giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Nghiên cứu giấc ngủ: ánh sáng

36 nghiên cứu, xếp theo bậc bằng chứng: từ tổng quan và phân tích gộp tới mô hình, vật liệu và tiêu chuẩn. Mỗi bản ghi ghi rõ thiết kế, khí hậu nơi làm và hạn chế.

Chỉ số và hiện tượng nhóm ánh sáng →

Tổng quan và phân tích gộp · 8

Kretzschmar và cs., 2026

Phân tích gộp · 15 nghiên cứu gốc · Nhiều nước · nhiều vùng

Đối tượng
15 nghiên cứu với 765.838 người trong tổng quan hệ thống; 10 nghiên cứu với 691.851 người trong phân tích gộp.
Điều kiện
Phơi nhiễm ánh sáng nhân tạo ban đêm cao nhất so với thấp/không phơi nhiễm.
Đo gì
Rối loạn giấc ngủ.
Kết quả
Nhóm phơi nhiễm ALAN cao nhất có nguy cơ rối loạn giấc ngủ cao hơn 27% so với nhóm thấp hoặc không phơi nhiễm: tỉ số hiện mắc PR 1,27 (KTC 95%: 1,12–1,45).
Hạn chế
Tác giả nêu: phần lớn nghiên cứu có nguy cơ sai lệch cao, chủ yếu do cách đánh giá phơi nhiễm. Nhận xét biên tập: chúng tôi chỉ đọc tóm tắt nên không rõ tỉ lệ nghiên cứu đo ánh sáng ngoài trời bằng vệ tinh so với đo trong phòng; đa số là nghiên cứu quan sát.

Kretzschmar J, Rath N, Romero Starke K, Seidler A, Freiberg A (2026). The effect of exposure to artificial light at night (ALAN) on sleep disturbance: a systematic review and meta-analysis. Environmental Research 292:123689. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.envres.2026.123689

Singh và cs., 2023

Tổng quan hệ thống · 17 nghiên cứu gốc · Nhiều nước · nhiều vùng

Đối tượng
17 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng ở người trưởng thành, mỗi thử nghiệm 5–156 người; phần giấc ngủ gồm 6 thử nghiệm với 148 người.
Điều kiện
Tròng kính lọc ánh sáng xanh so với tròng kính không lọc; tìm kiếm đến 22/3/2022.
Đo gì
Chất lượng giấc ngủ, mỏi mắt chủ quan, sức khoẻ hoàng điểm.
Kết quả
Với chất lượng giấc ngủ, 6 thử nghiệm (148 người) cho kết quả không nhất quán: 3 thử nghiệm ghi nhận khác biệt có ý nghĩa, 3 thử nghiệm không; độ chắc chắn của bằng chứng rất thấp. Kính lọc ánh sáng xanh có thể ít hoặc không làm thay đổi điểm mỏi mắt khi theo dõi dưới 1 tuần (độ chắc chắn thấp). Không thử nghiệm nào đánh giá sức khoẻ hoàng điểm.
Hạn chế
Tác giả đánh giá độ chắc chắn rất thấp đến thấp; thử nghiệm nhỏ, thời gian theo dõi ngắn, kết quả không đồng nhất. Nhận xét biên tập: chúng tôi chỉ đọc tóm tắt; tròng kính trong tổng quan khác nhau về mức lọc nên không suy ra được hiệu quả của một sản phẩm cụ thể.

Singh S và cộng sự (2023), Blue-light filtering spectacle lenses for visual performance, sleep, and macular health in adults, Cochrane Database of Systematic Reviews trích từ tóm tắt · cochranelibrary.com

Silvani và cs., 2022

Tổng quan hệ thống · 36 nghiên cứu gốc · Nhiều nước · nhiều vùng

Đối tượng
36 nghiên cứu ở người trưởng thành khoẻ mạnh, chủ yếu trẻ tuổi (24 về giấc ngủ); cỡ mẫu từng nghiên cứu 8–1.117 người.
Điều kiện
Phơi ánh sáng xanh so với màu ánh sáng khác, hoặc so với kính/bộ lọc chặn ánh sáng xanh; thời gian phơi trung bình khoảng 2,2 giờ ở các nghiên cứu về giấc ngủ.
Đo gì
Chất lượng, thời lượng, hiệu suất giấc ngủ, độ trễ vào giấc, mệt mỏi.
Kết quả
Trong các nghiên cứu về giấc ngủ: thời lượng ngủ giảm ở 3/9 nghiên cứu, hiệu suất giấc ngủ giảm ở 2/4, độ trễ vào giấc tăng ở 3/8, chất lượng giấc ngủ giảm ở 1/5. Về mệt mỏi, trong 20 lần đo được tổng hợp, 10 lần ghi nhận mệt mỏi giảm khi phơi ánh sáng xanh, 3 lần ghi nhận tăng, số còn lại không thay đổi có ý nghĩa.
Hạn chế
Tổng quan đếm số nghiên cứu, không gộp định lượng; chỉ người khoẻ mạnh và bài tiếng Anh; tìm kiếm đến 9/2020. Nhận xét biên tập: phần lớn kết quả là "không thấy tác động", nên không thể nói ánh sáng xanh buổi tối luôn làm giảm giấc ngủ.

Silvani MI, Werder R, Perret C. The influence of blue light on sleep, performance and wellbeing in young adults: A systematic review. Front Physiol. 2022;13:943108. trích từ toàn văn · doi:10.3389/fphys.2022.943108

Schlangen và cs., 2021

Tổng quan · Hà Lan / Vương quốc Anh

Đối tượng
Bài phương pháp (Methods) về đo lường ánh sáng theo CIE S 026, có phân tích phổ 25 đèn LED gia dụng bán lẻ ở Anh (2015) và màn hình điện thoại.
Điều kiện
So sánh melanopic DER của ánh sáng ban ngày, đèn LED trắng gia dụng và màn hình.
Đo gì
Melanopic DER, melanopic EDI, quan hệ giữa CCT và melanopic DER.
Kết quả
Với 25 đèn LED gia dụng, nhiệt độ màu tương quan (CCT) giải thích 87% phương sai của melanopic DER, thêm CRI thì lên 95%. Các đèn LED trắng phốt-pho trong mẫu có melanopic DER thấp hơn ánh sáng ban ngày cùng CCT, thường thấp hơn khoảng 25% ở 6.500 K. Bảng của bài cho màn hình điện thoại hiển thị trắng ở độ sáng tối đa, nhìn từ 150 mm: 64,3 lx melanopic EDI ứng với 73,3 lx photopic.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: là bài phương pháp kèm tổng quan tường thuật; con số chuyển đổi phụ thuộc phổ từng đèn, không dùng như hệ số cố định; CCT chỉ là chỉ báo gần đúng.

Schlangen LJM, Price LLA. The Lighting Environment, Its Metrology, and Non-visual Responses. Frontiers in Neurology. 2021;12:624861. trích từ toàn văn · doi:10.3389/fneur.2021.624861

Shechter và cs., 2020

Phân tích gộp · 12 nghiên cứu gốc · Nhiều nước · nhiều vùng

Đối tượng
12 nghiên cứu (8 thử nghiệm ngẫu nhiên, 4 nghiên cứu trước–sau); mỗi nghiên cứu phân tích 6–21 người; gồm người khoẻ mạnh, người khó ngủ, trầm cảm, rối loạn giai đoạn ngủ muộn, ADHD, hưng cảm lưỡng cực.
Điều kiện
Kính màu hổ phách/cam/nâu đeo trong các giờ trước khi ngủ để lọc ánh sáng bước sóng ngắn, so với kính trong, kính giả hoặc mức nền.
Đo gì
Hiệu suất giấc ngủ, tổng thời gian ngủ khách quan và tự báo cáo, điểm PSQI, độ trễ vào giấc.
Kết quả
Hedges g gộp: hiệu suất giấc ngủ khách quan 0,31 (KTC 95%: −0,05 đến 0,66; k = 7), tổng thời gian ngủ khách quan 0,32 (0,01 đến 0,63; k = 6), tổng thời gian ngủ tự báo cáo 0,51 (0,18 đến 0,84; k = 3), PSQI −1,25 (−2,39 đến −0,11; k = 3). Độ trễ vào giấc không được gộp vì không đồng nhất quá cao (I² = 81,96%). Ước lượng phân nhóm lớn hơn ở người có rối loạn giấc ngủ hoặc tâm thần so với người khoẻ mạnh (ví dụ tổng thời gian ngủ khách quan g = 0,52 so với 0,21), nhưng khoảng tin cậy rộng và chồng lấn nên khác biệt chưa chắc chắn.
Hạn chế
Tác giả nêu: ít nghiên cứu, cỡ mẫu nhỏ, một số KTC cắt qua 0; quần thể, loại kính và thời gian can thiệp rất khác nhau; một số thử nghiệm mô tả không rõ cách phân nhóm ngẫu nhiên và che giấu phân nhóm; thiết kế trước–sau có nguy cơ sai lệch cao.

Shechter A, Quispe KA, Mizhquiri Barbecho JS, Slater C, Falzon L (2020). Interventions to reduce short-wavelength ("blue") light exposure at night and their effects on sleep: A systematic review and meta-analysis. SLEEP Advances 1(1):zpaa002. trích từ toàn văn · doi:10.1093/sleepadvances/zpaa002

Carter và cs., 2016

Phân tích gộp · 20 nghiên cứu gốc · Nhiều nước · nhiều vùng

Đối tượng
20 nghiên cứu (chủ yếu cắt ngang) với 125.198 trẻ em và thiếu niên 6–19 tuổi (tuổi trung bình 14,5).
Điều kiện
Sử dụng hoặc chỉ có sẵn thiết bị màn hình di động (điện thoại, máy tính bảng) lúc đi ngủ.
Đo gì
Thiếu thời lượng ngủ, chất lượng giấc ngủ kém, buồn ngủ ban ngày quá mức.
Kết quả
Dùng thiết bị lúc đi ngủ liên quan với thiếu thời lượng ngủ (OR 2,17; KTC 95%: 1,42–3,32), chất lượng giấc ngủ kém (OR 1,46; 1,14–1,88) và buồn ngủ ban ngày quá mức (OR 2,72; 1,32–5,61). Chỉ cần có thiết bị trong phòng ngủ mà không dùng cũng liên quan với thiếu thời lượng ngủ (OR 1,79; 1,39–2,31).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: nghiên cứu gộp chủ yếu là cắt ngang nên không xác lập nhân quả; giấc ngủ tự báo cáo; việc "chỉ có thiết bị" cũng liên quan cho thấy cơ chế không chỉ do ánh sáng màn hình. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.

Carter B, Rees P, Hale L, Bhattacharjee D và cộng sự (2016). Association between portable screen-based media device access or use and sleep outcomes: a systematic review and meta-analysis. JAMA Pediatrics 170(12):1202–1208. trích từ tóm tắt · doi:10.1001/jamapediatrics.2016.2341

Hale và cs., 2015

Tổng quan hệ thống · 67 nghiên cứu gốc · Nhiều nước · nhiều vùng

Đối tượng
67 nghiên cứu công bố từ 1999 đến đầu 2014 ở trẻ em tuổi đi học và thiếu niên.
Điều kiện
Thời gian dùng màn hình (TV, máy tính, trò chơi điện tử, điện thoại).
Đo gì
Thời lượng ngủ, thời điểm ngủ.
Kết quả
Thời gian dùng màn hình liên quan bất lợi với giấc ngủ ở 90% số nghiên cứu, chủ yếu là ngủ ngắn hơn và giờ ngủ muộn hơn.
Hạn chế
Tác giả nêu: chưa xác nhận quan hệ nhân quả, sai số đo lường, thiếu dữ liệu về dùng nhiều màn hình cùng lúc và nội dung xem. Nhận xét biên tập: tổng quan đếm số nghiên cứu, không gộp độ lớn hiệu ứng; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.

Hale L, Guan S (2015). Screen time and sleep among school-aged children and adolescents: a systematic literature review. Sleep Medicine Reviews 21:50–58. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.smrv.2014.07.007

Wilkins và cs., 2010

Tổng quan · Nhiều nước

Đối tượng
Tổng quan phục vụ nhóm soạn khuyến nghị IEEE 1789 về nhấp nháy đèn LED.
Điều kiện
Tổng hợp bằng chứng về nhấp nháy nhìn thấy và không nhìn thấy (đèn huỳnh quang 100 Hz, LED điều chế dòng).
Đo gì
Nguy cơ co giật cảm quang, đau đầu, mỏi mắt.
Kết quả
Nhấp nháy 3–70 Hz có nguy cơ gây co giật ở người động kinh cảm quang, cao nhất ở 15–20 Hz; khoảng 1/4.000 người có động kinh cảm quang đã được chẩn đoán. Trong nghiên cứu mù đôi ở văn phòng, ánh sáng điều chế 100 Hz của đèn huỳnh quang chấn lưu từ làm tỉ lệ đau đầu trung bình tăng khoảng gấp đôi; độ sâu điều chế đỉnh–đáy khoảng 35% ở 100 Hz được ghi nhận gây đau đầu.
Hạn chế
Tác giả nói rõ tài liệu không đưa ra tần số hay độ sâu điều chế được coi là an toàn. Nhận xét biên tập: bằng chứng về đau đầu chủ yếu từ đèn huỳnh quang cũ, tác động tập trung ở một nhóm nhỏ người nhạy cảm; chưa có dữ liệu trực tiếp về nhấp nháy và giấc ngủ.

Wilkins A, Veitch J, Lehman B (2010). LED lighting flicker and potential health concerns: IEEE standard PAR1789 update. 2010 IEEE Energy Conversion Congress and Exposition (ECCE), tr. 171–178. trích từ toàn văn · doi:10.1109/ECCE.2010.5618050

Thử nghiệm có đối chứng · 10

Greco và cs., 2023

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 122 · Vương quốc Anh · ôn đới

Đối tượng
Thí nghiệm 1: 89 người (54 nữ, tuổi trung bình 20,98) tại Cardiff; thí nghiệm 2: 33 người (25 nữ, tuổi trung bình 23,09); tất cả 18–35 tuổi.
Điều kiện
Ngủ tại nhà với mặt nạ che sáng so với đối chứng (không mặt nạ năm 2018, mặt nạ khoét lỗ ở mắt năm 2019–2020), mỗi điều kiện một tuần, thiết kế nội cá thể; cả hai thí nghiệm làm vào mùa hè (chọn lúc trời sáng sớm); thí nghiệm 2 đo giấc ngủ bằng băng đầu Dreem.
Đo gì
Học cặp liên tưởng, thời gian phản ứng PVT, cấu trúc giấc ngủ.
Kết quả
Thí nghiệm 1: điểm học cặp liên tưởng 65,06 so với 63,87 (p = 0,022) và thời gian phản ứng 310,26 so với 316,37 ms (p = 0,006) khi đeo mặt nạ. Gộp kết quả bài học cặp liên tưởng của hai thí nghiệm (112 người theo bài; một số người bị loại khỏi bài này do lỗi kỹ thuật): 66,6 so với 65,1 (p = 0,002). Cấu trúc giấc ngủ, tổng thời gian ngủ và chất lượng giấc ngủ tự báo cáo không khác giữa hai điều kiện.
Hạn chế
Tác giả nêu: băng đầu không đo được hoạt động sóng chậm nên giả thuyết mặt nạ làm tăng sóng chậm chỉ là suy đoán; cấu trúc giấc ngủ không khác giữa hai điều kiện nên cơ chế chưa rõ; điều kiện đối chứng khác nhau giữa các năm (đã đưa năm vào mô hình). Nhận xét biên tập: chỉ làm vào mùa hè khi trời sáng sớm; người tham gia trẻ, khoẻ mạnh; chênh lệch tuyệt đối nhỏ (khoảng 1–2 điểm, 6 ms); không đo độ rọi phòng ngủ; tóm tắt ghi thí nghiệm 2 có 35 người nhưng phần phương pháp ghi tuyển 37, phân tích 33.

Greco V, Bergamo D, Cuoccio P, Konkoly KR, Muñoz Lombardo K, Lewis PA (2023). Wearing an eye mask during overnight sleep improves episodic learning and alertness. Sleep 46(3):zsac305. trích từ toàn văn · doi:10.1093/sleep/zsac305

Schöllhorn và cs., 2023

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 72 · Thuỵ Sĩ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
72 nam giới khoẻ mạnh 18–35 tuổi (trung bình 24,7 ± 4,3), chia 4 nhóm cường độ, mỗi người trải qua cả hai điều kiện màn hình.
Điều kiện
Màn hình năm màu cơ bản tạo hai ảnh cùng độ chói và sắc độ nhưng khác thành phần melanopic (thấp/cao, chênh 200–300%); melanopic EDI khoảng 5–150 lx; phơi 3,5 giờ bắt đầu 4 giờ trước giờ ngủ, sau đó ngủ 8 giờ có đo đa ký giấc ngủ.
Đo gì
Độ trễ vào giấc, melatonin (AUC, thời điểm khởi phát), buồn ngủ chủ quan.
Kết quả
Log melanopic EDI dự báo độ trễ vào giấc (R² hiệu chỉnh = 0,77; p = 0,001) và AUC melatonin (R² hiệu chỉnh = 0,89; p < 0,001), trong khi độ rọi photopic không dự báo có ý nghĩa. Ở nhóm cường độ cao nhất, độ trễ vào giấc ngắn hơn khi màn hình ít melanopic (p = 0,024). Khởi phát melatonin sớm hơn khoảng 0,5 giờ ở điều kiện ít melanopic tại 3 trong 4 nhóm.
Hạn chế
Tác giả nêu: chỉ nam giới trẻ, cỡ mẫu mỗi nhóm nhỏ (17–18), loại dữ liệu melatonin của 7 người, không kiểm soát ánh sáng trước khi vào lab và mùa; nghiên cứu trong lab, không phải thực địa.

Schöllhorn I, Stefani O, Lucas RJ, Spitschan M, Slawik HC, Cajochen C. Melanopic irradiance defines the impact of evening display light on sleep latency, melatonin and alertness. Commun Biol. 2023;6:228. trích từ toàn văn · doi:10.1038/s42003-023-04598-4

Mason và cs., 2022

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 20 · Hoa Kỳ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
20 người trưởng thành trẻ khoẻ mạnh, chia ngẫu nhiên song song vào hai nhóm.
Điều kiện
Nhóm ánh sáng phòng: đêm 1 ngủ trong ánh sáng mờ (<3 lx), đêm 2 ngủ dưới đèn trần 100 lx. Nhóm đối chứng: hai đêm đều <3 lx.
Đo gì
Kháng insulin buổi sáng (HOMA-IR, chỉ số Matsuda, nghiệm pháp dung nạp glucose), nhịp tim và biến thiên nhịp tim khi ngủ, giai đoạn giấc ngủ, melatonin.
Kết quả
Sau đêm thứ hai, HOMA-IR lúc đói tăng khoảng 15% ở nhóm ánh sáng phòng (ngủ dưới đèn 100 lx) và giảm khoảng 4% ở nhóm ánh sáng mờ (<3 lx); chỉ số Matsuda giảm khoảng 16% so với tăng 3%. Nhịp tim và tỉ số LF/HF khi ngủ tăng ở nhóm ánh sáng phòng; mức tăng LF/HF tương quan với mức tăng insulin pha sớm (R = 0,74; P = 0,013). Melatonin không khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm.
Hạn chế
Tác giả nêu: cỡ mẫu nhỏ, không phải thiết kế chéo, melatonin không lấy trong điều kiện ánh sáng mờ lúc thức nên chưa loại trừ được tác động qua melatonin; chưa thể kết luận chắc chắn ánh sáng gây kích hoạt giao cảm. Nhận xét biên tập: chỉ một đêm phơi sáng, 100 lx là mức đèn trần bật sáng, cao hơn nhiều so với đèn ngủ hay ánh sáng lọt rèm thường gặp.

Mason IC, Grimaldi D, Reid KJ, Warlick CD, Malkani RG, Abbott SM, Zee PC. Light exposure during sleep impairs cardiometabolic function. PNAS. 2022;119(12):e2113290119. trích từ toàn văn · doi:10.1073/pnas.2113290119

Duraccio và cs., 2021

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 167 · Hoa Kỳ

Đối tượng
167 người 18–24 tuổi (71,3% nữ) dùng iPhone, sinh viên một trường đại học ở miền tây Hoa Kỳ.
Điều kiện
Ba nhóm ngẫu nhiên trong giờ trước khi ngủ, 7 đêm liên tiếp tại nhà: dùng điện thoại bật Night Shift, dùng điện thoại tắt Night Shift, không dùng điện thoại. Giấc ngủ đo bằng gia tốc kế đeo cổ tay.
Đo gì
Độ trễ vào giấc, tổng thời gian ngủ, hiệu suất giấc ngủ, thời gian thức sau khi ngủ (actigraphy).
Kết quả
Trên toàn mẫu, không có khác biệt về độ trễ vào giấc, thời lượng ngủ, hiệu suất giấc ngủ hay thời gian thức sau khi ngủ giữa ba nhóm; không thấy lợi ích nào gắn với Night Shift. Trong phân tích thăm dò ở người ngủ trung bình trên 6,8 giờ mỗi đêm, điều kiện dùng điện thoại có tác động chính có ý nghĩa lên hiệu suất giấc ngủ (P = 0,014) và thời gian thức sau khi ngủ (P = 0,013), nhóm không dùng điện thoại có kết quả tốt nhất; ở người ngủ dưới 6,8 giờ không có khác biệt.
Hạn chế
Tác giả nêu phân tích phân nhóm theo thời lượng ngủ là thăm dò, hậu kiểm. Nhận xét biên tập: chúng tôi chỉ kiểm chứng được phần tóm tắt; mẫu là sinh viên một trường đại học, phần lớn là nữ; không kiểm soát được ánh sáng phòng và nội dung sử dụng điện thoại.

Duraccio KM, Zaugg KK, Blackburn RC, Jensen CD (2021). Does iPhone night shift mitigate negative effects of smartphone use on sleep outcomes in emerging adults? Sleep Health 7(4):478–484. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.sleh.2021.03.005

Phillips và cs., 2019

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 55 · Úc · phòng thí nghiệm

Đối tượng
56 người trưởng thành trẻ khoẻ mạnh hoàn thành (29 nữ, 27 nam; tuổi trung bình 20,8 ± 2,6; 18–30 tuổi); 55 người đưa vào phân tích, 351 đêm.
Điều kiện
Đêm nền ánh sáng mờ <1 lx và các đêm ánh sáng trắng 10, 30, 50, 100, 200, 400, 2.000 lx, từ 4 giờ trước giờ ngủ thường lệ đến 1 giờ sau (khoảng 5 giờ).
Đo gì
Mức ức chế melatonin nước bọt, liều gây ức chế 50% (ED50), độ lệch thời điểm khởi phát melatonin.
Kết quả
ED50 cấp nhóm là 24,60 lx (KTC 95%: 21,33–28,37). ED50 từng người dao động từ 6,0 đến 349,8 lx, chênh hơn một bậc độ lớn. Thời điểm khởi phát melatonin trễ khoảng 22 phút ở 10 lx, 77 phút ở 30 lx và 109 phút ở 50 lx so với đêm nền.
Hạn chế
Người tham gia trẻ, chủ yếu da trắng; chỉ dùng ánh sáng trắng phổ rộng nên chưa xét phổ; đường cong cá nhân chỉ tin cậy ở một phần người tham gia; cơ chế khác biệt cá nhân chưa rõ. Nhận xét biên tập: đơn vị là lux photopic của một nguồn sáng cụ thể; mức 24,6 lx thấp hơn nhiều so với độ rọi phòng khách thông thường.

Phillips AJK, Vidafar P, Burns AC, McGlashan EM, Anderson C, Rajaratnam SMW, Lockley SW, Cain SW. High sensitivity and interindividual variability in the response of the human circadian system to evening light. PNAS. 2019;116(24):12019–12024. trích từ toàn văn · doi:10.1073/pnas.1901824116

Shechter và cs., 2018

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 14 · Hoa Kỳ · ôn đới

Đối tượng
15 người có triệu chứng mất ngủ được nhận, 14 người hoàn thành cả hai pha (8 nữ; tuổi 46,6 ± 11,5; 27–61 tuổi).
Điều kiện
Thử nghiệm chéo ngẫu nhiên có giả dược: kính hổ phách hoặc kính trong, đeo 2 giờ trước giờ ngủ mỗi tối trong 7 ngày, nghỉ rửa trôi 4 tuần, tại nhà.
Đo gì
Điểm PIRS, tổng thời gian ngủ và hiệu suất giấc ngủ tự báo cáo và đo bằng actigraphy.
Kết quả
Kính hổ phách so với kính trong: điểm PIRS 72,64 so với 88,93 (p = 0,023); tổng thời gian ngủ tự báo cáo 399,33 so với 347,11 phút (p < 0,01); tổng thời gian ngủ actigraphy 358,80 so với 330,33 phút (p = 0,035). Hiệu suất giấc ngủ actigraphy không khác biệt có ý nghĩa (78,35% so với 77,01%; p = 0,285).
Hạn chế
Tác giả nêu: cỡ mẫu rất nhỏ; không đánh giá pha nhịp sinh học, không đo melatonin hay ánh sáng tại nhà; khác biệt giữa đo chủ quan và khách quan; 12% đêm actigraphy bị thiếu. Nhận xét biên tập: người tham gia có triệu chứng mất ngủ, không đại diện cho người ngủ bình thường.

Shechter A, Kim EW, St-Onge MP, Westwood AJ (2018). Blocking nocturnal blue light for insomnia: A randomized controlled trial. Journal of Psychiatric Research 96:196–202. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.jpsychires.2017.10.015

Chang và cs., 2015

Thực nghiệm chéo có đối chứng · Hoa Kỳ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Người trưởng thành khoẻ mạnh trong môi trường nội trú có kiểm soát (tóm tắt không nêu cỡ mẫu; chúng tôi chưa đọc được toàn văn).
Điều kiện
Đọc sách trên thiết bị phát sáng (LE-eBook) so với đọc sách in trước giờ ngủ, thiết kế chéo.
Đo gì
Thời gian đi vào giấc, cảm giác buồn ngủ buổi tối, melatonin, thời điểm nhịp sinh học, độ tỉnh táo sáng hôm sau.
Kết quả
Khi đọc trên thiết bị phát sáng, người tham gia mất nhiều thời gian hơn để vào giấc, ít buồn ngủ hơn vào buổi tối, tiết ít melatonin hơn, đồng hồ sinh học lùi muộn hơn và kém tỉnh táo hơn sáng hôm sau so với đọc sách in. Tóm tắt dẫn khảo sát đại diện 1.508 người Mỹ: 90% dùng thiết bị điện tử ít nhất vài tối mỗi tuần trong vòng 1 giờ trước giờ ngủ.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chúng tôi chỉ đọc được tóm tắt nên không ghi các con số độ trễ vào giấc hay phần trăm ức chế melatonin; nghiên cứu trong phòng lab, cỡ mẫu không nêu trong tóm tắt, điều kiện ánh sáng nền được kiểm soát chặt nên khó suy trực tiếp ra phòng ngủ thật.

Chang AM, Aeschbach D, Duffy JF, Czeisler CA. Evening use of light-emitting eReaders negatively affects sleep, circadian timing, and next-morning alertness. Proc Natl Acad Sci U S A. 2015;112(4):1232–1237. trích từ tóm tắt · doi:10.1073/pnas.1418490112

Cho và cs., 2013

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 10 · Hàn Quốc (suy từ đơn vị tác giả) · phòng thí nghiệm

Đối tượng
10 người ngủ bình thường, khoẻ mạnh.
Điều kiện
Hai đêm đo đa ký giấc ngủ: một đêm tắt đèn, một đêm bật đèn đầu giường suốt đêm (tóm tắt không nêu độ rọi).
Đo gì
Các thông số đa ký giấc ngủ, phân tích phổ điện não trong giấc REM và NREM.
Kết quả
Khi bật đèn, giai đoạn N1 tăng, giấc sóng chậm giảm và chỉ số vi thức tỉnh tăng. Công suất theta (4–8 Hz) trong REM giảm; công suất dao động chậm (0,5–1 Hz), delta (1–4 Hz) và thoi ngủ (10–16 Hz) trong NREM giảm.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ 10 người, tóm tắt không nêu độ rọi nên không quy được ra ngưỡng lux; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt nên không có giá trị p.

Cho JR, Joo EY, Koo DL, Hong SB. Let there be no light: the effect of bedside light on sleep quality and background electroencephalographic rhythms. Sleep Medicine. 2013;14(12):1422–1425. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.sleep.2013.09.007

Cajochen và cs., 2011

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 13 · Thuỵ Sĩ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
13 nam giới khoẻ mạnh 19–35 tuổi (trung bình 23,8).
Điều kiện
Một buổi tối 5 giờ (khoảng 20:00–00:30) trước màn hình 24 inch đèn nền LED (6.953 K) hoặc đèn nền CCFL (4.775 K), cùng 250 nit, cách mắt 60 cm, ánh sáng phòng 4 lx.
Đo gì
Melatonin, buồn ngủ chủ quan và khách quan, chú ý, trí nhớ.
Kết quả
Màn hình LED phát ánh sáng vùng 440–470 nm nhiều gấp 3,32 lần màn hình đèn nền CCFL. Dưới màn hình LED, mức tăng melatonin buổi tối bị ức chế và trì hoãn (F(1,11) = 5,9; P = 0,045), cử động mắt chậm (chỉ báo buồn ngủ) ít hơn (P = 0,0004), chú ý duy trì tốt hơn (P = 0,04).
Hạn chế
Tác giả nêu: chỉ nam giới, một buổi phơi, chưa biết tác động khi dùng lâu dài; hai màn hình khác nhau cả về phổ ngoài vùng xanh; không đo dịch pha nhịp sinh học.

Cajochen C, Frey S, Anders D, Späti J, Bues M, Pross A, Mager R, Wirz-Justice A, Stefani O (2011). Evening exposure to a light-emitting diodes (LED)-backlit computer screen affects circadian physiology and cognitive performance. Journal of Applied Physiology 110:1432–1438. trích từ toàn văn · doi:10.1152/japplphysiol.00165.2011

Chellappa và cs., 2011

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 16 · Thuỵ Sĩ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
16 nam giới khoẻ mạnh 20–28 tuổi (trung bình 24,3 ± 2,1).
Điều kiện
Ba buổi tối cách nhau 1 tuần, phơi 2 giờ: đèn compact 6.500 K, đèn compact 2.500 K, đèn sợi đốt 3.000 K, cùng khoảng 38–40 lx tại mắt.
Đo gì
Melatonin, buồn ngủ chủ quan, thời gian phản ứng (PVT, GO/NOGO).
Kết quả
Mức tăng melatonin so với trước phơi sáng thấp nhất ở 6.500 K: 29,5 ± 5% so với 42 ± 8,6% (2.500 K) và 49 ± 7,6% (3.000 K) (p = 0,03). Buồn ngủ chủ quan tăng 19 ± 3,8% ở 6.500 K so với 32 ± 4,1% (3.000 K) và 41 ± 2,6% (2.500 K) (p = 0,04). Thời gian phản ứng PVT nhanh hơn dưới 6.500 K.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ 16 nam giới trẻ, một lần phơi 2 giờ trong lab; ba loại đèn khác nhau cả công nghệ lẫn phổ chứ không chỉ khác nhiệt độ màu; nhiều kết quả sát ngưỡng ý nghĩa (p = 0,03–0,04).

Chellappa SL, Steiner R, Blattner P, Oelhafen P, Götz T, Cajochen C (2011). Non-visual effects of light on melatonin, alertness and cognitive performance: can blue-enriched light keep us alert? PLoS ONE 6(1):e16429. trích từ toàn văn · doi:10.1371/journal.pone.0016429

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · 6

Lee và cs., 2018

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 42 · Nhật Bản · phòng thí nghiệm

Đối tượng
22 trẻ em (8,9 ± 2,2 tuổi) và 20 người lớn (41,7 ± 4,4 tuổi, là cha mẹ của trẻ) được nhận; phân tích 21 trẻ và 13 người lớn.
Điều kiện
Đèn trần LED 3.000 K (299,0 lx tại mắt; melanopic 149,2) hoặc 6.200 K (305,2 lx; melanopic 292,9), từ 19:00 đến 1 giờ sau giờ ngủ thường lệ; đêm nền <30 lx.
Đo gì
Mức ức chế melatonin (AUC), buồn ngủ (KSS).
Kết quả
Ở trẻ em, mức ức chế melatonin là 81,2% dưới 6.200 K so với 58,1% dưới 3.000 K (P = 0,012); ở người lớn đều là 30,4% (P = 0,999). Dưới 6.200 K, trẻ em bị ức chế nhiều hơn người lớn (81,2% so với 30,4%; P = 0,004). Trẻ em ít buồn ngủ hơn dưới 6.200 K.
Hạn chế
Tác giả nêu: không kiểm soát chặt ánh sáng trước đó; thời gian phơi khác nhau giữa trẻ và người lớn; mẫu người lớn nhỏ sau khi loại; một cơ sở, một mùa; cơ chế nhạy cảm hơn ở trẻ chưa được kiểm tra.

Lee SI, Matsumori K, Nishimura K, Nishimura Y, Ikeda Y, Eto T, Higuchi S (2018). Melatonin suppression and sleepiness in children exposed to blue-enriched white LED lighting at night. Physiological Reports 6(24):e13942. trích từ toàn văn · doi:10.14814/phy2.13942

Esaki và cs., 2016

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 9 · Nhật Bản · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
9 bệnh nhân rối loạn giai đoạn ngủ muộn (DSPD) liên tiếp tại Đại học Y tế Fujita.
Điều kiện
Thử nghiệm mở, không nhóm đối chứng, 4 tuần; đeo kính hổ phách chặn ánh sáng xanh từ 21:00 đến giờ ngủ mỗi tối trong 2 tuần.
Đo gì
Thời điểm khởi phát melatonin trong ánh sáng mờ (DLMO), thời điểm vào giấc đo bằng actigraphy.
Kết quả
DLMO sớm hơn 78 phút nhưng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,145). Thời điểm vào giấc đo bằng actigraphy sớm hơn 132 phút (p = 0,034).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ 9 người, không đối chứng, nhãn mở nên dễ chịu hiệu ứng kỳ vọng; một người dừng giữa chừng; đối tượng là người bệnh, không suy rộng cho người ngủ bình thường. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.

Esaki Y, Kitajima T, Ito Y, Koike S, Nakao Y, Tsuchiya A, Hirose M, Iwata N (2016). Wearing blue light-blocking glasses in the evening advances circadian rhythms in the patients with delayed sleep phase disorder: An open-label trial. Chronobiology International 33(8):1037–1044. trích từ tóm tắt · doi:10.1080/07420528.2016.1194289

Figueiro và cs., 2014

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 21 · Hoa Kỳ

Đối tượng
Phòng lab: 11 người (7 nữ, tuổi 37,6 ± 9). Tại nhà: 10 người cao tuổi (6 nữ, tuổi 70 ± 3,7).
Điều kiện
Mặt nạ ngủ gắn LED 480 nm chiếu xung 2 giây mỗi 30 giây qua mi mắt nhắm; lab: 1 giờ (120 xung) so với đêm tối đối chứng đeo mặt nạ không bật; tại nhà: bắt đầu 1 giờ sau giờ đi ngủ, chiếu tới 2 giờ mỗi đêm, một tuần nền rồi một tuần can thiệp, không có nhóm đối chứng.
Đo gì
Ức chế melatonin, dịch pha DLMO, hiệu suất giấc ngủ actigraphy.
Kết quả
Ánh sáng xanh xuyên qua mi mắt nhắm ức chế melatonin trung bình 16,6% ± 8% (SEM) trong lab. Tại nhà, DLMO lùi muộn khoảng 24 ± 5 phút (p = 0,003). Hiệu suất giấc ngủ 82% lúc nền và 81% khi can thiệp, không khác biệt (p = 0,65).
Hạn chế
Tác giả nêu: mẫu nhỏ, hai nhóm tuổi khác nhau, không đo độ truyền sáng của mi mắt từng người, người tham gia hay tỉnh giấc ở các xung đầu; một số tác giả có đơn đăng ký sáng chế mặt nạ với Philips Lighting. Nhận xét biên tập: kết quả cho thấy mi mắt nhắm không chặn hoàn toàn ánh sáng, nhưng nguồn sáng ở đây áp sát mắt.

Figueiro M, Plitnick B, Rea M (2014). Pulsing blue light through closed eyelids: effects on acute melatonin suppression and phase shifting of dim light melatonin onset. Nature and Science of Sleep 6:149–156. trích từ toàn văn · doi:10.2147/NSS.S73856

Wright và cs., 2013

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 8 · Hoa Kỳ (Colorado) · ôn đới

Đối tượng
8 người trưởng thành (2 nữ), tuổi 30,3 ± 8,5.
Điều kiện
1 tuần sinh hoạt bình thường với đèn điện, sau đó 1 tuần cắm trại chỉ với ánh sáng tự nhiên và lửa trại (tháng 7).
Đo gì
Thời điểm khởi phát melatonin, giờ ngủ, thời lượng ngủ.
Kết quả
Khi cắm trại, ánh sáng trung bình lúc thức tăng từ 979 ± 352 lx lên 4.487 ± 552 lx (hơn 4 lần); 2 giờ đầu sau khi thức là 3.074 so với 934 lx; giữa hoàng hôn và lúc ngủ, ánh sáng giảm từ 21 xuống 8 lx. Các mốc nhịp sinh học sớm lên khoảng 2 giờ, khởi phát melatonin xảy ra gần hoàng hôn; thời lượng và hiệu suất giấc ngủ không đổi có ý nghĩa.
Hạn chế
Tác giả nêu: chỉ 8 người, một địa điểm, chỉ mùa hè; chưa xác định số ngày cần để đồng bộ. Nhận xét biên tập: không có nhóm đối chứng song song; thay đổi lối sống khi cắm trại cũng có thể góp phần.

Wright KP Jr, McHill AW, Birks BR, Griffin BR, Rusterholz T, Chinoy ED (2013). Entrainment of the Human Circadian Clock to the Natural Light-Dark Cycle. Current Biology 23(16):1554–1558. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.cub.2013.06.039

Gooley và cs., 2011

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 116 · Hoa Kỳ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
116 người tình nguyện khoẻ mạnh 18–30 tuổi từ hai nghiên cứu nội trú (104 người ở nghiên cứu 1; 12 người, 13 lượt thử ở nghiên cứu 2).
Điều kiện
Ánh sáng phòng <200 lx so với ánh sáng mờ <3 lx. Nghiên cứu 1: phơi trong 8 giờ trước giờ ngủ (so sánh trong cùng người). Nghiên cứu 2: thức trong ánh sáng phòng suốt giờ ngủ thường lệ, so với đêm ngủ trong bóng tối trước đó.
Đo gì
Thời điểm khởi phát và độ dài thời gian tiết melatonin, mức ức chế melatonin trước ngủ và trong giờ ngủ thường lệ.
Kết quả
Ánh sáng phòng trước giờ ngủ làm khởi phát melatonin muộn hơn ở 99,0% người tham gia (103/104) và rút ngắn thời gian tiết melatonin khoảng 90 phút (trung vị 8 giờ 45 phút so với 10 giờ 17 phút). Lượng melatonin trước giờ ngủ giảm trung vị 71,4%. Bật đèn phòng trong giờ ngủ thường lệ ức chế melatonin hơn 50% ở 11/13 lượt thử.
Hạn chế
Tác giả nêu: phân tích hồi cứu; thứ tự điều kiện ánh sáng không được cân bằng; thời gian phơi 8–16 giờ dài hơn thói quen thực tế (thường bật/tắt đèn gần giờ ngủ hơn); hậu quả sức khoẻ của việc melatonin bị thay đổi chưa được biết. Nhận xét biên tập: nghiên cứu 2 nhỏ (12 người); chỉ người trẻ khoẻ mạnh 18–30 tuổi.

Gooley JJ, Chamberlain K, Smith KA, Khalsa SBS, Rajaratnam SMW, Van Reen E, Zeitzer JM, Czeisler CA, Lockley SW (2011). Exposure to room light before bedtime suppresses melatonin onset and shortens melatonin duration in humans. J Clin Endocrinol Metab 96(3):E463–E472. trích từ toàn văn · doi:10.1210/jc.2010-2098

Khalsa và cs., 2003

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 21 · Hoa Kỳ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
21 người khoẻ mạnh có nhịp sinh học ổn định.
Điều kiện
Một xung ánh sáng mạnh dài 6,7 giờ (xen kẽ nhìn cố định khoảng 10.000 lx và nhìn tự do khoảng 5.000–9.000 lx) đặt ở các thời điểm sinh học khác nhau.
Đo gì
Độ dịch pha của nhịp melatonin.
Kết quả
Biên độ đỉnh–đáy của đường cong đáp ứng pha (theo điểm giữa nhịp melatonin) là 5,02 giờ. Ánh sáng đặt trước điểm nhiệt độ cơ thể thấp nhất làm lùi nhịp; đặt sau điểm đó làm sớm nhịp.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: cường độ rất cao và thời lượng rất dài so với ánh sáng sinh hoạt; chỉ đọc tóm tắt; cho biết chiều tác động theo thời điểm (ánh sáng buổi tối/đầu đêm lùi nhịp, buổi sáng sớm làm sớm nhịp) chứ không cho liều ở mức trong nhà.

Khalsa SB, Jewett ME, Cajochen C, Czeisler CA. A phase response curve to single bright light pulses in human subjects. Journal of Physiology. 2003;549(Pt 3):945–952. trích từ tóm tắt · doi:10.1113/jphysiol.2003.040477

Nghiên cứu quan sát · 10

Nagata và cs., 2024

Nghiên cứu thuần tập · n = 9.398 · Hoa Kỳ · nhiều vùng

Đối tượng
9.398 thiếu niên 11–12 tuổi (48,4% nữ) trong nghiên cứu ABCD.
Điều kiện
Hành vi dùng màn hình lúc đi ngủ đo ở năm 2 (TV/thiết bị trong phòng ngủ, để chuông điện thoại qua đêm, nhắn tin, nghe nhạc, mạng xã hội); kết cục đo ở năm 3.
Đo gì
Thời lượng ngủ tự báo cáo, rối loạn giấc ngủ do người chăm sóc báo cáo.
Kết quả
Có TV hoặc thiết bị kết nối mạng trong phòng ngủ liên quan với thời lượng ngủ ngắn hơn một năm sau; để chuông điện thoại qua đêm (so với tắt điện thoại khi đi ngủ) liên quan với khả năng rối loạn giấc ngủ cao hơn và ngủ ngắn hơn. Nói chuyện/nhắn tin qua điện thoại, nghe nhạc và dùng mạng xã hội lúc đi ngủ cũng liên quan với ngủ ngắn hơn và rối loạn giấc ngủ nhiều hơn. Tóm tắt không nêu tỉ số chênh hay số phút cụ thể.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: nghiên cứu quan sát, cho thấy liên quan chứ không chứng tỏ nhân quả; thời lượng ngủ do trẻ tự báo cáo, rối loạn giấc ngủ do người chăm sóc báo cáo; tóm tắt không có độ lớn hiệu ứng; cơ chế có thể là thời gian bị chiếm chỗ hoặc bị đánh thức chứ không chỉ do ánh sáng.

Nagata JM, Cheng CM, Shim J, Kiss O, Ganson KT, Testa A, He J, Baker FC (2024). Bedtime screen use behaviors and sleep outcomes in early adolescents: a prospective cohort study. Journal of Adolescent Health 75(4):650–655. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.jadohealth.2024.06.006

Windred và cs., 2024

Nghiên cứu thuần tập · n = 88.905 · Vương quốc Anh · ôn đới

Đối tượng
88.905 người tham gia UK Biobank (tuổi 62,4 ± 7,8; 57% nữ); 3.750 ca tử vong.
Điều kiện
Đeo cảm biến ánh sáng cá nhân 1 tuần; theo dõi trung bình 8,0 ± 1,0 năm.
Đo gì
Tử vong do mọi nguyên nhân.
Kết quả
So với nhóm có đêm tối (bách phân vị 0–50), nhóm ánh sáng ban đêm ở bách phân vị 90–100 có HR hiệu chỉnh 1,21–1,34 tuỳ mô hình. Ngược lại, ánh sáng ban ngày ở bách phân vị 90–100 có HR hiệu chỉnh 0,66–0,83 so với nhóm ánh sáng ban ngày ở bách phân vị 0–50.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: nghiên cứu quan sát; đo 1 tuần; cảm biến đeo trên người không đo đúng tại mắt; người có ánh sáng ban đêm cao có thể khác biệt về sức khoẻ, nghề nghiệp; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt nên không có KTC 95%; khí hậu ôn đới vĩ độ cao.

Windred DP, Burns AC, Lane JM, Olivier P, Rutter MK, Saxena R, Phillips AJK, Cain SW (2024). Brighter nights and darker days predict higher mortality risk: A prospective analysis of personal light exposure in >88,000 individuals. Proc Natl Acad Sci USA 121(43):e2405924121. trích từ tóm tắt · doi:10.1073/pnas.2405924121

Hu và cs., 2022

Nghiên cứu cắt ngang · n = 13.474 · Trung Quốc · nhiều vùng

Đối tượng
13.474 người cao tuổi trong khảo sát CLHLS đợt 2017–2018.
Điều kiện
Ánh sáng nhân tạo ban đêm ngoài trời (ALAN) ước tính tại nơi ở từ ảnh vệ tinh, chia tứ phân vị.
Đo gì
Thời lượng ngủ tự báo cáo, ngủ ngắn (≤ 6 giờ), ngủ dài (> 8 giờ).
Kết quả
Tứ phân vị ALAN cao nhất so với thấp nhất liên quan với thời lượng ngủ ít hơn 17,04 phút (KTC 95%: 9,42–24,78), khả năng ngủ ngắn cao hơn 25% (KTC 95%: 10%–42%) và khả năng ngủ dài thấp hơn 21% (9%–31%).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: cắt ngang nên chỉ cho thấy liên quan; ánh sáng vệ tinh đo ở cấp khu vực, không phản ánh ánh sáng lọt vào phòng ngủ khi có rèm; vùng sáng hơn thường là đô thị nên dễ nhiễu bởi tiếng ồn, nhiệt và lối sống; giấc ngủ tự báo cáo. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.

Hu K, Li W, Zhang Y, Chen H, Bai C, Yang Z, et al., Yao Y (2022). Association between outdoor artificial light at night and sleep duration among older adults in China: A cross-sectional study. Environmental Research 212:113343. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.envres.2022.113343

Burns và cs., 2021

Nghiên cứu cắt ngang · Vương quốc Anh · ôn đới

Đối tượng
Hơn 400.000 người trưởng thành 37–73 tuổi trong UK Biobank được phân tích (theo tiêu đề bài); toàn bộ nhóm UK Biobank có khoảng 502.000 người, 54% nữ.
Điều kiện
Số giờ ban ngày ở ngoài trời tự báo cáo (trung vị 2,5 giờ/ngày, IQR 1,5–3,5).
Đo gì
Dễ thức dậy, mệt mỏi, triệu chứng mất ngủ, kiểu thời gian sinh học, khí sắc.
Kết quả
Mỗi giờ ngoài trời thêm liên quan với khả năng thấy dễ thức dậy cao hơn (OR 1,46–1,49), ít mệt mỏi thường xuyên (OR 0,80–0,82), ít triệu chứng mất ngủ (OR 0,94–0,97) và kiểu thời gian sinh học sớm hơn. Phân tích dọc ủng hộ các kết quả cắt ngang nhưng độ lớn nhỏ hơn.
Hạn chế
Tác giả nêu: không đo cường độ ánh sáng tại mắt. Nhận xét biên tập: thời gian ngoài trời tự báo cáo, có thể gắn với vận động và sức khoẻ chung; chủ yếu cắt ngang; khí hậu Anh khác Việt Nam. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.

Burns AC, Saxena R, Vetter C, Phillips AJK, Lane JM, Cain SW (2021). Time spent in outdoor light is associated with mood, sleep, and circadian rhythm-related outcomes: A cross-sectional and longitudinal study in over 400,000 UK Biobank participants. Journal of Affective Disorders 295:347–352. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.jad.2021.08.056

Pham và cs., 2021

Nghiên cứu cắt ngang · n = 369 · Việt Nam · nhiệt đới ẩm

Đối tượng
369 sinh viên 18–25 tuổi (242 nữ) tại Đại học Duy Tân, Đà Nẵng; chọn mẫu thuận tiện, khảo sát 1–4/2019.
Điều kiện
Dùng thiết bị điện tử (điện thoại, laptop, máy tính bảng) trong 2 giờ trước giờ ngủ: thời lượng, vị trí để thiết bị khi ngủ, chỉnh độ sáng màn hình.
Đo gì
Chất lượng giấc ngủ theo PSQI bản tiếng Việt (PSQI-V > 5 là kém).
Kết quả
48,8% sinh viên có chất lượng giấc ngủ kém; 98,1% dùng ít nhất một thiết bị trong 2 giờ trước khi ngủ, 92,3% dùng điện thoại. Trong hồi quy đa biến, dùng thiết bị 30 phút–2 giờ (B = 2,588; KTC 95%: 0,667–4,510; p = 0,008) và trên 2 giờ (B = 3,343; 1,383–5,304; p = 0,001) liên quan với điểm PSQI-V cao hơn; dùng dưới 30 phút không có ý nghĩa.
Hạn chế
Tác giả nêu: cắt ngang nên không xác lập nhân quả; dữ liệu tự báo cáo trong một tháng, có thể sai lệch nhớ lại; chưa đo lượng ánh sáng xanh từ thiết bị. Nhận xét biên tập: chọn mẫu thuận tiện ở một trường đại học; độ tin cậy nội tại PSQI-V trong mẫu này khiêm tốn (Cronbach alpha = 0,65).

Pham HT, Chuang HL, Kuo CP, Yeh TP, Liao WC (2021). Electronic Device Use before Bedtime and Sleep Quality among University Students. Healthcare 9(9):1091. trích từ toàn văn · doi:10.3390/healthcare9091091

Min và cs., 2018

Nghiên cứu thuần tập · n = 52.027 · Hàn Quốc · ôn đới

Đối tượng
52.027 người từ 60 tuổi trở lên trong đoàn hệ mẫu quốc gia NHIS 2002–2013.
Điều kiện
ALAN ngoài trời từ vệ tinh gán theo 232 quận/huyện nơi cư trú, chia tứ phân vị (Q1 ≤ 22,05; Q4 ≥ 61,61 nW/cm²/sr).
Đo gì
Kê đơn thuốc ngủ: số ngày kê đơn và liều xác định hằng ngày (DDD).
Kết quả
11.738 người (22,6%) có đơn thuốc ngủ. Số ngày kê đơn thuốc ngủ tăng theo tứ phân vị ALAN (P < 0,0001) và liều DDD cũng cao hơn có ý nghĩa ở các tứ phân vị cao hơn. So Q4 với Q1 sau hiệu chỉnh, hệ số β cho DDD của mọi thuốc ngủ là 17,07 (P < 0,0001).
Hạn chế
Tác giả nêu: ước tính phơi nhiễm từ ảnh vệ tinh có độ phân giải thấp, bão hoà ở vùng sáng, có thể phân loại sai phơi nhiễm; dữ liệu không có nghề nghiệp, căng thẳng, ánh sáng phòng ngủ, môi trường nhà ở; không loại trừ được việc vùng sáng hơn dễ tiếp cận y tế và thuốc kê đơn hơn; mã hoá đơn thuốc có thể sai; nhiều người mất ngủ không đi kê đơn. Nhận xét biên tập: phơi nhiễm gán ở cấp quận, không đo cá nhân; nghiên cứu quan sát nên không xác lập nhân quả, dù phần kết luận của tác giả dùng ngôn ngữ nhân quả.

Min JY, Min KB (2018). Outdoor Artificial Nighttime Light and Use of Hypnotic Medications in Older Adults: A Population-Based Cohort Study. Journal of Clinical Sleep Medicine 14(11):1903–1910. trích từ toàn văn · doi:10.5664/jcsm.7490

Obayashi và cs., 2018

Nghiên cứu thuần tập · n = 863 · Nhật Bản (tỉnh Nara) · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
1.127 người từ 60 tuổi trở lên được nhận vào, 863 người đưa vào phân tích; 73 người xuất hiện triệu chứng trầm cảm mới trong thời gian theo dõi.
Điều kiện
Máy đo độ rọi đặt trong phòng ngủ ghi mỗi phút trong 2 đêm, từ lúc lên giường đến lúc rời giường; ngưỡng chính 5 lx trung bình. Theo dõi trung vị 23 tháng.
Đo gì
Triệu chứng trầm cảm mới (thang GDS ≥ 6).
Kết quả
Nhóm có độ rọi phòng ngủ ban đêm trung bình ≥ 5 lx có nguy cơ xuất hiện triệu chứng trầm cảm cao hơn nhóm < 5 lx: HR 1,89 (KTC 95%: 1,13–3,14; P = 0,015) sau hiệu chỉnh tuổi, giới, BMI, thu nhập; HR 1,72 (1,03–2,89; P = 0,039) ở mô hình hiệu chỉnh tuổi, giới cùng tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn giấc ngủ, giờ đi ngủ và thời gian nằm trên giường.
Hạn chế
Nghiên cứu quan sát, có thể còn nhiễu; chỉ 2 đêm đo; chỉ đo ánh sáng phòng ngủ, không đo ánh sáng TV trước ngủ hay nắng sáng; loại người thiếu dữ liệu có thể gây sai lệch chọn. Nhận xét biên tập: máy đo đặt trong phòng, không đo tại mắt; mức 5 lx là ngưỡng phân nhóm, không phải ngưỡng sinh học đã xác lập; người cao tuổi Nhật Bản.

Obayashi K, Saeki K, Kurumatani N (2018). Bedroom Light Exposure at Night and the Incidence of Depressive Symptoms: A Longitudinal Study of the HEIJO-KYO Cohort. American Journal of Epidemiology 187(3):427–434. trích từ toàn văn · doi:10.1093/aje/kwx290

Figueiro và cs., 2017

Đo thực địa · n = 109 · Hoa Kỳ · ôn đới

Đối tượng
109 nhân viên văn phòng (69 nữ) ở 5 toà nhà; 81 người (54 nữ) tham gia cả mùa đông và mùa hè.
Điều kiện
Đo ánh sáng có hiệu lực sinh học cá nhân và vận động 7 ngày liên tục; so sánh nhóm nhận nhiều và ít ánh sáng buổi sáng.
Đo gì
Độ trễ vào giấc, chất lượng giấc ngủ, khí sắc, mức đồng bộ nhịp.
Kết quả
Nhận nhiều ánh sáng có hiệu lực sinh học vào buổi sáng liên quan với độ trễ vào giấc ngắn hơn, rõ nhất vào mùa đông, và chất lượng giấc ngủ tốt hơn. Tóm tắt không nêu trị số hay giá trị p.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: nghiên cứu quan sát, không phân nhóm ngẫu nhiên; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt nên không có độ lớn hiệu ứng; khí hậu ôn đới có ngày mùa đông ngắn, khác Việt Nam.

Figueiro MG, Steverson B, Heerwagen J, Kampschroer K, Hunter CM, Gonzales K, Plitnick B, Rea MS (2017). The impact of daytime light exposures on sleep and mood in office workers. Sleep Health 3(3):204–215. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.sleh.2017.03.005

Koo và cs., 2016

Nghiên cứu cắt ngang · n = 8.526 · Hàn Quốc · ôn đới

Đối tượng
8.526 người trưởng thành 39–70 tuổi trong nghiên cứu KoGES.
Điều kiện
ALAN ngoài trời từ ảnh vệ tinh DMSP, chia nhóm cao/thấp.
Đo gì
Béo phì theo BMI; thời lượng ngủ, giờ giữa giấc ngủ, mất ngủ.
Kết quả
Tỉ lệ béo phì 55% ở nhóm ALAN cao so với 40% ở nhóm thấp (p < 0,001). Sau hiệu chỉnh cả các yếu tố giấc ngủ, ALAN cao liên quan với béo phì: OR 1,20 (KTC 95%: 1,06–1,36; p = 0,003). Tóm tắt không cho số liệu riêng về các chỉ số giấc ngủ.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: cắt ngang, đo ánh sáng vệ tinh độ phân giải thấp ở cấp khu vực; kết quả chính về béo phì, không phải giấc ngủ; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.

Koo YS, Song JY, Joo EY, Lee HJ, Lee E, Lee SK, Jung KY (2016). Outdoor artificial light at night, obesity, and sleep health: Cross-sectional analysis in the KoGES study. Chronobiology International 33(3):301–314. trích từ tóm tắt · doi:10.3109/07420528.2016.1143480

Obayashi và cs., 2016

Nghiên cứu thuần tập · n = 766 · Nhật Bản (tỉnh Nara) · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
1.110 người từ 60 tuổi trở lên lúc ban đầu (tuổi trung bình 71,9), 766 người có dữ liệu theo dõi (trung vị 21 tháng).
Điều kiện
Ánh sáng ban ngày/buổi tối đo bằng máy đeo cổ tay 2 ngày; ánh sáng ban đêm đo bằng máy đặt ở đầu giường (cao 60 cm, hướng lên trần) ghi mỗi phút trong 2 đêm.
Đo gì
Thay đổi tỉ số vòng eo/chiều cao (WHtR) và BMI.
Kết quả
Trong mô hình hiệu chỉnh đầy đủ, nhóm có độ rọi trung bình ban đêm từ 3 lx trở lên (so với dưới 3 lx) có mức tăng %WHtR lớn hơn (hệ số 0,959; KTC 95%: 0,230–1,687; P = 0,010) và mức tăng BMI lớn hơn (0,405; 0,011–0,799; P = 0,044). Thời gian ban đêm dưới 3 lx dài hơn liên quan với mức tăng %WHtR thấp hơn (−0,006 mỗi phút; P = 0,023).
Hạn chế
Tác giả nêu: chọn mẫu không ngẫu nhiên; chỉ 69% có dữ liệu theo dõi và người mất theo dõi có ánh sáng ban đêm cao hơn; chỉ người cao tuổi; đo 2 ngày, không đo tại mắt, không có dữ liệu bước sóng; nghiên cứu quan sát, không xác lập nhân quả.

Obayashi K, Saeki K, Kurumatani N (2016). Ambient Light Exposure and Changes in Obesity Parameters: A Longitudinal Study of the HEIJO-KYO Cohort. Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism 101(9). trích từ toàn văn · doi:10.1210/jc.2015-4123

Mô hình, vật liệu và tiêu chuẩn · 2

Brown và cs., 2022

Tiêu chuẩn, khuyến nghị · Nhiều nước

Đối tượng
Khuyến nghị đồng thuận của nhóm chuyên gia quốc tế, áp dụng cho người trưởng thành khoẻ mạnh 18–55 tuổi có lịch sinh hoạt ban ngày đều đặn.
Điều kiện
Ánh sáng trong nhà theo ba khung giờ: ban ngày, buổi tối (từ 3 giờ trước giờ ngủ) và trong khi ngủ; đại lượng là melanopic EDI theo CIE S 026, đo ở mặt phẳng đứng tại vị trí mắt (khoảng 1,2 m khi ngồi).
Đo gì
Ngưỡng melanopic EDI khuyến nghị để hỗ trợ nhịp sinh học, giấc ngủ và sự tỉnh táo.
Kết quả
Ban ngày: tối thiểu 250 lx melanopic EDI. Buổi tối, bắt đầu ít nhất 3 giờ trước giờ ngủ: tối đa 10 lx melanopic EDI. Môi trường ngủ ban đêm: tối đa 1 lx melanopic EDI tại mắt; nếu buộc phải có hoạt động cần nhìn trong đêm thì tối đa 10 lx.
Hạn chế
Là đồng thuận chuyên gia từ một hội thảo, không phải tổng quan hệ thống đầy đủ; bằng chứng chủ yếu từ thí nghiệm trong phòng lab với ánh sáng phổ rộng; chỉ áp dụng cho người trưởng thành khoẻ mạnh, chưa tính trẻ em, người cao tuổi, người làm ca; tác giả nêu độ nhạy cá nhân với ánh sáng buổi tối chênh nhau hơn 10 lần. Nhận xét biên tập: đại lượng là melanopic EDI, không phải lux thông thường đo bằng lux kế hay điện thoại; muốn so sánh cần biết phổ của đèn.

Brown TM, Brainard GC, Cajochen C, Czeisler CA, Hanifin JP, Lockley SW, et al. Recommendations for daytime, evening, and nighttime indoor light exposure to best support physiology, sleep, and wakefulness in healthy adults. PLoS Biology. 2022;20(3):e3001571. trích từ toàn văn · doi:10.1371/journal.pbio.3001571

Gutierrez-Martinez và cs., 2017

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Tây Ban Nha

Đối tượng
3 mẫu điện thoại (LG Nexus 5, Sony Xperia M2, BQ Aquaris X5) và một cảm biến Bluetooth ngoài, so với lux kế chuẩn PCE-174.
Điều kiện
Phòng tối, một bóng sợi đốt 220 W có chiết áp ở nhiều mức sáng; đo bằng cảm biến ánh sáng môi trường và camera của điện thoại.
Đo gì
Sai số tuyệt đối so với lux kế chuẩn.
Kết quả
Cảm biến ánh sáng của Nexus 5 chưa hiệu chuẩn sai 39,08%, sau hiệu chuẩn theo khoảng độ rọi còn 8,41%. Đo bằng camera (gộp ba máy) sai 10,02–12,93% trước hiệu chuẩn và 6,35–7,87% sau hiệu chuẩn. Cảm biến Bluetooth ngoài sai 2,70%.
Hạn chế
Tác giả nêu: mỗi máy cần hiệu chuẩn riêng bằng lux kế chuẩn, kể cả máy cùng đời cũng khác nhau; cảm biến điện thoại chỉ đọc ánh sáng trực tiếp; cảm biến trong máy kém chính xác hơn thiết bị chuyên dụng và chỉ nên dùng để ước lượng. Nhận xét biên tập: số mẫu máy ít, một nguồn sáng, một phòng; hệ số hiệu chuẩn tính từ chính các điểm đo dùng để đánh giá nên sai số sau hiệu chuẩn có thể lạc quan; nguồn sáng thử là đèn sợi đốt, chưa kiểm với đèn LED trắng phổ biến hiện nay; ở mức vài lux như phòng ngủ ban đêm, sai số tương đối có thể khác.

Gutierrez-Martinez JM, Castillo-Martinez A, Medina-Merodio JA, Aguado-Delgado J, Martinez-Herraiz JJ. Smartphones as a Light Measurement Tool: Case of Study. Applied Sciences. 2017;7(6):616. trích từ toàn văn · doi:10.3390/app7060616

Nhóm khác trong kho

  • Nhiệt
  • Ẩm
  • Âm thanh
  • Không khí
  • Bề mặt nằm
  • Nhịp và thói quen
  • Chất nạp vào