là 10% ở mọi thời điểm 6, 12, 24 và 36 tháng (Byars và cs., 2012). Ở Cincinnati, 21% trẻ có vấn đề giấc ngủ ở tuổi nhũ nhi vẫn còn vấn đề ở năm thứ ba, so với 6% trẻ không có vấn đề lúc nhũ nhi.

Chênh lệch giữa 10% và khoảng 25% có thể một phần do định nghĩa câu hỏi: "vấn đề giấc ngủ" do cha mẹ nhận định khác với "lo lắng" SL. Hai thuần tập cũng ở hai nước khác nhau. Lo ngại của cha mẹ không đồng nghĩa với một rối loạn giấc ngủ được chẩn đoán.

Nơi, nguồnNgười báo cáo, công cụTuổiChỉ số
Gộp nhiều nghiên cứu (Galland 2012)Cha mẹ0–2 tháng / 1–2 tuổi0–3,4 / 0–2,5 lần thức mỗi đêm
Anh (Brown và Harries 2015)Mẹ, bảng hỏi6–12 tháng78,1% thức ≥ 1 lần mỗi đêm; trung bình 1,77 lần
Canada, MAVAN (Pennestri 2018)Mẹ, giai đoạn ngủ liền dài nhất6 và 12 tháng27,9–57,0% không ngủ liền 6 hoặc 8 giờ
New Zealand (Henderson 2020)Cha mẹ ghi nhật ký; video ở 54% gia đình6 / 12 tháng56% / 72% tự điều hoà giấc ngủ
Phúc Kiến, Trung Quốc (Lin 2024)Người chăm sóc, BISQ12–35 thángKhoảng 65% thức > 1 lần mỗi đêm
Phần Lan, CHILD-SLEEP (Paavonen 2020)Cha mẹ8 tháng39,4% cha mẹ lo lắng về giấc ngủ
Cincinnati, Mỹ (Byars 2012)Mẹ, bảng hỏi6–36 tháng10% có vấn đề giấc ngủ ở mỗi thời điểm
Hà Nội, một bệnh viện (Nguyễn Thị Ngọc Trâm 2023)Người chăm sóc, BISQ mở rộngDưới 24 tháng35,3% vấn đề vừa, 4,5% nặng

Bảng 1. Thức đêm, "ngủ xuyên đêm" và vấn đề giấc ngủ theo nghiên cứu. Mọi số liệu do cha mẹ hoặc người chăm sóc báo cáo; các chỉ số khác nhau, vì vậy không xếp hạng được.

Số liệu Việt Nam ở trẻ dưới 2 tuổi#

Nghiên cứu Việt Nam duy nhất chúng tôi có ở nhóm tuổi này là khảo sát cắt ngang mô tả tại một cơ sở: Trung tâm Tiêm chủng, Bệnh viện Nhi Trung ương, tháng 1–5/2023 (Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cs., 2023). 198 trẻ dưới 24 tháng được chọn thuận tiện; người chăm sóc (97% là mẹ) trả lời BISQ mở rộng về 2 tuần qua. Tổng thời gian thức đêm trung bình là 0,51 ± 0,52 giờ. Giờ đi ngủ trung bình là 21:09, giờ dậy 07:11.

Trong mẫu, 35,3% người chăm sóc đánh giá con có vấn đề giấc ngủ mức vừa và 4,5% mức nặng. 75,3% trẻ được ăn nhẹ hoặc bú trước khi ngủ. Khi vào giấc, 54,0% có người lớn bên cạnh, 42,9% được bế hoặc đưa nôi, 3,0% tự ngủ trong phòng riêng. 69,7% trẻ ngủ ở môi trường không yên tĩnh; 54,5% tắt hết đèn và 41,4% để đèn ngủ. 76,8% có giờ đi ngủ đều đặn. Bài chỉ có thống kê mô tả, không phân tích yếu tố liên quan.

Cùng mẫu có số liệu về chỗ ngủ và tư thế ngủ (89,4% ngủ giường cha mẹ; 13,6% nằm sấp, 49,0% nằm ngửa, 37,4% nằm nghiêng); chủ đề này thuộc chương Đột tử trẻ sơ sinh và ngủ chung giường của Tập 12.

Tỉ lệ 39,8% cha mẹ coi con có vấn đề giấc ngủ (vừa cộng nặng) khác xa con số 10,1% của khảo sát Mindell 2010 ở Việt Nam, được trình bày ở Tập 12. Hai con số không đo cùng một thứ. Khảo sát 2010 dùng câu hỏi có hay không, mẫu trực tuyến, trẻ 0–36 tháng; nghiên cứu 2023 dùng thang nhiều mức, mẫu bệnh viện thuận tiện ở Hà Nội, trẻ 0–24 tháng. Trong 13 năm giữa hai khảo sát, cha mẹ cũng có thể đã tiếp xúc nhiều hơn với thông tin về giấc ngủ của trẻ SL. Không thể suy ra từ hai con số này rằng vấn đề giấc ngủ ở trẻ Việt Nam đã tăng.

Cách đo: nhật ký, actigraphy và video#

Con số "thức đêm" ở nhũ nhi phụ thuộc mạnh vào công cụ đo. Ở 90 trẻ Mỹ gốc Phi 3 tháng tuổi, nghiên cứu đối chiếu lấy quay video giấc ngủ (videosomnography) làm chuẩn, so với actigraphy và nhật ký cha mẹ (Camerota và cs., 2018). Actigraphy là thiết bị đeo ghi vận động để ước tính thức và ngủ. Cả actigraphy lẫn nhật ký đều ước lượng thời gian ngủ dài hơn và số lần thức ít hơn thực tế. Phân tích từng đoạn ghi cho thấy actigraphy có độ nhạy thấp khi phát hiện trạng thái thức.

Trong thử nghiệm Pelotas ở Brazil (586 trẻ), actigraphy cho thời lượng ngủ đêm khoảng 8,0 giờ lúc 12 tháng và 8,17–8,32 giờ lúc 24 tháng, với trung vị khoảng 2–3 lần thức đêm (Santos và cs., 2019). Actigraphy chấm "ngủ" khác nhật ký: trẻ có thể thức lặng lẽ mà không gọi cha mẹ, khoảng 0,23–0,52 giờ mỗi đêm lúc 24 tháng. Vì vậy nhật ký có thể bỏ sót những lần thức mà cha mẹ không biết, còn actigraphy có thể chấm ngủ cho những lúc trẻ nằm yên mà thức SL.

Hệ quả là các con số trong Bảng 1 không so trực tiếp được với nhau, và không so được với số đo actigraphy. Ngay trong một nghiên cứu, thay công cụ có thể đổi kết luận về một can thiệp, như được trình bày ở chương Luyện ngủ cho trẻ nhỏ: thử nghiệm nói gì.

Bú mẹ, bú bình, ăn dặm và thức đêm#

Tổng quan hệ thống#

Tổng quan hệ thống 21 nghiên cứu (6.225 trẻ dưới 12 tháng) về kiểu bú và giấc ngủ không gộp định lượng (Fu và cs., 2021). 15 nghiên cứu dùng nhật ký hoặc BISQ, 6 nghiên cứu dùng actigraphy hoặc điện não. Tóm tắt ghi trẻ bú mẹ hoàn toàn đến 6 tháng thức đêm nhiều lần hơn; phần kết quả cho thấy chỉ 3 nghiên cứu thấy vậy, còn 5 trên 7 nghiên cứu về trẻ bú mẹ nói chung không thấy khác biệt. Tuy vậy, 67% số nghiên cứu (6 trên 9 nghiên cứu về giấc 24 giờ) không thấy khác biệt thời lượng ngủ đêm hay 24 giờ so với trẻ bú sữa công thức.

Sau 6 tháng, tổng quan ghi hơn 65% số nghiên cứu báo cáo trẻ bú mẹ ngủ ít hơn ban đêm và trong 24 giờ. Theo phần bàn luận, con số này chỉ là 2 trên 3 nghiên cứu về giấc 24 giờ và 2 trên 2 nghiên cứu về giấc đêm, tức cơ sở rất mỏng. Nhóm bú được định nghĩa sau khi chọn bài, lệch với đề cương đã đăng ký. Tổng quan không có tài trợ bên ngoài và tác giả khai không có xung đột lợi ích.

Tổng quan cũng trích một ước lượng từ nghiên cứu gốc về tuổi ăn dặm. Trẻ bắt đầu ăn dặm trước 4 tháng ngủ ít hơn 24 phút lúc 12 tháng so với trẻ ăn dặm từ 4 tháng trở đi (−0,39 giờ; KTC 95% −0,67 đến −0,11). Đây là liên quan quan sát, và đoạn đọc được không nêu tên hay cỡ mẫu của nghiên cứu gốc. Chiều liên quan ngược với niềm tin rằng cho ăn dặm sớm đi kèm ngủ lâu hơn SL.

Ba nghiên cứu, ba kết quả#

Ở mẫu Anh 6–12 tháng, số lần thức đêm khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa trẻ đang bú mẹ (31,2% mẫu) và trẻ không bú mẹ (p = 0,238); số cữ bú đêm cũng vậy (p = 0,828) (Brown và Harries, 2015). Số bữa ăn dặm trong ngày gần như không tương quan với thức đêm (r = −0,038), và tương quan nghịch yếu với số cữ bú đêm (r = −0,153). Phân tích không hiệu chỉnh yếu tố nhiễu. Bản thảo có một chỗ mâu thuẫn nội bộ: mô tả "tương quan nghịch" nhưng ghi r = 0,840.

Ở thuần tập MAVAN (Canada), ngủ xuyên đêm đi kèm tỉ lệ bú mẹ thấp hơn rất nhiều (p < 0,0001) theo báo cáo của mẹ (Pennestri và cs., 2018). Chiều nhân quả không xác định được từ thiết kế quan sát.

Thuần tập GUSTO ở Singapore (654 trẻ đủ tháng, đơn thai) phân nhóm theo kiểu bú lúc 3 tháng theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, và dùng BISQ do người chăm sóc báo cáo (Abdul Jafar và cs., 2021). So với trẻ bú mẹ hoàn toàn hoặc chủ yếu, trẻ bú sữa công thức thức đêm ít hơn lúc 6, 9 và 12 tháng, khoảng 0,48–0,75 lần (lúc 9 tháng: −0,75; KTC 95% −1,03 đến −0,46). Nhưng trẻ bú sữa công thức lại ngủ đêm ngắn hơn: −0,80 giờ lúc 6 tháng, −0,77 giờ lúc 9 tháng và −0,51 giờ lúc 24 tháng. Mô hình hiệu chỉnh cân nặng sinh, học vấn và tuổi của mẹ, thu nhập, dân tộc và điểm trầm cảm sau sinh của mẹ lúc 3 tháng.

GUSTO cũng phân tích quỹ đạo giấc ngủ đêm đến 54 tháng ở khoảng 241–248 trẻ có đủ dữ liệu. Bú sữa công thức lúc 3 tháng đi kèm tỉ số chênh thấp hơn cho việc thuộc quỹ đạo ngủ đêm dài và ổn định (OR 0,18; KTC 95% 0,07–0,50), so với quỹ đạo ngủ ngắn, thay đổi. Với quỹ đạo vừa, OR là 0,28 (0,11–0,70). Ở trẻ bú mẹ một phần, khác biệt so với trẻ bú mẹ hoàn toàn không có ý nghĩa thống kê.

GUSTO nhận thêm tài trợ từ Nestec Ltd (thuộc Nestlé), với tuyên bố hãng không can thiệp thiết kế. Hai tác giả nhận phí giảng từ hãng dinh dưỡng và thuộc một liên minh nghiên cứu nhận tài trợ từ Abbott, Nestec và Danone.

Đọc mâu thuẫn#

Về số lần thức, GUSTO và tổng quan Fu 2021 cùng chiều: trẻ bú mẹ thức nhiều hơn; mẫu Anh 6–12 tháng thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Về thời lượng, hai phía ngược nhau. Fu 2021 ghi "đa số" nghiên cứu sau 6 tháng thấy trẻ bú mẹ ngủ ít hơn, nhưng "đa số" chỉ là 2 trên 3 và 2 trên 2 nghiên cứu. GUSTO lại thấy trẻ bú sữa công thức ngủ đêm ngắn hơn 0,51–0,80 giờ.

Các lý do khả dĩ gồm khung tuổi khác nhau và định nghĩa nhóm bú khác nhau (kiểu bú lúc 3 tháng hay kiểu bú hiện tại). Cha mẹ báo cáo cũng là một nguồn sai lệch: mẹ đang cho bú có thể dễ biết con thức hơn SL. Thêm vào đó là nhiễu kinh tế–xã hội, khác biệt văn hoá về ngủ chung, rất ít nghiên cứu sau 6 tháng, và tài trợ từ hãng sữa ở GUSTO SL. Dù vậy, kết quả thời lượng của GUSTO không theo chiều có lợi cho sữa công thức SL. Thức nhiều lần hơn không đồng nghĩa ngủ ít hơn, và bằng chứng hiện có không đủ để nói kiểu bú nào đi kèm tổng giấc ngủ dài hơn SL.

Ngủ ngày ở nhũ nhi#

Tổng quan hệ thống và phân tích gộp 44 bài về ngủ ngày ở trẻ 0–12 tuổi có 22 nghiên cứu ở châu Á (Staton và cs., 2020). Trước 2 tuổi, bỏ hẳn ngủ ngày rất hiếm (dưới 2,5%). Thời lượng ngủ ngày trung bình là 3,1 giờ ở trẻ dưới 12 tháng và 2,3 giờ ở trẻ 1–2 tuổi, gộp từ 4 nghiên cứu. Ngủ hai giấc mỗi ngày giảm mạnh ở 12–18 tháng. Ngủ ngày được đo bằng nhiều cách (bảng hỏi, nhật ký, actigraphy), và chỉ 3 nghiên cứu có nguy cơ sai lệch thấp.

Về thời điểm, tổng quan dẫn một nghiên cứu duy nhất dùng nhật ký qua ứng dụng do cha mẹ ghi. Ở trẻ 8–12 tháng, giấc ngủ ngày tập trung quanh 09:30 và 14:00; từ 13–34 tháng, giấc ngày dời về giữa trưa với điểm giữa khoảng 14:00. Tổng quan cũng ghi kiểu ngủ ngày trước 18 tháng có tính di truyền cao.

Ở mẫu Hà Nội, trẻ dưới 2 tuổi ngủ ngày trung bình 4,31 ± 2,51 giờ, theo người chăm sóc báo cáo (Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cs., 2023). Con số này cao hơn số gộp quốc tế, nhưng mẫu có nhiều trẻ rất nhỏ (18,2% ở 0–2 tháng và 18,2% ở 3–5 tháng) và cách hỏi khác SL. Ngủ trưa ở tuổi mẫu giáo được trình bày ở chương Ngủ trưa ở trẻ mẫu giáo và ở trường mầm non Việt Nam.

Trẻ sinh non: tuổi hiệu chỉnh, ánh sáng ở đơn vị sơ sinh#

Nhịp nội tiết theo tuổi hiệu chỉnh#

Trong nghiên cứu của Kennaway, trẻ sinh non (sớm trung bình 51 ± 4 ngày) xuất hiện nhịp melatonin niệu chậm khoảng 9 tuần so với trẻ đủ tháng (Kennaway và cs., 1992). Sau khi hiệu chỉnh theo tuổi thai, độ chậm chỉ còn 2–3 tuần.

Ở Thuỵ Điển, 51 trẻ sinh non (23+2 đến 31+6 tuần) được so với 130 trẻ đủ tháng; cha mẹ lấy mẫu nước bọt đo cortisol hằng tháng, từ đơn vị sơ sinh rồi tại nhà (Ivars và cs., 2017). Nhịp cortisol ngày–đêm hình thành vào khoảng 1 tháng tuổi hiệu chỉnh và duy trì suốt năm đầu. Sự hình thành phụ thuộc vào tuổi thai chứ không phải tuổi sau sinh, và không tương quan với mức đều đặn hành vi. Chỉ số tối/sáng là 0,722 ở nhóm dưới 28 tuần, 0,642 ở nhóm 28–32 tuần và 0,563 ở trẻ đủ tháng. Nghiên cứu không đo giấc ngủ, và nhóm sinh non là mẫu thuận tiện.

Hai nghiên cứu, một về melatonin, một về cortisol, cùng chiều: nhịp nội tiết của trẻ sinh non bám theo tuổi hiệu chỉnh hơn tuổi thực SL.

Trong nghiên cứu sữa mẹ ở Trung Quốc, đỉnh melatonin lúc 03:00 trong sữa non của mẹ sinh non cao hơn mẹ sinh đủ tháng (28,67 so với 25,31 pg/mL; p = 0,022) (Qin và cs., 2019). Ở sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành, khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Thời lượng ngủ theo tuổi thai#

Phân tích ba thuần tập dựa dân số (Generation R ở Hà Lan, GUSTO ở Singapore, MAVAN ở Canada) dùng thời lượng ngủ do cha mẹ báo cáo bằng BISQ ở 3, 6, 24 và 36 tháng (Luijk và cs., 2019). Gộp theo hiệu ứng cố định, mỗi độ lệch chuẩn tuổi thai lớn hơn đi kèm tổng thời gian ngủ ít hơn 0,11 giờ (KTC 95% −0,15 đến −0,06). Nói cách khác, trẻ sinh sớm hơn ngủ nhiều hơn một chút, kể cả trong nhóm sinh đủ tháng. Riêng GUSTO và MAVAN không có ý nghĩa thống kê.

Trong Generation R (5.637–6.471 trẻ), trẻ sinh non (dưới 37 tuần) ngủ nhiều hơn trẻ đủ tháng 0,26 giờ mỗi 24 giờ (KTC 95% 0,09–0,42), còn trẻ sinh già tháng ngủ ít hơn 0,15 giờ (−0,28 đến −0,03). Tương tác giữa tuổi thai và thời gian chủ yếu do trẻ sinh non lúc 3 và 6 tháng, gợi ý trẻ sinh non "ngủ bù" trong năm đầu. Phần đọc được không cho biết thời lượng được tính theo tuổi thực hay tuổi hiệu chỉnh. Nghiên cứu nhận tài trợ từ ZonMw, Liên minh châu Âu và Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Quốc gia Singapore; mục xung đột lợi ích ghi "không có tài trợ", mâu thuẫn với mục tài trợ.

Ánh sáng ở đơn vị sơ sinh#

Tổng quan Cochrane gồm 9 thử nghiệm ngẫu nhiên hoặc bán ngẫu nhiên với 544 trẻ sinh non so sánh chiếu sáng theo chu kỳ (cycled light) với các chế độ khác (Morag và Ohlsson, 2016). So với gần như tối hoàn toàn, chiếu sáng theo chu kỳ đi kèm thời gian nằm viện ngắn hơn 13 ngày (KTC 95% −23 đến −2; 2 nghiên cứu, 77 trẻ). So với sáng liên tục, thời gian nằm viện ngắn hơn 16,5 ngày (−26,2 đến −6,8). Độ chắc chắn của bằng chứng là thấp, và không làm mù được người chăm sóc.

Kết cục giấc ngủ chỉ đến từ thử nghiệm đơn lẻ. Một thử nghiệm (41 trẻ) ghi trẻ nhóm chiếu sáng chu kỳ thức ít giờ hơn trong 24 giờ lúc 3 tháng so với nhóm sáng liên tục (p < 0,005, không có KTC). Một thử nghiệm khác (37 trẻ) ghi khóc ít hơn 0,57 giờ mỗi 24 giờ lúc 11 tuần tuổi hiệu chỉnh so với nhóm gần tối hoàn toàn (−1,09 đến −0,05). Không thử nghiệm nào báo cáo cân nặng lúc 3 hay 6 tháng.

Thử nghiệm ngẫu nhiên ở Bệnh viện Đại học Hokkaido (Nhật) hỏi một câu khác (Kaneshi và cs., 2016). 42 trẻ sinh non (dưới 36 tuần) được chia đều hai nhánh, trên nền chiếu sáng 15 giờ sáng và 9 giờ tối. Khi chăm sóc ban đêm, một nhánh dùng đèn điốt phát quang (light-emitting diode, LED) đỏ (725 nm, khoảng 21 lux), nhánh kia đèn LED trắng (khoảng 3.480 lux). Từ 35 đến 40 tuần tuổi thai, khác biệt giữa hai loại đèn về tỉ số hoạt động ngày–đêm, khóc đêm hay tăng cân không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Hoạt động được đo bằng actigraphy ở cổ chân, khóc đêm theo hồ sơ điều dưỡng, không đo bằng đa ký giấc ngủ. Nghiên cứu do Bộ Giáo dục, Văn hoá, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật cùng hai quỹ khoa học tài trợ; tác giả khai không xung đột lợi ích.

Hai kết quả không hẳn mâu thuẫn. Cochrane so chu kỳ sáng–tối nền với bóng tối hay ánh sáng liên tục, còn thử nghiệm Hokkaido so loại ánh sáng ngắn khi chăm sóc trên một nền đã có chu kỳ 15:9. Kết cục chính của tổng quan Cochrane là thời gian nằm viện, còn thử nghiệm Hokkaido đo hoạt động và khóc; cả hai đều không đo giấc ngủ bằng đa ký giấc ngủ SL.

Một phân tích gộp năm 2024 về can thiệp không dùng thuốc cho giấc ngủ trẻ sinh non chỉ gộp được 5 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial, RCT) (Bilgiç và cs., 2024). Các can thiệp rất khác nhau: võng, tư thế, âm nhạc, xoa bóp, tiếng ồn trắng và cả chế độ ăn giàu đạm. Hiệu ứng chuẩn hoá là −1,56 (KTC 95% −3,11 đến 0,00; p = 0,05), tức đúng ranh giới ý nghĩa. Bài có mâu thuẫn nội bộ về cỡ mẫu (277 so với 238 trẻ) và về nhóm cân nặng hưởng lợi, không báo cáo độ dị biệt hay mức chắc chắn. Thử nghiệm võng cho trẻ sinh non ở Brasília đã có ở chương Võng, quấn trẻ, vợ chồng ngủ chung và người cao tuổi của Tập 12.

Độ chắc chắn của các kết luận chính#

Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.

Câu hỏiMức chắc chắn
Trẻ bú mẹ có thức đêm nhiều lần hơn trẻ bú sữa công thức?Thấp
Trẻ bú mẹ có ngủ tổng thời gian ít hơn trẻ bú sữa công thức?Rất thấp
Ở trẻ sinh non, chiếu sáng theo chu kỳ ngày–đêm có đi kèm thời gian nằm viện ngắn hơn?Thấp

Điều chưa biết#

  • Định nghĩa "ngủ xuyên đêm" theo từng tuổi. Chưa đọc được bảng số lần thức đêm và tỉ lệ ngủ xuyên đêm theo từng tháng tuổi của hai thuần tập Phần Lan; chưa tách được tỉ lệ theo định nghĩa 6 giờ và 8 giờ ở từng tuổi trong thuần tập MAVAN. Nghiên cứu gốc về định nghĩa ngủ xuyên đêm của Henderson năm 2010 chưa mở được.
  • "Khủng hoảng giấc ngủ 4 tháng". Khái niệm này phổ biến trên mạng; chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu gốc đo hiện tượng này.
  • Ánh sáng và nhịp ở trẻ đủ tháng. Nghiên cứu gốc về ánh sáng buổi chiều và giấc ngủ đêm ở trẻ 6–12 tuần chưa đọc được. Chúng tôi chưa tìm được dữ liệu đa ký giấc ngủ chuẩn tham chiếu theo tháng tuổi ngoài một tổng quan tường thuật.
  • Trẻ sinh non sau xuất viện. Thiếu số liệu thời lượng ngủ đo khách quan sau xuất viện; tổng quan Visser 2021 về giấc ngủ trẻ sinh non chưa đọc được.
  • Bú và giấc ngủ sau 6 tháng. Cơ sở cho nhận định trẻ bú mẹ ngủ ít hơn sau 6 tháng chỉ gồm vài nghiên cứu; chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu đo khách quan đủ lớn so sánh các kiểu bú.
  • Việt Nam. Chỉ có một nghiên cứu mô tả ở trung tâm tiêm chủng Bệnh viện Nhi Trung ương. Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu Việt Nam đo giấc ngủ trẻ dưới 2 tuổi bằng actigraphy, nghiên cứu ở trẻ sinh non, hay nghiên cứu về ánh sáng ở đơn vị sơ sinh trong nước.

Viết tắt trong trang

GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
KTC
khoảng tin cậy (confidence interval, CI)
OR
tỉ số chênh (odds ratio)
RCT
thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Năm đầu đời: nhịp ngày–đêm, thức đêm và "ngủ xuyên đêm". Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/giac-ngu-nam-dau-doi/