giacngungon.vnChuyên trang khoa học giấc ngủ

Ngủ trưa ở trẻ mẫu giáo và ở trường mầm non Việt Nam

Chương 4 Ban biên tập giacngungon.vn · cách biên soạn Khoảng 18 phút đọc

Trong trang này

Chương này hỏi: trẻ mẫu giáo thôi ngủ trưa ở tuổi nào, giấc trưa đi kèm gì với giấc ngủ đêm và trí nhớ, và giấc trưa ở trường mầm non Việt Nam được quy định, được đo đến đâu. Câu trả lời ngắn là không có một "tuổi chuẩn" bỏ ngủ trưa. Số liệu gộp quốc tế cho thấy phần lớn trẻ đã thôi ngủ trưa sau 5 tuổi, nhưng ở các nước chủ yếu châu Á, đa số trẻ 5 tuổi vẫn ngủ trưa. Bằng chứng nhất quán nhất là giấc trưa đi kèm vào giấc đêm muộn hơn và giấc đêm ngắn hơn, còn lợi ích cho trí nhớ chỉ đến từ thực nghiệm nhỏ. Ở Việt Nam, Chương trình giáo dục mầm non dành 140–150 phút cho giấc ngủ trưa. Nghiên cứu duy nhất chúng tôi có đo khách quan giấc ngủ trẻ mẫu giáo Việt Nam, ở trẻ 4 tuổi TP.HCM, thấy trẻ vào giấc đêm muộn. Nhưng chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào kiểm định giấc trưa dài ở trường và giờ vào giấc đêm muộn có liên quan với nhau hay không.

Thời lượng ngủ khuyến nghị theo tuổi được trình bày ở chương Trẻ cần ngủ bao nhiêu: khuyến nghị và nền bằng chứng. Giấc ngủ trưa ở người lớn và ở nhà trẻ Việt Nam đã có trong chương Ngủ trưa: ai ngủ, ngủ bao lâu, và giấc ngắn làm gì của Tập 12; chương này chỉ bàn trẻ 3–6 tuổi.

Tuổi bỏ ngủ trưa: số gộp quốc tế và trẻ châu Á#

Phân tích gộp Staton 2020#

Tổng quan hệ thống và phân tích gộp về kiểu ngủ trưa ở trẻ 0–12 tuổi gồm 44 bài: 24 thuần tập dọc và 20 nghiên cứu cắt ngang lặp lại (Staton và cs., 2020). Các bài đến từ châu Âu (13), Bắc Mỹ (15), châu Á (22) và châu Úc (10); một số bài thuộc nhiều vùng. Ngủ trưa chủ yếu do cha mẹ báo cáo qua bảng hỏi hay nhật ký. Chỉ 4 nghiên cứu đo khách quan: một nghiên cứu dùng đa ký giấc ngủ (polysomnography, PSG) và ba nghiên cứu dùng gia tốc kế.

Theo ước lượng gộp, dưới 2,5% trẻ bỏ ngủ trưa trước 24 tháng tuổi. Khoảng 33% trẻ 3 tuổi đã bỏ, khoảng 57% ở 36–48 tháng, khoảng 80% ở 48–60 tháng và khoảng 94% sau 60 tháng. Đọc riêng con số cuối thì có vẻ như gần như mọi trẻ đã thôi ngủ trưa khi vào lớp 1.

Nhưng chính bài gộp cho thấy chênh lệch rất rộng giữa các nghiên cứu. Ở 36 tháng, tỉ lệ đã bỏ ngủ trưa dao động 4,8–65%; ở 48 tháng 26,5–78,2%; ở 60 tháng 36,9–96%. Vì đo lường quá khác nhau, nhóm tác giả không gộp được toàn bộ tỉ lệ hiện mắc. Phần lớn nghiên cứu có nguy cơ sai lệch trung bình (45,4%) hoặc cao (47,7%), chỉ 3 nghiên cứu có nguy cơ thấp. Tổng quan do học bổng của Hội đồng Nghiên cứu Y tế và Y khoa Quốc gia Úc (National Health and Medical Research Council, NHMRC) tài trợ; tác giả khai không có xung đột lợi ích.

Độ dài giấc trưa ở trẻ còn ngủ trưa giảm khoảng một nửa trong 5 năm đầu, từ khoảng 3,1 giờ ở trẻ dưới 12 tháng. Con số là khoảng 1,9 giờ ở 2–3 tuổi, 1,7 giờ ở 3–4 tuổi, 1,5 giờ ở 4–5 tuổi và 1,1 giờ sau 5 tuổi. Các con số độ dài này chỉ dựa trên 4 nghiên cứu đủ điều kiện, vì vậy nền dữ liệu rất mỏng. Lúc 30 tháng, 17,1% trẻ vẫn ngủ hai giấc ban ngày.

Khảo sát Mindell 2013 ở trẻ mẫu giáo châu Á#

Một khảo sát trực tuyến cắt ngang (2/2011–3/2012) hỏi các bà mẹ về giấc ngủ của 2.590 trẻ 3–6 tuổi trong 2 tuần trước đó (Mindell và cs., 2013). Mẫu gồm 1.447 trẻ ở nhóm nước chủ yếu châu Á và 1.139 trẻ ở nhóm nước chủ yếu người da trắng (Úc–New Zealand, Canada, Anh, Mỹ). Tóm tắt bài không liệt kê Việt Nam trong nhóm nước châu Á. Không có đo khách quan.

Theo mẹ báo cáo, ở 5 tuổi, 60,7% trẻ ở nhóm nước châu Á vẫn ngủ trưa, so với 6,8% ở nhóm nước da trắng. Tính chung 3–6 tuổi, tỉ lệ là 76,8% so với 29,1%.

Khảo sát được Hiệp hội Giấc ngủ Nhi khoa châu Á–Thái Bình Dương (APPSA) và Johnson & Johnson Consumer tài trợ. Một tác giả là nhân viên của Johnson & Johnson, ba tác giả là tư vấn hoặc diễn giả cho hãng. Mẫu nghiêng về gia đình thành thị có học vấn cao.

Hai bức tranh, một câu hỏi#

Hai nguồn trên cho hai bức tranh khác nhau về trẻ 5 tuổi: khoảng 94% đã bỏ ngủ trưa theo số gộp, trong khi 60,7% trẻ 5 tuổi ở nhóm nước châu Á vẫn ngủ trưa. Các lý do khả dĩ gồm văn hoá và lịch ngủ trưa bắt buộc ở trường, nhà trẻ châu Á. Thêm vào đó là giờ đi ngủ tối muộn hơn được bù bằng giấc trưa, và định nghĩa "ngủ trưa", "bỏ ngủ trưa" khác nhau giữa các nghiên cứu. Cả hai nguồn đều dựa trên báo cáo của cha mẹ.

Hai con số không loại trừ nhau. Staton 2020 gộp nhiều nghiên cứu phương Tây và châu Á với định nghĩa khác nhau, còn Mindell 2013 tách hẳn hai nhóm văn hoá. Từ đó, không có "tuổi chuẩn" bỏ ngủ trưa nào áp dụng được cho trẻ Việt Nam.

NguồnThiết kế, ai báo cáoTuổiTỉ lệ đã bỏ hoặc còn ngủ trưa
Staton 2020Phân tích gộp 44 bài; chủ yếu cha mẹ báo cáo36–48 thángKhoảng 57% đã bỏ (dao động 4,8–65% ở 36 tháng)
Staton 2020Như trên48–60 thángKhoảng 80% đã bỏ (gộp cả dải tuổi; các nghiên cứu đơn lẻ ở đúng 48 tháng: 26,5–78,2%)
Staton 2020Như trênTrên 60 thángKhoảng 94% đã bỏ (dao động 36,9–96% ở 60 tháng)
Mindell 2013, nhóm nước châu ÁKhảo sát trực tuyến; mẹ báo cáo5 tuổi60,7% còn ngủ trưa
Mindell 2013, nhóm nước da trắngNhư trên5 tuổi6,8% còn ngủ trưa
Mindell 2013, hai nhómNhư trên3–6 tuổi76,8% so với 29,1% còn ngủ trưa

Giờ đi ngủ, giấc đêm và chỗ ngủ của trẻ mẫu giáo châu Á#

Cùng khảo sát Mindell 2013 cho thấy trẻ 3–6 tuổi ở nhóm nước châu Á đi ngủ lúc khoảng 21:51, so với khoảng 20:09 ở nhóm nước da trắng. Giấc đêm do mẹ báo cáo là 9,44 giờ so với 10,54 giờ. Ngược lại, ngủ ngày là 1,58 giờ so với 0,52 giờ. Tổng giấc ngủ 24 giờ vì thế gần như bằng nhau: 11,03 giờ so với 11,06 giờ.

Kết quả này cho thấy so sánh chỉ giấc ngủ đêm có thể dẫn tới thông điệp "trẻ châu Á ngủ thiếu", trong khi phần thiếu ở đêm được bù bằng giấc trưa SL. Điều chưa rõ là giấc ngủ chia hai đoạn như vậy có tương đương với giấc ngủ đêm liền một khối hay không, vì khảo sát không đo kết cục sức khoẻ SL.

Giữa các nước, giờ đi ngủ trung bình chênh gần 3 giờ: sớm nhất khoảng 19:43 và muộn nhất 22:26 ở Ấn Độ. Bài tự mâu thuẫn về nước có giờ ngủ sớm nhất: phần chữ ghi Úc–New Zealand, còn Bảng 2 ghi Anh. Giấc đêm dao động từ 8,96 giờ (Ấn Độ) đến 10,88 giờ (Anh). Tổng 24 giờ dao động từ 10,71 giờ (Ấn Độ) đến 11,65 giờ (Philippines).

Theo tuổi, tổng giấc ngủ 24 giờ kể cả ngủ trưa giảm từ 11,32 giờ ở 3 tuổi xuống 10,64 giờ ở 5 tuổi. Tỉ lệ mẹ cho rằng con có vấn đề giấc ngủ là 24,2% ở nhóm nước châu Á và 18,4% ở nhóm nước da trắng. Giữa các nước, tỉ lệ này dao động từ 15,1% (Hàn Quốc) đến 43,7% (Trung Quốc). Đây là nhận định của mẹ, không phải chẩn đoán.

Chỗ ngủ cũng khác hẳn. Ở nhóm nước châu Á, 10,1% trẻ 3–6 tuổi ngủ phòng riêng và 28,1% ngủ giường riêng; ở nhóm nước da trắng, hai tỉ lệ là 79,5% và 90,6%. Khác biệt này mô tả tập quán, không phải thước đo tốt xấu. Ngủ chung ở trẻ dưới 3 tuổi được trình bày ở chương Ngủ chung cha mẹ và con của Tập 12; ngủ an toàn và đột tử trẻ sơ sinh chỉ được bàn ở Tập 12.

Chỉ số (mẹ báo cáo, 3–6 tuổi)Nhóm nước chủ yếu châu ÁNhóm nước chủ yếu da trắng
Giờ đi ngủKhoảng 21:51Khoảng 20:09
Ngủ đêm9,44 giờ10,54 giờ
Ngủ ngày1,58 giờ0,52 giờ
Tổng 24 giờ11,03 giờ11,06 giờ
Còn ngủ trưa lúc 5 tuổi60,7%6,8%
Ngủ phòng riêng10,1%79,5%
Ngủ giường riêng28,1%90,6%
Mẹ cho rằng con có vấn đề giấc ngủ24,2%18,4%

Ngủ trưa và giấc ngủ đêm#

Tổng quan hệ thống 26 bài về ngủ trưa ở trẻ 0–5 tuổi theo hướng dẫn báo cáo tổng quan hệ thống (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses, PRISMA). Tổng quan chấm độ chắc chắn bằng khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) (Thorpe và cs., 2015). Toàn bộ 26 bài là nghiên cứu quan sát, ngủ trưa phần lớn do cha mẹ báo cáo, và độ chắc chắn theo GRADE là thấp. Phát hiện nhất quán nhất là ngủ trưa đi kèm vào giấc đêm muộn hơn và ngủ đêm ngắn hơn, rõ nhất sau 2 tuổi. Bằng chứng về hành vi, sức khoẻ và nhận thức kém chắc chắn hơn. Chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt.

Quan hệ có thể đi theo hai chiều: trẻ ngủ đêm kém có thể bù bằng ngủ trưa, chứ không chỉ giấc trưa làm giấc đêm ngắn đi. Dữ liệu quan sát không tách được hai chiều này SL.

Một thuần tập ở các trung tâm giữ trẻ tại Úc quan sát 168 trẻ 50–72 tháng tuổi (55% nam) trong buổi sáng và giờ ngủ trưa (Staton và cs., 2015). Giấc ngủ đêm do cha mẹ báo cáo, lúc trẻ ở nhà trẻ và 12 tháng sau, ở học kỳ 2 năm đầu tiểu học. Trẻ có giờ ngủ trưa bắt buộc dài hơn 60 phút đi kèm ngủ đêm ít hơn có ý nghĩa so với trẻ có 0–60 phút. Khác biệt còn thấy khi trẻ đã vào lớp 1, và việc trẻ thực sự ngủ ở nhà trẻ là yếu tố trung gian.

Tóm tắt không cho số phút chênh, và chúng tôi chưa đọc được toàn văn. Đây là liên quan quan sát: trung tâm có giờ ngủ trưa dài có thể khác về nhiều mặt khác. Nghiên cứu Úc là bằng chứng gần nhất mà chúng tôi có về lịch ngủ trưa cố định ở nơi giữ trẻ; bối cảnh đó khác trường mầm non Việt Nam, nơi giấc trưa được quy định trong chương trình SL.

Ngủ trưa và trí nhớ: một thực nghiệm chéo#

Bằng chứng thực nghiệm về ngủ trưa và trí nhớ ở trẻ mẫu giáo chủ yếu đến từ một thực nghiệm chéo ở Mỹ (Kurdziel và cs., 2013). Mỗi trẻ trải qua một buổi được ngủ trưa và một buổi bị giữ thức, thứ tự đối trọng, cách nhau 1–3 tuần. Nhiệm vụ là nhớ vị trí 9 hoặc 12 thẻ hình, học đến khi đạt 75% đúng. Thời gian ngủ trưa ở lớp do nhà nghiên cứu ghi, và một nhóm phụ 14 trẻ được đo PSG.

Nghiên cứu tuyển 77 trẻ từ 6 lớp mẫu giáo, nhưng chỉ 40 trẻ được phân tích, trong đó 31 trẻ nữ. Tuổi trung bình là 49,76 tháng (36–67 tháng). Sau buổi được ngủ trưa, trẻ nhớ được khoảng 10% vị trí nhiều hơn so với buổi bị giữ thức (t(38) = 2,837; p = 0,007). Khoảng chênh vẫn còn sáng hôm sau (t(22) = 2,824; p = 0,01), tức giấc ngủ đêm không bù lại phần mất do không ngủ trưa.

Lợi ích chỉ thấy ở 17 trẻ quen ngủ trưa (≥ 5 lần/tuần; t(16) = 2,561; p = 0,021). Ở 10 trẻ hiếm khi ngủ trưa (< 2 lần/tuần), khác biệt không có ý nghĩa thống kê (t(9) = 0,347; p = 0,736). Ở 14 trẻ đo PSG (tuổi trung bình 49,83 tháng), mật độ thoi ngủ (sleep spindle) tương quan thuận với mức thay đổi trí nhớ qua giấc trưa (r = 0,647; p = 0,012).

Các giới hạn rất rõ. Mẫu nhỏ, lệch giới (31/40 trẻ nữ) và chỉ ở một vùng của Mỹ. Các phân nhóm quen và không quen ngủ trưa rất nhỏ. Mật độ thoi ngủ cũng tương quan với điểm nhớ ban đầu, vì vậy hai hiệu ứng chưa tách hẳn. Kết cục là nhiệm vụ trí nhớ trong phòng, không phải kết quả học tập dài hạn. Nghiên cứu do Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (National Institutes of Health, NIH) và quỹ của trường tài trợ.

Từ kết quả này, nhóm biên tập đặt giả thuyết rằng việc cho mọi trẻ cùng ngủ trưa và việc bỏ ngủ trưa có thể tác động khác nhau theo giai đoạn phát triển SL. Với một thực nghiệm 40 trẻ, đây chỉ là giả thuyết; nó không cho biết giấc trưa dài bao nhiêu là đủ, hay trẻ không quen ngủ trưa có lợi gì khi nằm nghỉ ở lớp SL. Một phân tích gộp năm 2025 về ngủ trưa và củng cố trí nhớ ở trẻ nhỏ đã được tìm thấy nhưng chúng tôi chưa mở được tóm tắt.

Ngủ trưa ở trường mầm non Việt Nam: văn bản và số đo#

Chương trình giáo dục mầm non#

Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BGDĐT ngày 13/04/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hợp nhất các thông tư về Chương trình giáo dục mầm non: Thông tư 17/2009, 28/2016 và 51/2020 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021). Chương trình áp dụng toàn quốc cho trẻ mẫu giáo 3–6 tuổi, thiết kế 35 tuần, mỗi tuần 5 ngày. Văn bản quy định trẻ mẫu giáo được tổ chức ngủ một giấc buổi trưa khoảng 150 phút.

Trong bảng chế độ sinh hoạt cho trẻ mẫu giáo, dòng "Ngủ" được dành 140–150 phút, là khoảng thời gian dài nhất trong ngày ở trường. Để so sánh, "Học" được 30–40 phút, "Chơi ngoài trời" 30–40 phút và "Ăn bữa chính" 60–70 phút. Dòng "Ngủ" có chú thích cho thấy đã được sửa bởi một thông tư sửa đổi.

Chúng tôi đọc văn bản qua trang caselaw.vn, không phải cổng chính thức, và chưa xác minh tình trạng hiệu lực trên cổng chính thức. Một văn bản hợp nhất tháng 7/2026 (Thông tư 49/2020 sửa bởi Thông tư 51/2026) chỉ quy định chuẩn và quy trình xây dựng chương trình, không có quy định về ngủ. Phần nhà trẻ của cùng chương trình đã được dùng ở Tập 12.

Giấc ngủ xuất hiện ở nhiều chỗ trong phần mẫu giáo của Chương trình. Đó là tổ chức ngủ trưa, "Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân", khu vực bố trí chỗ ngủ trong lớp, và ba mục nội dung hay kết quả mong đợi theo tuổi. Trẻ 3–4 tuổi "Thể hiện bằng lời nói về nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh"; trẻ 4–5 tuổi "giờ ngủ không làm ồn"; trẻ 5–6 tuổi vệ sinh răng miệng "trước khi đi ngủ, sáng ngủ dậy". Vị trí độ tuổi của các mục này được suy từ bố cục bảng sau khi trích xuất văn bản. Chương trình không có mục giáo dục riêng về nhu cầu hay thói quen ngủ của trẻ.

Ở bậc phổ thông, Công văn 4567/BGDĐT-GDPT ngày 05/08/2025 về dạy học 2 buổi/ngày năm học 2025–2026 yêu cầu nhà trường xây dựng phương án ăn trưa, nghỉ trưa phù hợp điều kiện thực tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Văn bản không định lượng thời gian nghỉ trưa và không nhắc tới ngủ trưa. Như vậy, trong các văn bản chúng tôi đọc được, giấc trưa chỉ được định lượng ở bậc mầm non. Văn bản đọc qua luatvietnam.vn.

Tiêu chuẩn phòng ngủ ở trường mầm non#

Tiêu chuẩn quốc gia 3907:2011 (TCVN 3907:2011) "Trường mầm non – Yêu cầu thiết kế" quy định phòng ngủ có diện tích 1,20–1,50 m²/trẻ (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2011). Phòng không nhỏ hơn 18 m² với nhóm trẻ và 30 m² với lớp mẫu giáo. Riêng lớp mẫu giáo được gộp phòng sinh hoạt chung với phòng ngủ nếu đạt tối thiểu 1,50 m²/trẻ, và phòng gộp không nhỏ hơn 80% tổng diện tích hai phòng. Phòng xếp đệm, chiếu là 10–12 m², tỉ lệ cửa sổ trên sàn phòng ngủ là 1/6.

Tiêu chuẩn yêu cầu phòng ngủ "yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông", nhưng không nêu mức ồn (dB) hay nhiệt độ cụ thể. Đệm, chiếu là trang bị được nêu; tiêu chuẩn không quy định giường hay sạp. TCVN là tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng, trừ khi được viện dẫn trong quy chuẩn. Bản chúng tôi đọc là bản sao do một doanh nghiệp chiếu sáng đăng, không phải cổng chính thức.

Bộ Xây dựng đăng dự thảo tiêu chuẩn thay thế để lấy ý kiến năm 2025 (Bộ Xây dựng, 2025). Dự thảo giữ mức tối thiểu 1,20 m²/trẻ cho phòng ngủ và bỏ cận trên 1,50 m²/trẻ. Dự thảo vẫn chỉ cho lớp mẫu giáo gộp phòng ngủ với phòng sinh hoạt chung, đặt hệ số chiếu sáng tự nhiên trung bình tối thiểu 1,5% cho phòng ngủ, và yêu cầu phòng học, phòng ngủ có giải pháp cách âm tốt. Dự thảo cũng không nêu mức dB hay nhiệt độ cho phòng ngủ trưa. Văn bản chưa có số hiệu, và chúng tôi chưa xác minh được đã ban hành hay chưa.

Văn bảnCơ quan, ngàyNội dung liên quan giấc ngủTình trạng kiểm được
Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BGDĐTBộ Giáo dục và Đào tạo, 13/04/2021Mẫu giáo ngủ một giấc trưa khoảng 150 phút; bảng sinh hoạt 140–150 phútĐọc qua caselaw.vn; chưa xác minh hiệu lực trên cổng chính thức
Công văn 4567/BGDĐT-GDPTBộ Giáo dục và Đào tạo, 05/08/2025Phổ thông: nhà trường tự xây dựng phương án nghỉ trưa; không nhắc ngủ trưaĐọc qua luatvietnam.vn
TCVN 3907:2011Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, 2011Phòng ngủ 1,20–1,50 m²/trẻ; không có mức dB, nhiệt độBản sao của doanh nghiệp; tiêu chuẩn tự nguyện
Dự thảo thay thế TCVN 3907:2011Bộ Xây dựng, 2025Tối thiểu 1,20 m²/trẻ; chiếu sáng tự nhiên tối thiểu 1,5%; cách âm tốt, không có mức dBDự thảo, chưa có số hiệu

Trẻ 4 tuổi ở TP.HCM: giấc đêm đo bằng gia tốc kế#

Nghiên cứu thí điểm cắt ngang ở 4 trường mầm non TP.HCM (2 nội thành, 2 ngoại thành; 2019) là nguồn duy nhất chúng tôi có đo khách quan giấc ngủ trẻ mẫu giáo Việt Nam (Nguyễn Thị Đan Thanh và cs., 2024). Các trường được chọn thuận tiện qua Sở Giáo dục và Đào tạo. Trẻ 48–60 tháng tuổi đeo gia tốc kế ActiGraph GT3X ở hông trái tối đa 4 đêm ngày thường; thuật toán Sadeh, mỗi đoạn ghi 15 giây. Cha mẹ trả lời bảng hỏi về giờ ngủ, giờ dậy, ngủ ngày và thiết bị điện tử.

Có 103–105 trẻ đồng ý tham gia, nhưng chỉ 46 trẻ (43,8%) có ít nhất một đêm dữ liệu hợp lệ, và 59% trong số đó chỉ có một đêm. Theo cha mẹ báo cáo, 61% trẻ đi ngủ từ 22:00 trở đi: 50% lúc 22:00–22:59 và 11% từ 23:00 trở đi. Chỉ 7% đi ngủ trước 21 giờ.

Theo gia tốc kế, giờ vào giấc trung bình là 22:06 (độ lệch chuẩn 44 phút). Thời gian từ lúc lên giường đến lúc vào giấc có trung vị 30,75 phút. Giấc ngủ đêm là 505 ± 46 phút, hiệu quả giấc ngủ 92,5 ± 6,0%. Thời gian thức sau khi đã vào giấc (wake after sleep onset, WASO) có trung vị 44,25 phút.

Bài ghi tổng thời gian ngủ không thống nhất: 8 giờ 35 phút ở phần tóm tắt, nhưng 505 phút, tức khoảng 8 giờ 25 phút, ở phần kết quả. Chúng tôi dùng số trong phần kết quả. Gia tốc kế đeo hông với thuật toán Sadeh, vốn xây dựng cho thiết bị đeo cổ tay, có thể sai lệch. Nghiên cứu không có nhật ký đeo máy, và chỉ đo giấc đêm; ngủ trưa ở trường không được đo khách quan.

Cũng theo cha mẹ, 63% trẻ ngủ ngày 2–3 giờ và 11% từ 3 giờ trở lên; 24% ngủ ngày 1–2 giờ và 2% dưới 1 giờ. Về giấc đêm, cha mẹ báo cáo chỉ 17% trẻ ngủ trên 9 giờ. Khoảng 28% ngủ dưới 8 giờ: 13% dưới 7,5 giờ và 15% ở mức 7,5–8 giờ. Có 87% trẻ (40/46) dùng thiết bị điện tử trong vòng 2 giờ trước khi ngủ hoặc có thiết bị trong phòng ngủ. Cùng mẫu thí điểm này đã được dùng ở Tập 12; ở đây chúng tôi lấy số đo gia tốc kế và giờ ngủ chưa dùng.

Chỉ số, trẻ 4 tuổi TP.HCMAi báo cáo, công cụKết quả
Đi ngủ sau 22 giờCha mẹ61%
Đi ngủ trước 21 giờCha mẹ7%
Ngủ ngày 2–3 giờ; từ 3 giờ trở lênCha mẹ63%; 11%
Giờ vào giấc đêmGia tốc kế đeo hông, 46 trẻ22:06
Giấc ngủ đêmGia tốc kế505 ± 46 phút
Hiệu quả giấc ngủGia tốc kế92,5 ± 6,0%
Dùng hoặc có thiết bị điện tử quanh giờ ngủCha mẹ87%

Giấc trưa theo quy định và giấc đêm đo được#

Đặt cạnh nhau, văn bản và số đo cho một bức tranh nhất quán về mặt mô tả. Chương trình dành 140–150 phút ngủ trưa mỗi ngày. Ở trẻ 4 tuổi TP.HCM, cha mẹ báo cáo 63% ngủ ngày 2–3 giờ, 11% từ 3 giờ trở lên và 61% đi ngủ sau 22 giờ; giấc đêm đo bằng gia tốc kế khoảng 8 giờ 25 phút. Bức tranh này cũng khớp với kiểu "ngủ đêm ít, ngủ trưa nhiều" mà Mindell 2013 mô tả ở nhóm nước châu Á SL.

Đây không phải mâu thuẫn số liệu, mà là một câu hỏi chưa được kiểm định ở Việt Nam. Bài TP.HCM không phân tích quan hệ giữa ngủ trưa và giờ đi ngủ, mẫu chỉ có 46 trẻ, và ngủ trưa chỉ do cha mẹ ước. Các tổng quan quốc tế cho thấy giấc trưa đi kèm vào giấc đêm muộn hơn, nhưng quan hệ có thể hai chiều, và giờ ngủ tối muộn ở gia đình có thể là lý do trẻ cần ngủ bù buổi trưa SL. Không thể suy ra từ dữ liệu hiện có rằng giấc trưa dài ở trường làm trẻ đi ngủ muộn, hay ngược lại.

Bài TP.HCM còn có một chi tiết ở Bảng 5: thời gian thức sau khi vào giấc cao hơn ở 6 trẻ không dùng thiết bị (77,6 so với 37,6 phút), trong khi phần chữ của bài ghi ngược chiều. Nhóm 6 trẻ quá nhỏ để rút ra điều gì. Màn hình và giấc ngủ được bàn ở chương Màn hình, ánh sáng buổi tối và giấc ngủ của trẻ.

Độ chắc chắn của các kết luận chính#

Mức dưới đây do nhóm biên tập chấm theo khung GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) rút gọn, không phải do tác giả các nghiên cứu; cách chấm và lý do từng mức ở trang phương pháp và độ chắc chắn.

Câu hỏiMức chắc chắn
Ở trẻ mẫu giáo, ngủ trưa có đi kèm vào giấc đêm muộn hơn và ngủ đêm ngắn hơn?Rất thấp
Ngủ trưa có giúp trẻ mẫu giáo nhớ tốt hơn?Rất thấp
Trẻ ở các nước chủ yếu châu Á có còn ngủ trưa lâu hơn, tính theo tuổi bỏ ngủ trưa?Rất thấp

Điều chưa biết#

  • Ngủ trưa và giờ ngủ tối ở trẻ Việt Nam. Chưa có nghiên cứu Việt Nam nào kiểm định giấc trưa ở trường mầm non có đi kèm giờ đi ngủ muộn hơn hay giấc đêm ngắn hơn không; ngủ trưa ở trường chưa từng được đo khách quan.
  • Đo khách quan ở Đông Nam Á. Chúng tôi chưa có số liệu ngủ trưa đo khách quan ở trẻ Đông Nam Á; mọi tỉ lệ ngủ trưa ở trẻ châu Á trong chương này là do mẹ báo cáo.
  • Số phút trong nghiên cứu ngủ trưa bắt buộc. Số phút chênh giấc ngủ đêm trong Staton 2015 không có trong tóm tắt, và chúng tôi chưa đọc được toàn văn.
  • Ngủ trưa, trí nhớ và cảm xúc. Phân tích gộp Souabni 2025 về ngủ trưa và củng cố trí nhớ ở trẻ nhỏ, và thực nghiệm Berger 2012 về bỏ ngủ trưa và cảm xúc ở trẻ 30–36 tháng, chưa mở được.
  • Hiệu lực văn bản. Hiệu lực của Chương trình giáo dục mầm non (văn bản hợp nhất 01/VBHN-BGDĐT) chưa được xác minh trên cổng chính thức; dự thảo tiêu chuẩn thiết kế trường mầm non 2025 chưa rõ đã ban hành chưa.
  • Môi trường phòng ngủ trưa. Cả tiêu chuẩn hiện hành lẫn dự thảo đều không có mức ồn hay nhiệt độ cho phòng ngủ trưa của trẻ, và chúng tôi chưa tìm được số đo nào về tiếng ồn, nhiệt độ ở phòng ngủ trường mầm non Việt Nam.

Viết tắt trong trang

GRADE
khung chấm độ chắc chắn của bằng chứng (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation)
NIH
Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institutes of Health)
PRISMA
chuẩn báo cáo tổng quan hệ thống và phân tích gộp (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses)
PSG
đa ký giấc ngủ (polysomnography)
WASO
thời gian thức sau khi đã ngủ (wake after sleep onset)

Cách trích dẫn trang này

Ban biên tập giacngungon.vn (2026). Ngủ trưa ở trẻ mẫu giáo và ở trường mầm non Việt Nam. Trong: Tập 14 — Giấc ngủ trẻ em và vị thành niên: từ sơ sinh đến 18 tuổi. giacngungon.vn. https://giacngungon.vn/nghien-cuu/giac-ngu-tre-em-va-vi-thanh-nien/ngu-trua-o-tre-mau-giao/