Tổng quan và phân tích gộp · 11
Du và cs., 2026
Tổng quan hệ thống · 16 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia (nhóm tác giả ở Trung Quốc) · nhiều vùng
- Đối tượng
- Tổng quan ô gồm 16 phân tích gộp (1 về RCT, 15 về nghiên cứu quan sát); cỡ mẫu các phân tích gộp từ 269 đến 1.936.503 người.
- Điều kiện
- Đánh giá chất lượng bằng AMSTAR-2 và GRADE; so người ngủ trưa với không ngủ trưa, phân tích theo độ dài giấc trưa.
- Đo gì
- Tử vong, bệnh tim mạch, đột quỵ, tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, suy giảm nhận thức.
- Kết quả
- Ngủ trưa gắn với nguy cơ tử vong mọi nguyên nhân cao hơn (HR 1,22; KTC 95% 1,14–1,31), đột quỵ (RR 1,47; 1,24–1,74) và bệnh tim mạch chung (RR 1,29; 1,18–1,40). Giấc trưa trên 60 phút gắn với tử vong (HR 1,15; 1,04–1,27), còn giấc trưa ≤60 phút không có liên hệ có ý nghĩa (HR 1,10; 0,92–1,32). Ở Trung Quốc, liên hệ với đái tháo đường (OR 1,25; 0,86–1,82) không có ý nghĩa.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: chất lượng phần lớn phân tích gộp thấp hoặc rất thấp theo AMSTAR-2 và GRADE; bằng chứng chủ yếu quan sát nên các liên hệ không thể hiểu là nhân quả và có thể bị nhiễu bởi chất lượng giấc ngủ ban đêm, điều kiện kinh tế–xã hội, bệnh kèm. Nhận xét biên tập: có thể có nhiễu ngược (người bệnh ngủ trưa nhiều hơn); số liệu bệnh mạch vành và tăng huyết áp ở phần Bàn luận dường như bị đảo so với phần Kết quả; chưa tách được ngủ trưa ngắn theo thói quen văn hoá (phổ biến ở Việt Nam) với ngủ trưa do bệnh.
Du P, Li J, Hua Z, Sun Y, Song S, Liao Y, Cheng S, Li X (2026). Multiple Health Outcomes of Daytime Napping: A Comprehensive Umbrella Review. Public Health Reviews 47:1609013. trích từ toàn văn · doi:10.3389/phrs.2026.1609013
Zhao và cs., 2025
Phân tích gộp · 195 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia (nhóm tác giả ở Thượng Hải, Trung Quốc) · nhiều vùng
- Đối tượng
- 11 nghiên cứu, tổng 195 người 18–60 tuổi làm ca luân phiên hoặc theo lịch ca đêm mô phỏng.
- Điều kiện
- Can thiệp chiếu sáng so với đối chứng; tài liệu 1990–2023; mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên.
- Đo gì
- Tổng thời gian ngủ, hiệu suất giấc ngủ.
- Kết quả
- Can thiệp chiếu sáng gắn với tổng thời gian ngủ dài hơn 32,54 phút (KTC 95% 21,67–43,41; p < 0,00001; I² = 57%) và hiệu suất giấc ngủ cao hơn 2,91 điểm phần trăm (KTC 95% 0,80–5,02). Độ rọi ở mức trung bình (900–6000 lx) trong ít nhất 1 giờ ban đêm cho thấy hiệu quả kéo dài thời gian ngủ rõ hơn.
- Hạn chế
- Tổng cỡ mẫu nhỏ (195 người), một số nghiên cứu dùng lịch ca mô phỏng; bài không nêu quốc gia của các nghiên cứu gốc. Nhận xét biên tập: phần Kết quả không ghi đơn vị, đơn vị phút lấy từ phần Bàn luận.
Zhao C, Li N, Miao W, He Y, Lin Y (2025). A systematic review and meta-analysis on light therapy for sleep disorders in shift workers. Scientific Reports 15. trích từ toàn văn · doi:10.1038/s41598-024-83789-3
Zhang và cs., 2022
Phân tích gộp · 27 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia (nhóm tác giả ở Trung Quốc) · nhiều vùng
- Đối tượng
- 27 nghiên cứu quan sát (chủ yếu cắt ngang, có một số nghiên cứu đoàn hệ) ở người không làm ca (19 về kiểu thời sinh, 8 về lệch giờ xã hội).
- Điều kiện
- So nhóm lệch giờ xã hội ≥1 giờ với <1 giờ; so kiểu thời sinh tối với kiểu sáng; mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên khi I² > 50%.
- Đo gì
- BMI, vòng eo, đường huyết, lipid máu.
- Kết quả
- Nhóm lệch giờ xã hội lớn có vòng eo lớn hơn (WMD 0,80 cm; KTC 95% 0,77–0,83; p < 0,001), nhưng BMI trung bình không khác biệt giữa hai nhóm lệch giờ. Người kiểu thời sinh tối có BMI cao hơn kiểu sáng (WMD 0,44 kg/m²; KTC 95% 0,30–0,57; p < 0,001).
- Hạn chế
- Toàn bộ là dữ liệu quan sát, không xác lập được nhân quả (phần hạn chế của tác giả gọi là dữ liệu cắt ngang); ít nghiên cứu về lệch giờ nên lực thống kê thấp; dị biệt cao (I² tới 96–97% ở một số phân nhóm); cách đo kiểu thời sinh khác nhau.
Zhang R, Cai X, Lin C, Yang W, Lv F, Wu J, Ji L (2022). The association between metabolic parameters and evening chronotype and social jetlag in non-shift workers: A meta-analysis. Frontiers in Endocrinology 13:1008820. trích từ toàn văn · doi:10.3389/fendo.2022.1008820
Caliandro và cs., 2021
Tổng quan · Hà Lan
- Đối tượng
- Tổng quan tường thuật các nghiên cứu về lệch giờ xã hội và béo phì, chuyển hoá, tim mạch, tâm thần.
- Điều kiện
- Tổng hợp nghiên cứu dịch tễ và cắt ngang.
- Đo gì
- BMI, chỉ số chuyển hoá, nhịp tim, triệu chứng trầm cảm.
- Kết quả
- Tổng quan nêu khoảng 70% dân số ở các nước công nghiệp có lệch giờ xã hội từ 1 giờ đến hơn 2 giờ. Trong nghiên cứu New Hoorn (n = 1.585), lệch giờ 2 giờ gắn với nguy cơ tiền đái tháo đường và đái tháo đường type 2 cao khoảng gấp đôi; lệch giờ trên 2 giờ gắn với nhịp tim lúc nghỉ cao hơn (n = 145). Bốn nghiên cứu về huyết áp không thấy liên hệ.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: bằng chứng chủ yếu từ nghiên cứu dịch tễ, cắt ngang nên khó suy nhân quả; nhiều nghiên cứu không hiệu chỉnh nợ ngủ; một số cỡ mẫu nhỏ; ít đo khách quan; chưa có dấu ấn sinh học khách quan cho lệch giờ. Nhận xét biên tập: phần tóm tắt ghi "hai phần ba" trong khi thân bài ghi 70%; tổng quan tường thuật, không gộp định lượng.
Caliandro R, Streng AA, van Kerkhof LWM, van der Horst GTJ, Chaves I (2021). Social Jetlag and Related Risks for Human Health: A Timely Review. Nutrients 13(12):4543. trích từ toàn văn · doi:10.3390/nu13124543
Pallesen và cs., 2021
Phân tích gộp · 22.014 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 29 nghiên cứu, tổng 22.014 người làm ca (13 nghiên cứu ở điều dưỡng).
- Điều kiện
- Phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên và hồi quy meta theo tiêu chuẩn chẩn đoán, cỡ mẫu, quốc gia.
- Đo gì
- Tỉ lệ hiện mắc rối loạn giấc ngủ do làm ca (shift work disorder).
- Kết quả
- Tỉ lệ hiện mắc gộp là 26,5% (KTC 95% 21,0–32,8%). Nghiên cứu dùng tiêu chuẩn ICSD-3 cho tỉ lệ thấp hơn ICSD-2 (p = 0,027); nghiên cứu cỡ mẫu lớn cho tỉ lệ thấp hơn (p = 0,006). Dị biệt rất cao (I² = 98,5%).
- Hạn chế
- Tác giả nêu: dị biệt rất cao, phần lớn dựa trên bảng hỏi tự báo cáo, ít dùng nhật ký hay actigraphy, ít mẫu đại diện, chủ yếu cắt ngang, có thể có hiệu ứng người làm ca khoẻ mạnh.
Pallesen S, Bjorvatn B, Waage S, Harris A, Sagoe D (2021). Prevalence of Shift Work Disorder: A Systematic Review and Meta-Analysis. Frontiers in Psychology 12:638252. trích từ toàn văn · doi:10.3389/fpsyg.2021.638252
Hilditch và cs., 2019
Tổng quan · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Tổng quan tường thuật các nghiên cứu thực nghiệm về quán tính giấc ngủ (trạng thái lơ mơ sau khi thức dậy).
- Điều kiện
- Tổng hợp nghiên cứu về thời điểm thức, giai đoạn giấc ngủ khi thức, mức thiếu ngủ trước đó, độ dài giấc chợp.
- Đo gì
- Hiệu suất nhận thức sau khi thức dậy.
- Kết quả
- Chỉ số khách quan thường trở về mức trước khi ngủ trong vòng 30 phút (đôi khi 15 phút), nhưng hồi phục hoàn toàn cần ít nhất 1 giờ; một nghiên cứu ghi nhận khả năng làm phép cộng còn bị suy giảm tới 3,5 giờ sau khi thức. Một nghiên cứu ghi nhận hiệu suất giảm 41% khi bị đánh thức từ giấc ngủ sóng chậm. Giấc chợp ≤30 phút ít gây quán tính hơn, nhưng vẫn có thể gây suy giảm khi đã thức kéo dài.
- Hạn chế
- Tổng quan tường thuật, không gộp định lượng; nhiều kết quả từ các nghiên cứu nhỏ trong phòng thí nghiệm, bằng chứng về giai đoạn giấc ngủ còn trái chiều.
Hilditch CJ, McHill AW (2019). Sleep inertia: current insights. Nature and Science of Sleep 11:155–165. trích từ toàn văn · doi:10.2147/nss.s188911
Roenneberg và cs., 2019
Tổng quan · Đức
- Đối tượng
- Tổng quan phương pháp về MCTQ, kiểu thời sinh và lệch giờ xã hội; dữ liệu cơ sở MCTQ trực tuyến gần 300.000 lượt.
- Điều kiện
- Định nghĩa: lệch giờ xã hội = |MSF − MSW| (điểm giữa giấc ngủ ngày nghỉ trừ ngày làm); kiểu thời sinh = MSFsc (hiệu chỉnh nợ ngủ).
- Đo gì
- Tính hợp lệ của cách đo kiểu thời sinh và lệch giờ xã hội.
- Kết quả
- MCTQ đã dùng hơn 15 năm, bài gốc được trích dẫn 1.240 lần; bản trực tuyến đến 7/2017 thu gần 300.000 lượt, dịch ra 13 ngôn ngữ; phần lõi có 17 câu hỏi, bản rút gọn µMCTQ có 6 câu. Tác giả lưu ý kết quả liên hệ giữa lệch giờ xã hội và sức khoẻ không nhất quán, một phần do khác biệt phương pháp và đa số nghiên cứu là cắt ngang.
- Hạn chế
- Tác giả nêu MCTQ giả định lịch làm việc cố định, khó áp dụng cho người làm giờ linh hoạt; hiệu chỉnh nợ ngủ là đơn giản hoá. Nhận xét biên tập: là tổng quan tự phê bình của chính nhóm xây dựng công cụ.
Roenneberg T, Pilz LK, Zerbini G, Winnebeck EC (2019). Chronotype and Social Jetlag: A (Self-) Critical Review. Biology 8(3):54. trích từ toàn văn · doi:10.3390/biology8030054
de Zambotti và cs., 2019
Tổng quan · Hoa Kỳ, Ý
- Đối tượng
- Tổng quan các nghiên cứu thẩm định thiết bị đeo tiêu dùng so với đa ký giấc ngủ (chỉ bài tiếng Anh).
- Điều kiện
- Tổng hợp các nghiên cứu thẩm định, phần lớn một đêm trong phòng thí nghiệm, mẫu nhỏ.
- Đo gì
- Độ nhạy, độ đặc hiệu, sai lệch thời gian ngủ và thức, mất dữ liệu.
- Kết quả
- Thiết bị đeo tiêu dùng có độ nhạy phát hiện ngủ trên 90% nhưng độ đặc hiệu phát hiện thức thấp, dẫn tới ước tính dư tổng thời gian ngủ và ước tính thiếu thời gian thức sau khi đã ngủ. Tỉ lệ dữ liệu không dùng được giữa các nghiên cứu dao động khoảng 2%–86%. Actigraphy lâm sàng có độ đặc hiệu thức khoảng 27%–77% ở người khoẻ mạnh.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: thuật toán đóng, thay đổi firmware không báo trước, phần lớn thẩm định ở người khoẻ mạnh trong phòng thí nghiệm; thiết bị tiêu dùng không dùng để chẩn đoán. Nhận xét biên tập: các mẫu thiết bị trong tổng quan nay phần lớn đã ngừng sản xuất.
de Zambotti M, Cellini N, Goldstone A, Colrain IM, Baker FC (2019). Wearable Sleep Technology in Clinical and Research Settings. Medicine & Science in Sports & Exercise 51(7):1538–1557. trích từ toàn văn · doi:10.1249/mss.0000000000001947
Beauvalet và cs., 2017
Tổng quan hệ thống · 26 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 26 nghiên cứu quan sát (khoảng 80% cắt ngang) ở sinh viên, học sinh, người làm ca và làm ngày, người lớn nông thôn và thành thị.
- Điều kiện
- Tìm trên PubMed, Scopus, Embase, LILACS đến 22/8/2016.
- Đo gì
- Chuyển hoá–tim mạch, khí sắc, kết quả học tập–nhận thức.
- Kết quả
- Trong 26 nghiên cứu, một nghiên cứu (Rutters và cộng sự) ghi nhận người lệch giờ từ 2 giờ trở lên có hồ sơ nội tiết và nguy cơ tim mạch kém hơn người lệch giờ từ 1 giờ trở xuống; lệch giờ trên 2 giờ gắn với nhiều triệu chứng trầm cảm hơn trong một nghiên cứu khác ở người lớn nông thôn. Kết quả về chuyển hoá và khí sắc không nhất quán; một số nghiên cứu liên hệ lệch giờ với kết quả học tập kém hơn, nhưng có nghiên cứu cho kết quả lẫn lộn hoặc không thấy khác biệt.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: phương pháp đo lệch giờ rất khác nhau, nguy cơ sai lệch cao, chủ yếu tự báo cáo (chỉ 2 nghiên cứu dùng actigraphy), không có ngưỡng thống nhất, nhiễu theo mùa, vĩ độ. Nhận xét biên tập: hầu như không có dữ liệu vùng nhiệt đới.
Beauvalet JC, Quiles CL, Oliveira MAB, Ilgenfritz CAV, Hidalgo MP, Tonon AC (2017). Social jetlag in health and behavioral research: a systematic review. ChronoPhysiology and Therapy 7:19–31. trích từ toàn văn · doi:10.2147/CPT.S108750
Cappuccio và cs., 2010
Phân tích gộp · 1.382.999 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 16 nghiên cứu thuần tập tiến cứu (27 mẫu thuần tập độc lập), tổng 1.382.999 nam và nữ, 112.566 ca tử vong.
- Điều kiện
- Thời lượng ngủ tự báo cáo bằng bảng hỏi lúc ban đầu; theo dõi 4–25 năm; so với nhóm ngủ thời lượng tham chiếu.
- Đo gì
- Tử vong do mọi nguyên nhân.
- Kết quả
- Ngủ ngắn gắn với nguy cơ tử vong cao hơn (RR gộp 1,12; KTC 95% 1,06–1,18; P < 0,01). Ngủ dài gắn với nguy cơ cao hơn nữa (RR 1,30; KTC 95% 1,22–1,38; P < 0,0001). Có dị biệt đáng kể giữa các nghiên cứu.
- Hạn chế
- Thời lượng ngủ tự báo cáo; ngưỡng ngủ ngắn/dài do từng nghiên cứu tự định nghĩa; nghiên cứu quan sát nên không suy ra nhân quả và có thể có nhiễu ngược (bệnh nền làm ngủ dài). Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; phần tóm tắt không nêu ngưỡng giờ cụ thể.
Cappuccio FP, D'Elia L, Strazzullo P, Miller MA (2010). Sleep duration and all-cause mortality: a systematic review and meta-analysis of prospective studies. Sleep 33(5):585–592. trích từ tóm tắt · doi:10.1093/sleep/33.5.585
Ohayon và cs., 2004
Phân tích gộp · 3.577 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 65 nghiên cứu (1960–2003), tổng 3.577 người khoẻ mạnh 5–102 tuổi, đo bằng đa ký giấc ngủ hoặc actigraphy.
- Điều kiện
- Gộp các thông số giấc ngủ đo khách quan theo tuổi.
- Đo gì
- Tổng thời gian ngủ, hiệu suất giấc ngủ, tỉ lệ ngủ sóng chậm, REM, độ trễ vào giấc.
- Kết quả
- Ở người lớn, tổng thời gian ngủ, hiệu suất giấc ngủ, tỉ lệ ngủ sóng chậm và REM giảm theo tuổi, còn độ trễ vào giấc tăng theo tuổi. Hiệu suất giấc ngủ là thông số duy nhất tiếp tục giảm sau 60 tuổi. Ở trẻ em và thanh thiếu niên, thời gian ngủ chỉ giảm theo tuổi trong các nghiên cứu ghi vào ngày đi học.
- Hạn chế
- Mức độ sàng lọc bệnh lý của từng nghiên cứu ảnh hưởng đến độ lớn liên hệ với tuổi; ít dữ liệu ở trẻ tuổi đi học, thanh thiếu niên, trung niên và về chủng tộc. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; tóm tắt không nêu tốc độ giảm theo thập kỷ.
Ohayon MM, Carskadon MA, Guilleminault C, Vitiello MV (2004). Meta-analysis of quantitative sleep parameters from childhood to old age in healthy individuals: developing normative sleep values across the human lifespan. Sleep 27(7):1255–1273. Bản ghi Europe PMC. trích từ tóm tắt · doi:10.1093/sleep/27.7.1255
Nghiên cứu quan sát · 17
Robbins và cs., 2024
Nghiên cứu cắt ngang · n = 35 · Hoa Kỳ · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- 35 người trưởng thành khoẻ mạnh 20–50 tuổi không có rối loạn giấc ngủ (dữ liệu Fitbit 33 người, Apple Watch 29 người).
- Điều kiện
- Một đêm nội trú, giấc ngủ 8 giờ theo lịch; Oura Ring Gen3, Fitbit Sense 2, Apple Watch Series 8 so với đa ký giấc ngủ.
- Đo gì
- Độ nhạy ngủ/thức, phân giai đoạn (kappa), tổng thời gian ngủ.
- Kết quả
- Độ nhạy phát hiện ngủ ≥95% với cả ba thiết bị. Tổng thời gian ngủ không khác đáng kể so với đa ký (Oura khoảng −9 phút, Fitbit −3 phút, Apple +8 phút). Hệ số kappa bốn giai đoạn: Oura 0,65, Fitbit 0,55, Apple 0,60; Fitbit và Apple ước tính dư ngủ nông, thiếu ngủ sâu.
- Hạn chế
- Một đêm, mẫu nhỏ, người khoẻ mạnh, trong phòng thí nghiệm; tác giả nêu có thể ước tính quá mức độ phù hợp. Nghiên cứu do Oura Ring Inc. tài trợ và tác giả chính là cố vấn của Oura (xung đột lợi ích).
Robbins R, Weaver MD, Sullivan JP, Quan SF, Gilmore K, Shaw S, Benz A, Qadri S, Barger LK, Duffy JF (2024). Accuracy of Three Commercial Wearable Devices for Sleep Tracking in Healthy Adults. Sensors 24(20):6532. (Nghiên cứu do một nhà sản xuất thiết bị tài trợ.) trích từ toàn văn · doi:10.3390/s24206532
Windred và cs., 2024
Nghiên cứu thuần tập · n = 60.977 · Vương quốc Anh · ôn đới
- Đối tượng
- 60.977 người tham gia UK Biobank (tuổi trung bình 62,8 ± 7,8; 55% nữ), hơn 10 triệu giờ dữ liệu gia tốc kế.
- Điều kiện
- SRI tính từ gia tốc kế đeo cổ tay; trung vị SRI 81,0 (IQR 73,8–86,3); so 4 ngũ phân vị trên với ngũ phân vị kém đều nhất; theo dõi trung bình 6,3 năm, 1.859 ca tử vong.
- Đo gì
- Tử vong do mọi nguyên nhân, ung thư, tim mạch–chuyển hoá.
- Kết quả
- Ngủ đều đặn hơn gắn với nguy cơ tử vong mọi nguyên nhân thấp hơn 20%–48% (p < 0,001 đến p = 0,004), tử vong ung thư thấp hơn 16%–39% và tử vong tim mạch–chuyển hoá thấp hơn 22%–57%. Độ đều đặn dự báo tử vong mạnh hơn thời lượng ngủ.
- Hạn chế
- Nghiên cứu quan sát, không suy ra nhân quả. Nhận xét biên tập: người tham gia UK Biobank lớn tuổi và khoẻ hơn trung bình dân số; khí hậu ôn đới; chỉ đọc tóm tắt.
Windred DP, Burns AC, Lane JM, Saxena R, Rutter MK, Cain SW, Phillips AJK (2024). Sleep regularity is a stronger predictor of mortality risk than sleep duration: A prospective cohort study. Sleep 47(1):zsad253 (đọc tóm tắt, phương pháp, kết quả, Bảng 1; chưa đọc phần bàn luận). trích từ tóm tắt · doi:10.1093/sleep/zsad253
Chen và cs., 2023
Nghiên cứu thuần tập · n = 409.156 · Trung Quốc · nhiều vùng
- Đối tượng
- 409.156 người trưởng thành Trung Quốc (tuổi trung bình 52, 59% nữ) không có bệnh mạch vành, đột quỵ hay triệu chứng mất ngủ lúc ban đầu, từ thuần tập China Kadoorie Biobank.
- Điều kiện
- Thời lượng ngủ tự báo cáo (tính cả ngủ trưa) chia nhóm ≤5, 6, 7, 8, 9, ≥10 giờ; tham chiếu 7–8 giờ; theo dõi khoảng 9 năm.
- Đo gì
- Đột quỵ và biến cố mạch vành chính.
- Kết quả
- Ngủ ≥10 giờ gắn với nguy cơ đột quỵ cao hơn (HR 1,12; KTC 95% 1,07–1,16) và biến cố mạch vành chính cao hơn (HR 1,22; 1,12–1,33) so với 7–8 giờ. Ngủ ≥9 giờ gắn với nguy cơ đột quỵ cao hơn khoảng 5%.
- Hạn chế
- Ngủ trưa được gộp vào tổng thời lượng ngủ và không ghi riêng; không đo ngưng thở khi ngủ; thời lượng tự báo cáo; có thể còn nhiễu và nhiễu ngược. Nhận xét biên tập: Trung Quốc gồm nhiều vùng khí hậu, kể cả phía nam cận nhiệt đới ẩm.
Chen Y, Kartsonaki C, Clarke R và cộng sự (2023). Sleep duration and risk of stroke and coronary heart disease: a 9-year community-based prospective study of 0.5 million Chinese adults. BMC Neurology 23:327. trích từ toàn văn · doi:10.1186/s12883-023-03367-4
Lee và cs., 2023
Nghiên cứu cắt ngang · n = 75 · Hàn Quốc · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- 75 người (39 nam, 36 nữ), tuổi trung bình 43,6 ± 14,1, gồm người được chỉ định đa ký vì nghi rối loạn giấc ngủ và người có than phiền về giấc ngủ; AHI trung bình 18,2.
- Điều kiện
- Đa ký giấc ngủ tại phòng thí nghiệm đồng thời với 11 thiết bị: 5 đeo người, 3 đặt gần giường, 3 dùng âm thanh qua điện thoại (airable).
- Đo gì
- Phân giai đoạn giấc ngủ (macro F1), sai lệch hiệu suất giấc ngủ, độ trễ vào giấc.
- Kết quả
- Điểm macro F1 phân giai đoạn cao nhất 0,69 (SleepRoutine) và thấp nhất 0,26 (Pillow). Về hiệu suất giấc ngủ, Galaxy Watch 5 có sai lệch nhỏ nhất (−0,4%).
- Hạn chế
- Tác giả nêu: tỉ lệ thu dữ liệu khác nhau giữa hai cơ sở, đặc điểm người tham gia khác nhau, chỉ người Hàn Quốc, đo trong phòng thí nghiệm. Nhận xét biên tập: một phần người tham gia có ngưng thở khi ngủ nên khác nhóm người khoẻ mạnh.
Lee T, Cho Y, Cha KS, Jung J, Cho J, Kim H, Kim D, Hong J, Lee D, Keum M, Kushida CA, Yoon IY, Kim JW (2023). Accuracy of 11 Wearable, Nearable, and Airable Consumer Sleep Trackers: Prospective Multicenter Validation Study. JMIR mHealth and uHealth 11:e50983. trích từ toàn văn · doi:10.2196/50983
Tran và cs., 2023
Nghiên cứu bệnh–chứng · n = 1.740 · Việt Nam (Hà Nội) · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 870 ca u tuyến đại trực tràng và 870 chứng ghép cặp, từ chương trình tầm soát đại trực tràng 103.542 người từ 40 tuổi trở lên.
- Điều kiện
- Thời lượng ngủ tự báo cáo, chia ngắn (≤6 giờ/ngày), bình thường (7–8 giờ), dài (>8 giờ).
- Đo gì
- U tuyến đại trực tràng (tiến triển và không tiến triển).
- Kết quả
- So với ngủ 7–8 giờ, ngủ ≤6 giờ gắn với tỉ lệ có u tuyến đại trực tràng cao hơn (OR 1,48; KTC 95% 1,12–1,97); ở nữ OR 1,58 (1,14–2,18), ở nam OR 1,45 (1,08–1,93). Liên quan thấy ở cả u tuyến tiến triển (OR 1,61; 1,09–2,38) và không tiến triển (OR 1,66; 1,19–2,32).
- Hạn chế
- Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; thiết kế bệnh–chứng, thời lượng ngủ tự báo cáo, nên chỉ cho thấy liên quan, không suy ra nhân quả.
Tran CTD, Paragomi P, Tran MT, Nguyen MVT và cộng sự (2023). Association between Sleep Duration and Colorectal Adenomas: Findings from a Case-Control Study in Vietnam. Cancer Epidemiology, Biomarkers & Prevention 32(9):1160–1168. trích từ tóm tắt · doi:10.1158/1055-9965.epi-23-0056
Miller và cs., 2022
Nghiên cứu cắt ngang · n = 53 · Úc · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- 53 người trưởng thành khoẻ mạnh (26 nữ, 27 nam), tuổi trung bình khoảng 25.
- Điều kiện
- Một đêm trong phòng thí nghiệm, 9 giờ trên giường (23:00–08:00); Apple Watch S6, Garmin Forerunner 245, Polar Vantage V, Oura thế hệ 2, WHOOP 3.0, Somfit so với đa ký giấc ngủ và ECG.
- Đo gì
- Sai lệch tổng thời gian ngủ, độ nhạy/đặc hiệu theo epoch, phân giai đoạn.
- Kết quả
- Apple Watch ước tính dư tổng thời gian ngủ trung bình 39,5 phút và Garmin 43,8 phút; Oura (+1,5 phút) và Polar (−0,8 phút) gần đa ký nhất. Độ nhạy phát hiện ngủ 90–98%, phát hiện thức chỉ 26–57%. Phân giai đoạn tốt nhất ở Somfit (đồng thuận 65%, κ = 0,52); đồng thuận thấp nhất ở Garmin (50%, κ = 0,25) và κ thấp nhất ở Apple Watch (53%, κ = 0,20).
- Hạn chế
- Người trẻ khoẻ mạnh, một đêm trong phòng thí nghiệm; một số thiết bị chỉ xuất dữ liệu theo epoch 5 phút; mẫu thiết bị mới hơn chưa được thử. Nghiên cứu do Australian Institute of Sport tài trợ; phòng thí nghiệm của ba tác giả (The Sleep Lab, CQUniversity) nhận hỗ trợ nghiên cứu từ WHOOP, dù bài nêu WHOOP không tham gia thiết kế hay báo cáo.
Miller DJ, Sargent C, Roach GD (2022). A Validation of Six Wearable Devices for Estimating Sleep, Heart Rate and Heart Rate Variability in Healthy Adults. Sensors 22(16):6317. trích từ toàn văn · doi:10.3390/s22166317
Mograss và cs., 2022
Đo thực địa · n = 62 · Canada · ôn đới
- Đối tượng
- 62 người trưởng thành trẻ khoẻ mạnh (tuổi trung bình 23,5 ± 4,2), đo actigraphy 8 ngày.
- Điều kiện
- Phân nhóm: không ngủ trưa, ngủ trưa vừa (1–2 lần/8 ngày), thường xuyên (≥3 lần); trưa ngắn ≤60 phút, dài >60 phút; trưa sớm (≥7 giờ trước giấc đêm) và muộn (<7 giờ).
- Đo gì
- Phân mảnh giấc ngủ đêm, thời lượng, hiệu suất giấc ngủ, số lần thức.
- Kết quả
- Người ngủ trưa thường xuyên có giấc ngủ đêm phân mảnh hơn người ngủ trưa vừa (p < 0,01) và người không ngủ trưa (p < 0,02). Giấc trưa muộn gắn với các chỉ số giấc ngủ đêm kém hơn giấc trưa sớm (p ≤ 0,02); độ dài giấc trưa không liên hệ đáng kể (p > 0,05). Độ phân mảnh tương quan với hiệu suất giấc ngủ thấp hơn (r = −0,32).
- Hạn chế
- Mẫu nhỏ, chỉ người trẻ khoẻ mạnh, quan sát 8 ngày. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt.
Mograss M, Abi-Jaoude J, Frimpong E, Chalati D, Moretto U, Tarelli L, Lim A, Dang-Vu TT (2022). The effects of napping on night-time sleep in healthy young adults. Journal of Sleep Research 31(5):e13578. trích từ tóm tắt · doi:10.1111/jsr.13578
Chinoy và cs., 2021
Nghiên cứu cắt ngang · n = 34 · Hoa Kỳ · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- 34 người trưởng thành trẻ khoẻ mạnh (22 nữ), 28,1 ± 3,9 tuổi.
- Điều kiện
- Ba đêm liên tiếp trong phòng thí nghiệm (một đêm bị làm gián đoạn); 4 thiết bị đeo và 3 thiết bị không đeo, so với đa ký giấc ngủ và actigraphy Actiwatch 2.
- Đo gì
- Độ nhạy, độ đặc hiệu theo từng epoch; sai lệch tổng thời gian ngủ; phân giai đoạn.
- Kết quả
- Độ nhạy phát hiện ngủ cao (đều ≥0,93) nhưng độ đặc hiệu phát hiện thức thấp đến trung bình (0,18–0,54). Sai lệch tổng thời gian ngủ so với đa ký từ khoảng −0,3 phút (ResMed S+) đến +46,8 phút (Garmin Vivosmart 3), actigraphy +23,9 phút. Phân giai đoạn không nhất quán; độ chính xác giảm vào đêm ngủ bị gián đoạn.
- Hạn chế
- Mẫu nhỏ người trẻ khoẻ mạnh, đo trong phòng thí nghiệm; mỗi người chỉ đeo một phần các thiết bị. Nhận xét biên tập: thiết bị và thuật toán đã thay đổi sau năm thử nghiệm.
Chinoy ED, Cuellar JA, Huwa KE, Jameson JT, Watson CH, Bessman SC, Hirsch DA, Cooper AD, Drummond SPA, Markwald RR (2021). Performance of seven consumer sleep-tracking devices compared with polysomnography. Sleep 44(5):zsaa291. trích từ toàn văn · doi:10.1093/sleep/zsaa291
Li và cs., 2021
Nghiên cứu cắt ngang · n = 2.214 · Trung Quốc
- Đối tượng
- 2.214 người cao tuổi Trung Quốc (1.534 người ngủ trưa, 680 người không ngủ trưa); 739 người làm thêm xét nghiệm lipid máu.
- Điều kiện
- So sánh nhóm ngủ trưa với không ngủ trưa bằng MoCA bản Bắc Kinh, MMSE và bộ test thần kinh tâm lý.
- Đo gì
- Chức năng nhận thức, lipid máu.
- Kết quả
- Trong 2.214 người cao tuổi, nhóm ngủ trưa (1.534 người) có điểm định hướng, ngôn ngữ và trí nhớ tốt hơn nhóm không ngủ trưa (680 người); nhóm ngủ trưa có triglyceride cao hơn. Tóm tắt không nêu điểm số cụ thể.
- Hạn chế
- Cắt ngang, không suy ra nhân quả; tóm tắt không định nghĩa độ dài giấc trưa. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; khó đặt cạnh các phân tích gộp về nguy cơ của ngủ trưa dài vì không rõ độ dài giấc trưa và kết cục khác nhau (nhận thức so với tử vong, tim mạch).
Li W, Li X, Xiao S, Sun L, Cai H, Su N (2021). Relationship between afternoon napping and cognitive function in the ageing Chinese population. General Psychiatry 34(1). trích từ tóm tắt · doi:10.1136/gpsych-2020-100361
Svensson và cs., 2021
Nghiên cứu thuần tập · n = 322.721 · Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc · nhiều vùng
- Đối tượng
- 322.721 người trưởng thành từ 9 thuần tập thuộc Asia Cohort Consortium.
- Điều kiện
- Thời lượng ngủ tự báo cáo, chia nhóm ≤5, 6, 7, 8, 9, ≥10 giờ; nhóm tham chiếu 7 giờ; theo dõi trung bình 14,0 năm ở nam và 13,4 năm ở nữ.
- Đo gì
- Tử vong do mọi nguyên nhân và theo nguyên nhân chính.
- Kết quả
- So với ngủ 7 giờ, ngủ ≥10 giờ gắn với nguy cơ tử vong mọi nguyên nhân cao hơn sau hiệu chỉnh đa biến: HR 1,34 (KTC 95% 1,26–1,44) ở nam và 1,48 (1,36–1,61) ở nữ. Đây là nhóm có liên hệ mạnh nhất; ngủ ≤5 giờ cũng gắn với nguy cơ tử vong mọi nguyên nhân tăng có ý nghĩa ở cả nam và nữ (số liệu chi tiết nằm trong phụ lục).
- Hạn chế
- Thời lượng ngủ tự báo cáo, đo một lần; bảng hỏi không thống nhất giữa các thuần tập (một số gộp cả ngủ trưa); thiếu dữ liệu chất lượng giấc ngủ, trầm cảm, kinh tế–xã hội nên có thể còn nhiễu; không suy ra nhân quả. Nhận xét biên tập: là một trong ít bằng chứng lớn ở Đông Á, gần bối cảnh Việt Nam hơn các thuần tập Âu–Mỹ.
Svensson T, Saito E, Svensson AK và cộng sự (2021). Association of Sleep Duration With All- and Major-Cause Mortality Among Adults in Japan, China, Singapore, and Korea. JAMA Network Open 4(9):e2122837. trích từ toàn văn · doi:10.1001/jamanetworkopen.2021.22837
Kim và cs., 2020
Nghiên cứu cắt ngang · n = 8.295 · Hàn Quốc · ôn đới
- Đối tượng
- 8.295 người lớn từ 20 tuổi (3.417 nam, 4.878 nữ), không làm ca, từ khảo sát quốc gia KNHANES VII 2016–2017.
- Điều kiện
- Lệch giờ xã hội = chênh lệch điểm giữa giấc ngủ cuối tuần và ngày thường, tự báo cáo; nhóm <1 giờ, 1–2 giờ, >2 giờ.
- Đo gì
- Thay đổi cân nặng tự báo cáo trong năm qua.
- Kết quả
- Nam có lệch giờ xã hội trên 2 giờ có nguy cơ tăng cân cao hơn nhóm dưới 1 giờ (OR 1,787; KTC 95% 1,192–2,679) sau hiệu chỉnh cả thời lượng ngủ. Ở nữ không có liên hệ đáng kể sau hiệu chỉnh.
- Hạn chế
- Cắt ngang, không suy ra nhân quả; giờ ngủ và thay đổi cân nặng đều tự báo cáo; không đo mỡ cơ thể; chưa giải thích được khác biệt theo giới. Nhận xét biên tập: một trong ít dữ liệu quốc gia ở châu Á.
Kim JH, Lyu YS, Kim SY (2020). Impact of Social Jetlag on Weight Change in Adults: Korean National Health and Nutrition Examination Survey 2016–2017. Int J Environ Res Public Health 17(12):4383. trích từ toàn văn · doi:10.3390/ijerph17124383
Åkerstedt và cs., 2019
Nghiên cứu thuần tập · n = 43.880 · Thuỵ Điển · ôn đới
- Đối tượng
- 43.880 người, theo dõi 13 năm qua liên kết hồ sơ đăng ký.
- Điều kiện
- Thời lượng ngủ ngày thường và cuối tuần tự báo cáo; nhóm tham chiếu là ngủ 7 giờ (riêng phân tích kết hợp ngày thường và cuối tuần dùng nhóm ngủ đều 6–7 giờ mỗi ngày); phân tích riêng người dưới và từ 65 tuổi.
- Đo gì
- Tử vong do mọi nguyên nhân.
- Kết quả
- Ở người dưới 65 tuổi, ngủ cuối tuần ≤5 giờ gắn với tỉ lệ tử vong cao hơn 52% (HR 1,52; KTC 95% 1,15–2,02); ngủ ngắn cả ngày thường lẫn cuối tuần có HR 1,65 (1,22–2,23) so với ngủ đều 6–7 giờ. Người ngủ ngắn ngày thường nhưng ngủ dài cuối tuần không khác nhóm tham chiếu. Ở người từ 65 tuổi không thấy liên hệ.
- Hạn chế
- Thời lượng ngủ tự báo cáo, đo một lần; nghiên cứu quan sát, không suy ra nhân quả. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; kết quả trái chiều với thực nghiệm Depner 2019 về chuyển hoá, nên không thể kết luận ngủ bù cuối tuần bù đắp được thiếu ngủ.
Åkerstedt T, Ghilotti F, Grotta A, Zhao H, Adami HO, Trolle-Lagerros Y, et al. (2019). Sleep duration and mortality – Does weekend sleep matter? Journal of Sleep Research 28(1):e12712. trích từ tóm tắt · doi:10.1111/jsr.12712
Lunsford-Avery và cs., 2018
Nghiên cứu cắt ngang · n = 1.978 · Hoa Kỳ · nhiều vùng
- Đối tượng
- 1.978 người cao tuổi (tuổi trung bình 68,7 ± 9,2) trong nghiên cứu MESA, đo bằng actigraphy.
- Điều kiện
- Tính SRI từ dữ liệu actigraphy; phân tích liên hệ với các yếu tố nguy cơ tim mạch–chuyển hoá.
- Đo gì
- Nguy cơ bệnh tim mạch 10 năm, béo phì, tăng huyết áp, đường huyết lúc đói, HbA1c, đái tháo đường, căng thẳng, trầm cảm.
- Kết quả
- Ở 1.978 người cao tuổi, giấc ngủ kém đều (SRI thấp) gắn với thời điểm ngủ muộn hơn, ngủ ngày và buồn ngủ nhiều hơn, tiếp xúc ánh sáng ít hơn; các liên hệ này độc lập với thời lượng ngủ. Giấc ngủ kém đều cũng tương quan với nguy cơ tim mạch 10 năm cao hơn, béo phì, tăng huyết áp, đường huyết lúc đói, HbA1c và đái tháo đường.
- Hạn chế
- Thiết kế cắt ngang, không suy ra nhân quả; tác giả nêu cơ chế và hiệu quả can thiệp còn cần nghiên cứu. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, không có hệ số cụ thể.
Lunsford-Avery JR, Engelhard MM, Navar AM, Kollins SH (2018). Validation of the Sleep Regularity Index in Older Adults and Associations with Cardiometabolic Risk. Scientific Reports 8:14158. trích từ tóm tắt · doi:10.1038/s41598-018-32402-5
Phillips và cs., 2017
Nghiên cứu cắt ngang · n = 61 · Hoa Kỳ · ôn đới
- Đối tượng
- 61 sinh viên đại học, theo dõi 30 ngày bằng nhật ký giấc ngủ.
- Điều kiện
- Định lượng độ đều đặn bằng chỉ số mới Sleep Regularity Index (SRI); so sánh nhóm ngũ phân vị đều nhất và kém đều nhất.
- Đo gì
- Giờ khởi phát melatonin trong ánh sáng mờ (DLMO), kết quả học tập.
- Kết quả
- Ở 12 người ngủ kém đều nhất so với 12 người đều đặn nhất (hai nhóm ngũ phân vị), DLMO muộn hơn (00:08 ± 1:54 so với 21:32 ± 1:48; p < 0,003), tức chênh khoảng 2,6 giờ theo giờ trung bình. Kết quả học tập tương quan dương với SRI (r = 0,37; p < 0,004).
- Hạn chế
- Mẫu nhỏ, chỉ sinh viên một trường; nghiên cứu quan sát nên không suy ra nhân quả. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt.
Phillips AJK, Clerx WM, O'Brien CS, Sano A, Barger LK, Picard RW, Lockley SW, Klerman EB, Czeisler CA (2017). Irregular sleep/wake patterns are associated with poorer academic performance and delayed circadian and sleep/wake timing. Scientific Reports 7:3216 (bản lưu Harvard DASH). trích từ tóm tắt · doi:10.1038/s41598-017-03171-4
Roenneberg và cs., 2012
Nghiên cứu cắt ngang · n = 65.000 · Trung Âu · ôn đới
- Đối tượng
- Hơn 65.000 người trả lời MCTQ sau kiểm soát chất lượng, chủ yếu ở Trung Âu; hồi quy logistic gồm 20.735 người thừa cân (BMI ≥25) và 43.308 người cân nặng bình thường.
- Điều kiện
- Lệch giờ xã hội tính bằng chênh lệch điểm giữa giấc ngủ ngày nghỉ và ngày làm (MCTQ).
- Đo gì
- Thừa cân, BMI.
- Kết quả
- Khoảng 69% người trong cơ sở dữ liệu có lệch giờ xã hội ít nhất 1 giờ (phần tóm tắt nổi bật ghi 70%) và khoảng một phần ba có từ 2 giờ trở lên. Lệch giờ xã hội đi kèm xác suất thuộc nhóm thừa cân cao hơn, độc lập với thời lượng ngủ (OR 3,30; KTC 95% 2,512–4,334); ở nhóm cân nặng bình thường không thấy liên hệ đáng kể.
- Hạn chế
- Cắt ngang, tự báo cáo trực tuyến, mẫu tự chọn; không suy ra nhân quả. Bài không nêu rõ đơn vị của biến dự báo cho OR. Nhận xét biên tập: quần thể ôn đới châu Âu, tỉ lệ có thể khác ở Việt Nam.
Roenneberg T, Allebrandt KV, Merrow M, Vetter C (2012). Social jetlag and obesity. Current Biology 22(10):939–943. Bản ghi Europe PMC. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.cub.2012.03.038
Dautovich và cs., 2008
Đo thực địa · n = 100 · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- 100 người cao tuổi sống tại cộng đồng, 60–89 tuổi, có ngủ trưa.
- Điều kiện
- 12 ngày actigraphy và nhật ký giấc ngủ; giấc chợp tối định nghĩa là trong vòng 2 giờ trước giờ đi ngủ.
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc, thời gian thức sau khi đã ngủ, hiệu suất giấc ngủ.
- Kết quả
- So với nhóm chỉ ngủ ban ngày, nhóm ngủ cả ngày lẫn chiều tối có độ trễ vào giấc đo khách quan ngắn hơn (20 so với 26,5 phút) và thời gian thức sau khi đã ngủ ít hơn (51,4 so với 72,8 phút). Tác giả kết luận chợp mắt buổi tối không gắn với giấc ngủ đêm kém hơn ở nhóm này.
- Hạn chế
- Mẫu nhỏ, người cao tuổi; người chợp mắt buổi tối khai báo ít giấc chợp tối hơn thực tế. Tóm tắt ghi hiệu suất giấc ngủ 76,8% so với 82% nhưng mô tả là "cao hơn", có vẻ là lỗi. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt.
Dautovich ND, McCrae CS, Rowe MA (2008). Subjective and objective napping and sleep in older adults: Are evening naps "bad" for nighttime sleep? Journal of the American Geriatrics Society 56(9):1681–1686. trích từ tóm tắt · doi:10.1111/j.1532-5415.2008.01822.x
Wittmann và cs., 2006
Nghiên cứu cắt ngang · n = 501 · Đức (nhóm tác giả ở Munich) · ôn đới
- Đối tượng
- 501 người tình nguyện trả lời Munich ChronoType Questionnaire (MCTQ) và bảng hỏi về chất lượng giấc ngủ, sức khoẻ tinh thần, sử dụng chất kích thích.
- Điều kiện
- So sánh thời điểm ngủ ngày làm việc và ngày nghỉ theo kiểu thời sinh (chronotype).
- Đo gì
- Lệch giờ xã hội (social jetlag), hút thuốc, rượu, caffeine, sức khoẻ tinh thần.
- Kết quả
- Tác giả mô tả người thuộc kiểu thời sinh muộn có chênh lệch lớn nhất giữa giờ ngủ ngày làm và ngày nghỉ, tích luỹ nợ ngủ trong ngày làm, và gọi chênh lệch này là "social jetlag". Trong mẫu 501 người, liên hệ mạnh nhất là giữa kiểu thời sinh muộn và hút thuốc; liên hệ giữa kiểu thời sinh, sức khoẻ tinh thần và dùng chất kích thích rõ nhất ở thanh thiếu niên và người trẻ đến 25 tuổi. Tác giả cho rằng các tương quan này chủ yếu do lệch giờ xã hội (diễn giải từ số liệu cắt ngang).
- Hạn chế
- Thiết kế cắt ngang, tự báo cáo; tóm tắt không nêu độ lớn lệch giờ hay hệ số liên hệ. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; là bài đặt nền khái niệm.
Wittmann M, Dinich J, Merrow M, Roenneberg T (2006). Social jetlag: misalignment of biological and social time. Chronobiology International 23(1–2):497–509. Bản ghi Europe PMC. trích từ tóm tắt · doi:10.1080/07420520500545979
Mô hình, vật liệu và tiêu chuẩn · 7
Sletten và cs., 2023
Tiêu chuẩn, khuyến nghị · Quốc tế
- Đối tượng
- Hội đồng chuyên gia về thời điểm và độ biến thiên giấc ngủ của National Sleep Foundation; 63 công bố toàn văn được dùng làm căn cứ.
- Điều kiện
- Bỏ phiếu đồng thuận theo phương pháp Delphi RAND/UCLA cải biên, hai vòng, cho ba câu hỏi.
- Đo gì
- Tầm quan trọng của độ đều đặn giờ ngủ–giờ thức với sức khoẻ, an toàn, hiệu suất.
- Kết quả
- Dựa trên 63 công bố, hội đồng đồng thuận cả ba câu hỏi: giờ vào giấc và giờ thức đều đặn quan trọng với sức khoẻ, an toàn và hiệu suất. Hội đồng cũng nêu ngủ bù vào ngày nghỉ có thể có ích khi ngủ không đủ trong ngày làm việc.
- Hạn chế
- Là đồng thuận chuyên gia, phần lớn bằng chứng nền là quan sát. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; không có ngưỡng số cụ thể cho độ lệch giờ chấp nhận được.
Sletten TL, Weaver MD, Foster RG, Gozal D, Klerman EB, Rajaratnam SMW, Roenneberg T, Takahashi JS, Turek FW, Vitiello MV, Young MW, Czeisler CA (2023). The importance of sleep regularity: a consensus statement of the National Sleep Foundation sleep timing and variability panel. Sleep Health. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.sleh.2023.07.016
Smith và cs., 2018
Tiêu chuẩn, khuyến nghị · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Hướng dẫn thực hành lâm sàng của AASM về dùng actigraphy cho người lớn và trẻ em.
- Điều kiện
- Xây dựng khuyến nghị dựa trên rà soát hệ thống; chỉ áp dụng cho thiết bị được FDA phê duyệt.
- Đo gì
- Vai trò của actigraphy trong đánh giá rối loạn giấc ngủ và nhịp sinh học.
- Kết quả
- Hướng dẫn đưa ra 8 khuyến nghị: 7 khuyến nghị có điều kiện cho dùng actigraphy (ước tính thông số giấc ngủ ở mất ngủ, rối loạn nhịp ngủ–thức, ước tính tổng thời gian ngủ trong một số bối cảnh) và 1 khuyến nghị mạnh không dùng actigraphy thay điện cơ đồ để chẩn đoán rối loạn cử động chi chu kỳ.
- Hạn chế
- Chỉ áp dụng cho thiết bị actigraphy được FDA phê duyệt, không áp dụng cho thiết bị tiêu dùng. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; là hướng dẫn lâm sàng, không dùng để tự chẩn đoán.
Smith MT, McCrae CS, Cheung J và cộng sự (2018). Use of Actigraphy for the Evaluation of Sleep Disorders and Circadian Rhythm Sleep-Wake Disorders: An American Academy of Sleep Medicine Clinical Practice Guideline. J Clin Sleep Med (2018). Bản ghi Semantic Scholar (tóm tắt). trích từ tóm tắt · doi:10.5664/jcsm.7230
Ohayon và cs., 2017
Tiêu chuẩn, khuyến nghị · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Hội đồng đồng thuận về chất lượng giấc ngủ; rà soát hệ thống 277 nghiên cứu đủ tiêu chuẩn.
- Điều kiện
- Đồng thuận chuyên gia dựa trên rà soát tài liệu, xét các chỉ số liên tục giấc ngủ theo nhóm tuổi.
- Đo gì
- Chỉ báo chất lượng giấc ngủ tốt: độ trễ vào giấc, số lần thức, thời gian thức sau khi đã ngủ, hiệu suất giấc ngủ.
- Kết quả
- Theo thông cáo của National Sleep Foundation về báo cáo này, các chỉ báo chất lượng giấc ngủ tốt gồm: vào giấc trong 30 phút trở xuống, thức không quá một lần mỗi đêm, thức 20 phút trở xuống sau khi đã ngủ, và hiệu suất giấc ngủ ít nhất 85% thời gian nằm trên giường.
- Hạn chế
- Là đồng thuận chuyên gia; ngưỡng số lấy từ thông cáo báo chí của NSF vì tóm tắt bài báo không ghi ngưỡng. Nhận xét biên tập: ngưỡng có thể khác theo nhóm tuổi trong bản đầy đủ; chúng tôi chưa đối chiếu được bảng ngưỡng theo nhóm tuổi trong bài gốc.
Ohayon M, Wickwire EM, Hirshkowitz M và cộng sự (2017). National Sleep Foundation's sleep quality recommendations: first report. Sleep Health 3(1):6–19. Bản ghi Europe PMC (chỉ đọc tóm tắt; tóm tắt không có số ngưỡng). trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.sleh.2016.11.006
Paruthi và cs., 2016
Tiêu chuẩn, khuyến nghị · n = 13 · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Trẻ em và thanh thiếu niên 4 tháng–18 tuổi; hội đồng 13 chuyên gia, rà soát 864 bài báo khoa học.
- Điều kiện
- Đồng thuận chuyên gia theo phương pháp RAND Appropriateness cải biên.
- Đo gì
- Thời lượng ngủ mỗi 24 giờ (tính cả ngủ trưa) theo nhóm tuổi.
- Kết quả
- Khuyến nghị mỗi 24 giờ: trẻ 4–12 tháng 12–16 giờ; 1–2 tuổi 11–14 giờ; 3–5 tuổi 10–13 giờ; 6–12 tuổi 9–12 giờ; thanh thiếu niên 13–18 tuổi 8–10 giờ.
- Hạn chế
- Đồng thuận chuyên gia dựa trên bằng chứng chủ yếu quan sát; không áp dụng cho trẻ dưới 4 tháng. Nhận xét biên tập: khung giờ đã tính cả ngủ trưa, phù hợp để đối chiếu với thói quen ngủ trưa ở trường học Việt Nam.
Paruthi S, Brooks LJ, D'Ambrosio C và cộng sự (2016). Recommended Amount of Sleep for Pediatric Populations: A Consensus Statement of the American Academy of Sleep Medicine. J Clin Sleep Med 12(6):785–786. Bản ghi Europe PMC (tóm tắt không có số giờ; số giờ đọc qua bảng của CDC). trích từ toàn văn · doi:10.5664/jcsm.5866
Hirshkowitz và cs., 2015
Tiêu chuẩn, khuyến nghị · n = 18 · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Hội đồng đa ngành 18 thành viên đại diện 12 tổ chức; khuyến nghị cho người khoẻ mạnh không có rối loạn giấc ngủ ở mọi lứa tuổi.
- Điều kiện
- Rà soát tài liệu khoa học và bỏ phiếu theo phương pháp RAND/UCLA Appropriateness.
- Đo gì
- Khoảng thời lượng ngủ đủ theo nhóm tuổi.
- Kết quả
- Khuyến nghị 7–9 giờ mỗi đêm cho người trẻ tuổi và người trưởng thành, 7–8 giờ cho người cao tuổi. Nhóm tác giả lưu ý nhu cầu ngủ khác nhau giữa các cá nhân; thường xuyên ngủ ngoài khoảng khuyến nghị có thể là dấu hiệu của vấn đề sức khoẻ.
- Hạn chế
- Là đồng thuận chuyên gia, không phải nghiên cứu đo đạc mới. Phần tóm tắt không nêu số bài báo được rà soát. Nhận xét biên tập: chỉ đọc được bản tóm tắt.
Hirshkowitz M, Whiton K, Albert SM và cộng sự (2015). National Sleep Foundation's sleep time duration recommendations: methodology and results summary. Sleep Health 1(1):40–43. Bản ghi Europe PMC. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.sleh.2014.12.010
Watson và cs., 2015
Tiêu chuẩn, khuyến nghị · n = 15 · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Người trưởng thành khoẻ mạnh; hội đồng 15 chuyên gia y học giấc ngủ, rà soát 5.314 bài báo khoa học.
- Điều kiện
- Đồng thuận chuyên gia theo phương pháp RAND Appropriateness cải biên, xét 9 nhóm sức khoẻ, trong đó có sức khoẻ chung, sức khoẻ tim mạch và tử vong.
- Đo gì
- Thời lượng ngủ mỗi đêm cần cho sức khoẻ tối ưu ở người lớn.
- Kết quả
- Hội đồng khuyến nghị người lớn ngủ từ 7 giờ trở lên mỗi đêm một cách đều đặn. Ngủ dưới 7 giờ mỗi đêm thường xuyên gắn với các kết cục bất lợi như tăng cân, đái tháo đường, trầm cảm. Ngủ trên 9 giờ có thể phù hợp với người trẻ hoặc người đang bù nợ ngủ; với người khác, chưa chắc ngủ trên 9 giờ có gắn với nguy cơ sức khoẻ hay không.
- Hạn chế
- Là đồng thuận chuyên gia dựa chủ yếu trên nghiên cứu quan sát, nên các liên hệ với kết cục sức khoẻ không phải quan hệ nhân quả. Khuyến nghị dành cho người lớn khoẻ mạnh; người lo ngại mình ngủ quá ít hoặc quá nhiều được khuyên hỏi ý kiến nhân viên y tế. Nhận xét biên tập: bằng chứng chủ yếu từ quần thể Âu–Mỹ.
Watson NF, Badr MS, Belenky G và cộng sự (2015). Recommended Amount of Sleep for a Healthy Adult: A Joint Consensus Statement of the American Academy of Sleep Medicine and Sleep Research Society. J Clin Sleep Med (2015). Bản ghi Europe PMC. trích từ toàn văn · doi:10.5664/jcsm.4758
Carney và cs., 2012
Tiêu chuẩn, khuyến nghị · n = 25 · Hoa Kỳ, Canada
- Đối tượng
- Hội đồng chuyên gia ban đầu 25 người tại Pittsburgh Assessment Conference; 6 nhóm tập trung gồm người ngủ tốt, người mất ngủ, người ngưng thở khi ngủ, và 1 nhóm đánh giá bản sửa.
- Điều kiện
- Xây dựng nhật ký giấc ngủ chuẩn hoá qua đồng thuận chuyên gia và phản hồi người dùng.
- Đo gì
- Nội dung và khả năng đọc hiểu của nhật ký giấc ngủ đồng thuận (Core và bản mở rộng).
- Kết quả
- Nhật ký lõi (Core) được xây dựng từ đồng thuận của 25 chuyên gia và 6 nhóm tập trung, gồm các mục thiết yếu (như giờ lên giường, độ trễ vào giấc, số lần thức, giờ dậy); các mục tuỳ chọn đưa vào bản mở rộng. Phần hướng dẫn đạt mức đọc lớp 6, bản nhật ký lõi đạt mức lớp 3 theo phân tích Lexile.
- Hạn chế
- Là công cụ tự báo cáo; tóm tắt không nêu dữ liệu độ tin cậy định lượng. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; cần dịch và kiểm định nếu dùng tiếng Việt.
Carney CE, Buysse DJ, Ancoli-Israel S, Edinger JD, Krystal AD, Lichstein KL, Morin CM (2012). The consensus sleep diary: standardizing prospective sleep self-monitoring. Sleep 35(2):287–302. Chỉ đọc bản ghi thư mục và tóm lược (Semantic Scholar); chưa đọc nội dung biểu mẫu. trích từ tóm tắt · doi:10.5665/sleep.1642