Tổng quan và phân tích gộp · 14
Bulman và cs., 2025
Phân tích gộp · 897 nghiên cứu gốc · Úc (nhóm tác giả); nghiên cứu từ nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 19 bài báo (897 người tham gia), 18 bài đưa vào phân tích gộp.
- Điều kiện
- L-theanine đường uống so với đối chứng.
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc tự đánh giá, rối loạn chức năng ban ngày, chất lượng giấc ngủ tự đánh giá.
- Kết quả
- Kết quả gộp có SMD 0,15 (KTC 95% 0,01–0,29; p = 0,04; 10 nghiên cứu) cho độ trễ vào giấc tự đánh giá, 0,33 (0,16–0,49; p < 0,001; 9 nghiên cứu) cho rối loạn chức năng ban ngày và 0,43 (0,04–0,83; p = 0,03; 12 nghiên cứu) cho chất lượng giấc ngủ chung tự đánh giá.
- Hạn chế
- Nhận xét biên tập: các kết cục có ý nghĩa đều là tự đánh giá; tóm tắt không nêu mức độ chắc chắn của bằng chứng; cỡ hiệu ứng nhỏ đến vừa, khoảng tin cậy rộng; tác giả lưu ý còn thiếu nghiên cứu dùng L-theanine dạng tinh khiết; chúng tôi chưa xem được nguồn tài trợ của từng thử nghiệm gốc. Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt trên cổng nghiên cứu của trường.
Bulman A, D'Cunha NM, Marx W, Turner M, McKune A, Naumovski N (2025). The effects of L-theanine consumption on sleep outcomes: A systematic review and meta-analysis. Sleep Medicine Reviews 81:102076. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.smrv.2025.102076
Gardiner và cs., 2025 (rượu)
Phân tích gộp · 27 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia (nhóm tác giả ở Úc) · nhiều vùng
- Đối tượng
- 27 nghiên cứu trên người trưởng thành khoẻ mạnh.
- Điều kiện
- Uống rượu buổi tối so với không uống; chia liều thấp (≤ 0,50 g/kg, khoảng 2 ly tiêu chuẩn) và liều cao (≥ 0,85 g/kg, khoảng 5 ly tiêu chuẩn).
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc, giấc ngủ REM, giai đoạn N3, thời gian thức sau khi đã ngủ, tổng thời gian ngủ.
- Kết quả
- Rượu làm giấc REM xuất hiện muộn hơn và ngắn đi, bắt đầu từ liều thấp và tăng dần theo liều. Độ trễ vào giấc và độ trễ vào N3 chỉ rút ngắn ở liều cao. Ảnh hưởng lên thời gian thức sau khi đã ngủ và tổng thời gian ngủ không xác định được vì độ bất định lớn.
- Hạn chế
- Các nghiên cứu khác nhau về liều, thời điểm uống và cách đo. Nhận xét biên tập: chúng tôi chỉ đọc tóm tắt, chưa có các cỡ hiệu ứng cụ thể; năm số tạp chí ghi theo trang nhà xuất bản, bài trực tuyến từ 2024. Đối tượng là người khoẻ, không phản ánh người uống nhiều thường xuyên.
Gardiner C, Weakley J, Burke LM, Roach GD, Sargent C, Maniar N, Huynh M, Miller DJ, Townshend A, Halson SL (2025). The effect of alcohol on subsequent sleep in healthy adults: A systematic review and meta-analysis. Sleep Medicine Reviews 80:102030 (trực tuyến 11/2024). trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.smrv.2024.102030
Gardiner và cs., 2023
Phân tích gộp · 24 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia (nhóm tác giả ở Úc) · nhiều vùng
- Đối tượng
- 24 nghiên cứu gộp so sánh caffeine với đối chứng; riêng mô hình tổng thời gian ngủ gộp 340 người tham gia với 37 cỡ hiệu ứng.
- Điều kiện
- Caffeine dạng cà phê, viên nén hoặc đồ uống ở nhiều liều và nhiều thời điểm trước giờ ngủ, so với giả dược hoặc không dùng caffeine.
- Đo gì
- Tổng thời gian ngủ, độ trễ vào giấc, thời gian thức sau khi đã ngủ, hiệu suất giấc ngủ, thời lượng các giai đoạn ngủ.
- Kết quả
- Caffeine làm tổng thời gian ngủ giảm 45,3 phút (KTC 95% 29,0–61,5), hiệu suất giấc ngủ giảm 7,0% (KTC 95% 4,0–10,0), độ trễ vào giấc tăng 9,1 phút (KTC 95% 3,8–14,4) và thời gian thức sau khi đã ngủ tăng 11,8 phút. Giai đoạn N1 tăng 6,1 phút, giai đoạn N3–N4 giảm 11,4 phút. Từ mô hình gộp, tác giả ước tính một cốc cà phê 107 mg cần cách giờ ngủ ít nhất 8,8 giờ và một khẩu phần 217,5 mg cần cách ít nhất 13,2 giờ để không làm mất tổng thời gian ngủ.
- Hạn chế
- Các nghiên cứu gộp khác nhau về liều, dạng caffeine, thời điểm và cách đo giấc ngủ. Nhận xét biên tập: ngưỡng 8,8 giờ và 13,2 giờ là ước tính ngoại suy từ mô hình, không phải kết quả đo trực tiếp ở một nhóm người; phần lớn đối tượng là người trẻ khoẻ ở nước ôn đới; chúng tôi mới đọc phần tóm tắt và các con số chính trên trang nhà xuất bản, chưa đọc toàn bộ phương pháp.
Gardiner C, Weakley J, Burke LM, Roach GD, Sargent C, Maniar N, Townshend A, Halson SL (2023). The effect of caffeine on subsequent sleep: A systematic review and meta-analysis. Sleep Medicine Reviews 69:101764. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.smrv.2023.101764
Seiiedi-Biarag và cs., 2023
Phân tích gộp · 3 nghiên cứu gốc · Iran (nhóm tác giả); tóm tắt không nêu quốc gia của các nghiên cứu gộp
- Đối tượng
- 3 nghiên cứu (trong 292 nghiên cứu tìm được) trên phụ nữ sau sinh; tóm tắt không nêu tổng số người.
- Điều kiện
- Oải hương (lavender) so với đối chứng ở bà mẹ sau sinh.
- Đo gì
- Chất lượng giấc ngủ.
- Kết quả
- Oải hương đi kèm chất lượng giấc ngủ tốt hơn nhóm đối chứng với SMD −0,61 (KTC 95% −1,07 đến −0,15; p = 0,01). Độ không đồng nhất cao (I² = 75%).
- Hạn chế
- Nhận xét biên tập: chỉ 3 nghiên cứu gộp, không đồng nhất cao; tóm tắt không nêu kết quả đánh giá nguy cơ thiên lệch; đối tượng hẹp (phụ nữ sau sinh). Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Seiiedi-Biarag L, Mirghafourvand M (2023). The effect of lavender on mothers' sleep quality in the postpartum period: a systematic review and meta-analysis. Journal of Complementary and Integrative Medicine 20(3):513–520. trích từ tóm tắt · doi:10.1515/jcim-2021-0192
Mah và cs., 2021
Phân tích gộp · 151 nghiên cứu gốc · Canada (nhóm tác giả); thử nghiệm ở 3 quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 3 thử nghiệm ngẫu nhiên, tổng 151 người từ 55 tuổi có triệu chứng mất ngủ, ở 3 quốc gia.
- Điều kiện
- Magie đường uống so với giả dược.
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc, tổng thời gian ngủ.
- Kết quả
- Sau can thiệp, độ trễ vào giấc ở nhóm magie ngắn hơn giả dược 17,36 phút (KTC 95% −27,27 đến −7,44; p = 0,0006). Tổng thời gian ngủ dài hơn 16,06 phút nhưng không có ý nghĩa thống kê (KTC 95% −5,99 đến 38,12; p = 0,15).
- Hạn chế
- Tác giả nêu: độ chắc chắn của bằng chứng thấp đến rất thấp (GRADE), cả 3 thử nghiệm có nguy cơ thiên lệch trung bình đến cao; chỉ gồm bài tiếng Anh; quá ít nghiên cứu để đánh giá thiên lệch xuất bản; protocol không đăng ký. Nhận xét biên tập: chỉ 3 thử nghiệm, 151 người, không đủ để rút ra kết luận chắc chắn.
Mah J, Pitre T (2021). Oral magnesium supplementation for insomnia in older adults: a Systematic Review & Meta-Analysis. BMC Complementary Medicine and Therapies 21:125. trích từ toàn văn · doi:10.1186/s12906-021-03297-z
Zhang và cs., 2021
Tổng quan hệ thống · 72 nghiên cứu gốc · Trung Quốc (nhóm tác giả); nguồn từ nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 72 bài báo (26 từ 10 nước phương Tây, 46 từ 9 nước phương Đông); nhóm bệnh trào ngược gồm 42 bài với 173.132 người tham gia.
- Điều kiện
- Các yếu tố ăn uống và lối sống: khoảng cách bữa tối – giờ ngủ, ăn khuya, nằm sau ăn, rượu, cà phê, trà, hút thuốc.
- Đo gì
- Bệnh trào ngược dạ dày thực quản.
- Kết quả
- Khoảng cách bữa tối – giờ ngủ dưới 3 giờ liên quan thuận với trào ngược (OR 7,45; KTC 95% 3,38–16,4); ăn khuya có OR 5,08 (4,03–6,4). Rượu có OR 1,278 (1,207–1,353) và hút thuốc OR 1,19 (1,12–1,264). Ngồi hoặc đi bộ sau ăn thay vì nằm liên quan nghịch với trào ngược.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: chỉ tìm 4 cơ sở dữ liệu (2 tiếng Anh, 2 tiếng Trung); nghiên cứu không đồng nhất nên không gộp định lượng mà chỉ phân tích mô tả; chỉ xét từng yếu tố riêng. Phần lớn nghiên cứu gốc là cắt ngang và bệnh chứng. Nhận xét biên tập: tóm tắt không nêu nghiên cứu gốc của OR 7,45 cho bữa tối (phần bàn luận dẫn các tài liệu 34, 41, 73, trong đó có Fujiwara 2005), nhiều khả năng là ước tính từ một nghiên cứu đơn lẻ; trong tóm tắt, OR của rượu trùng hoàn toàn với OR của "tinh thần kém" (1,278; 1,207–1,353), có thể là lỗi sao chép; phần bàn luận dẫn một nghiên cứu khác (King và cộng sự) thấy khác biệt có ý nghĩa ở mốc 2 giờ nhưng không có ý nghĩa ở mốc 3 giờ (p = 0,798).
Zhang M, Hou ZK, Huang ZB, Chen XL, Liu FB (2021). Dietary and Lifestyle Factors Related to Gastroesophageal Reflux Disease: A Systematic Review. Therapeutics and Clinical Risk Management 17:305–323. trích từ toàn văn · doi:10.2147/TCRM.S296680
Inkelis và cs., 2020
Tổng quan · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Tổng quan tường thuật các nghiên cứu cấp và mạn tính về rượu và giấc ngủ có phụ nữ tham gia.
- Điều kiện
- So sánh ảnh hưởng của rượu lên giấc ngủ giữa nữ và nam.
- Đo gì
- Tổng thời gian ngủ, hiệu suất giấc ngủ, hô hấp khi ngủ, giấc ngủ tự báo cáo.
- Kết quả
- Trong một thử nghiệm được trích dẫn (Arnedt và cộng sự, 93 người lớn, 59 nữ), ở cùng nồng độ cồn hơi thở, phụ nữ có tổng thời gian ngủ giảm 20 phút và hiệu suất giấc ngủ giảm 4% so với đêm giả dược, còn nam giới không thay đổi có ý nghĩa về độ liên tục giấc ngủ.
- Hạn chế
- Tổng quan tường thuật; tác giả lưu ý phần lớn so sánh giới tính đến từ mẫu nhỏ, quan sát, nhiều nghiên cứu không kiểm định tương tác giới × rượu. Nhận xét biên tập: chưa có nghiên cứu trực tiếp theo pha chu kỳ kinh nguyệt trong bài.
Inkelis SM, Hasler BP, Baker FC (2020). Sleep and alcohol use in women. Alcohol Research: Current Reviews 40(2) (tạp chí của NIAAA). trích từ toàn văn · arcr.niaaa.nih.gov
Lin và cs., 2019
Phân tích gộp · 31 nghiên cứu gốc · Đài Loan (nhóm tác giả); thử nghiệm từ nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 31 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng về liệu pháp hương thơm và chất lượng giấc ngủ (tóm tắt không nêu tổng số người).
- Điều kiện
- Liệu pháp hương thơm (tinh dầu) so với đối chứng.
- Đo gì
- Chất lượng giấc ngủ (thường đo bằng bảng hỏi).
- Kết quả
- Cỡ hiệu ứng gộp Hedges g = 1,103 (KTC 95% 0,813–1,393; p < 0,001). Độ không đồng nhất rất cao (I² = 91,2%); chỉ 4 thử nghiệm có nguy cơ thiên lệch thấp, 26 thử nghiệm không rõ; cả kiểm định Egger và Begg đều gợi ý thiên lệch xuất bản.
- Hạn chế
- Nhận xét biên tập: cỡ hiệu ứng lớn bất thường đi cùng độ không đồng nhất rất cao, nguy cơ thiên lệch phần lớn không rõ và dấu hiệu thiên lệch xuất bản, nên con số g = 1,1 nhiều khả năng phóng đại. Khó làm mù mùi hương, nên kỳ vọng của người tham gia có thể giải thích một phần (xem Howard 2008). Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Lin PC, Lee PH, Tseng SJ và cộng sự. Effects of aromatherapy on sleep quality: a systematic review and meta-analysis. Complement Ther Med 2019;45:156–166 trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.ctim.2019.06.006
Nehlig, 2018
Tổng quan · Pháp
- Đối tượng
- Tổng quan tường thuật về chuyển hoá caffeine ở người.
- Điều kiện
- Tổng hợp nghiên cứu dược động học caffeine và các yếu tố di truyền, hút thuốc, thuốc tránh thai, thai kỳ.
- Đo gì
- Thời gian bán thải caffeine và các yếu tố làm thay đổi tốc độ đào thải.
- Kết quả
- Enzym gan CYP1A2 chuyển hoá khoảng 95% lượng caffeine nạp vào. Thời gian bán thải điển hình ở người lớn khoảng 2,5–5 giờ, dao động giữa các cá nhân khoảng 2,3–9,9 giờ. Người hút thuốc đào thải caffeine nhanh gấp khoảng 2 lần; dùng thuốc tránh thai đường uống kéo dài thời gian bán thải từ khoảng 6,2 lên 10,7 giờ; cuối thai kỳ có thể lên khoảng 11,5–18 giờ.
- Hạn chế
- Tổng quan tường thuật, không gộp số liệu định lượng. Nhận xét biên tập: các con số bán thải lấy từ những nghiên cứu nhỏ được trích dẫn trong bài; sự khác biệt lớn giữa các cá nhân có nghĩa là một mốc giờ cố định không áp dụng cho mọi người.
Nehlig A (2018). Interindividual differences in caffeine metabolism and factors driving caffeine consumption. Pharmacological Reviews 70(2):384–411. trích từ toàn văn · pharmrev.aspetjournals.org
St-Onge và cs., 2016
Tổng quan · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Tổng quan các nghiên cứu lâm sàng về chế độ ăn và giấc ngủ ban đêm.
- Điều kiện
- Chế độ nhiều đường bột hoặc nhiều chất béo, bữa ăn chỉ số đường huyết cao trước ngủ, sữa, cá, nước anh đào chua, kiwi.
- Đo gì
- Giấc ngủ sóng chậm, REM, độ trễ vào giấc, tổng thời gian ngủ.
- Kết quả
- Một nghiên cứu 12 nam giới được trích: bữa có chỉ số đường huyết cao ăn 4 giờ trước ngủ đi kèm độ trễ vào giấc 9,0 phút so với 17,5 phút sau bữa chỉ số thấp. Nghiên cứu kiwi (24 người, 4 tuần, không có nhóm đối chứng) ghi tổng thời gian ngủ 395,3 so với 354,5 phút lúc ban đầu. Tác giả đánh giá các bằng chứng này đều là sơ bộ.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: nghiên cứu nhỏ, ngắn, nhiều nghiên cứu thiếu đối chứng phù hợp, kết quả không thống nhất. Nhận xét biên tập: các con số trên là của từng nghiên cứu đơn lẻ được trích, không phải kết quả gộp.
St-Onge MP, Mikic A, Pietrolungo CE (2016). Effects of Diet on Sleep Quality. Advances in Nutrition 7(5):938–949. trích từ toàn văn · doi:10.3945/an.116.012336
Ebrahim và cs., 2013
Tổng quan · Vương quốc Anh
- Đối tượng
- Tổng quan định tính các nghiên cứu về ảnh hưởng của rượu lên giấc ngủ ban đêm ở người tình nguyện khoẻ mạnh.
- Điều kiện
- Rượu uống trước khi ngủ ở các liều thấp, vừa, cao.
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc, giấc sóng chậm, REM, mức liên tục giấc ngủ nửa đầu và nửa sau đêm.
- Kết quả
- Rượu rút ngắn độ trễ vào giấc ở mọi liều. Nửa đầu đêm giấc ngủ liên tục hơn nhưng nửa sau đêm bị xáo trộn nhiều hơn. Giai đoạn REM đầu tiên đến muộn hơn ở mọi liều; tổng REM giảm ở liều vừa và cao.
- Hạn chế
- Tổng quan định tính, không gộp số liệu. Nhận xét biên tập: tóm tắt không cho cỡ hiệu ứng bằng số; phần lớn nghiên cứu gốc nhỏ, làm trong phòng thí nghiệm ở nước ôn đới; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt. Phân tích gộp mới hơn của Gardiner và cs. (2025) về rượu chỉ thấy độ trễ vào giấc rút ngắn ở liều cao.
Ebrahim IO, Shapiro CM, Williams AJ, Fenwick PB (2013). Alcohol and sleep I: effects on normal sleep. Alcoholism: Clinical and Experimental Research 37(4):539–549. Bản ghi Europe PMC. trích từ tóm tắt · doi:10.1111/acer.12006
Ferracioli-Oda và cs., 2013
Phân tích gộp · 1.683 nghiên cứu gốc · Hoa Kỳ và Brazil (nhóm tác giả); thử nghiệm từ nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 19 thử nghiệm ngẫu nhiên có giả dược, tổng 1.683 người có rối loạn giấc ngủ nguyên phát.
- Điều kiện
- Melatonin ngoại sinh so với giả dược.
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc, tổng thời gian ngủ, chất lượng giấc ngủ chung.
- Kết quả
- Melatonin rút ngắn độ trễ vào giấc trung bình 7,06 phút (KTC 95% 4,37–9,75) và tăng tổng thời gian ngủ 8,25 phút (KTC 95% 1,74–14,75) so với giả dược; chất lượng giấc ngủ chung có SMD 0,22 (KTC 95% 0,12–0,32).
- Hạn chế
- Nhận xét biên tập: mức chênh lệch tuyệt đối nhỏ (khoảng 7–8 phút); đối tượng là người có rối loạn giấc ngủ nguyên phát, không phải người ngủ bình thường; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt. Bản ghi này không phải là khuyến nghị dùng melatonin.
Ferracioli-Oda E, Qawasmi A, Bloch MH (2013). Meta-analysis: melatonin for the treatment of primary sleep disorders. PLoS ONE 8(5):e63773. trích từ tóm tắt · doi:10.1371/journal.pone.0063773
Herz, 2009
Tổng quan · 18 nghiên cứu gốc · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Tổng quan 18 nghiên cứu về tác động của mùi lên tâm trạng, sinh lý và hành vi.
- Điều kiện
- So sánh cách giải thích dược lý và tâm lý cho tác động của mùi hương.
- Đo gì
- Tâm trạng, sinh lý, hành vi.
- Kết quả
- Tác giả thấy có bằng chứng đáng tin rằng mùi ảnh hưởng đến tâm trạng, sinh lý và hành vi, nhưng cách giải thích tâm lý (học tập, kỳ vọng) bao quát dữ liệu tốt hơn cách giải thích dược lý.
- Hạn chế
- Tổng quan tường thuật, không gộp định lượng, không chuyên về giấc ngủ. Nhận xét biên tập: chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Herz RS. Aromatherapy facts and fictions: a scientific analysis of olfactory effects on mood, physiology and behavior. Int J Neurosci 2009;119(2):263–290 trích từ tóm tắt · doi:10.1080/00207450802333953
Jaehne và cs., 2009
Tổng quan · 52 nghiên cứu gốc · Đức
- Đối tượng
- Tổng quan 52 nghiên cứu về nicotine và giấc ngủ khi đang dùng, khi cai và khi dùng nicotine thay thế.
- Điều kiện
- Hút thuốc, cai thuốc, dùng nicotine thay thế.
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc, mức liên tục giấc ngủ, giấc sóng chậm, REM, buồn ngủ ban ngày.
- Kết quả
- Dùng nicotine đi kèm độ trễ vào giấc dài hơn, giấc ngủ phân mảnh, giấc sóng chậm giảm, hiệu suất giấc ngủ thấp hơn và buồn ngủ ban ngày nhiều hơn; phần lớn nghiên cứu ghi nhận nicotine ức chế REM. Rối loạn giấc ngủ khi cai thuốc liên quan với tỉ lệ bỏ thuốc thành công thấp hơn.
- Hạn chế
- Tác giả nêu kết quả mâu thuẫn chủ yếu do khác biệt phương pháp (cách xác định tình trạng hút, kiểm soát bệnh kèm và thuốc). Nhận xét biên tập: tóm tắt không có cỡ hiệu ứng bằng số; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Jaehne A, Loessl B, Bárkai Z, Riemann D, Hornyak M (2009). Effects of nicotine on sleep during consumption, withdrawal and replacement therapy. Sleep Medicine Reviews 13(5):363–377. Tóm tắt đọc trên QxMD; thông tin thư mục và DOI từ cổng nghiên cứu Đại học Murdoch. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.smrv.2008.12.003
Thử nghiệm có đối chứng · 6
Gardiner và cs., 2025 (caffeine)
Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 23 · Úc
- Đối tượng
- 23 nam giới khoẻ mạnh, tuổi 25,3 ± 5,0, thường ngày dùng dưới 300 mg caffeine.
- Điều kiện
- Thử nghiệm chéo, mù đôi, có giả dược: 7 điều kiện (giả dược; 100 mg hoặc 400 mg caffeine uống 12, 8 hoặc 4 giờ trước giờ ngủ), cách nhau 48 giờ. Giấc ngủ đo tại nhà bằng đa ký giấc ngủ rút gọn và nhật ký ngủ.
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc, cấu trúc giấc ngủ, mức phân mảnh giấc ngủ, chất lượng giấc ngủ tự cảm nhận.
- Kết quả
- Liều 100 mg không làm thay đổi có ý nghĩa giấc ngủ đo khách quan hay tự đánh giá (p > 0,05) ở cả ba thời điểm. Liều 400 mg uống 12 giờ trước giờ ngủ vẫn làm chậm vào giấc và thay đổi cấu trúc giấc ngủ (p < 0,05); uống 8 giờ trước làm tăng phân mảnh giấc ngủ (p < 0,05). Chất lượng giấc ngủ tự cảm nhận chỉ giảm có ý nghĩa khi 400 mg uống 4 giờ trước giờ ngủ (−34,02%, p = 0,006), cho thấy cảm nhận chủ quan không khớp với số đo.
- Hạn chế
- Chỉ có nam giới trẻ, mức dùng caffeine thường ngày vừa phải (dưới 300 mg/ngày); cỡ mẫu nhỏ (23 người). Nhận xét biên tập: chúng tôi chỉ đọc phần tóm tắt, chưa đọc mục hạn chế của tác giả; kết quả không áp dụng thẳng cho phụ nữ, người lớn tuổi hay người uống cà phê nhiều mỗi ngày.
Gardiner CL, Weakley J, Burke LM, Fernandez F, Johnston RD, Leota J, Russell S, Munteanu G, Townshend A, Halson SL (2025). Dose and timing effects of caffeine on subsequent sleep: a randomized clinical crossover trial. Sleep 48(4):zsae230. trích từ tóm tắt · doi:10.1093/sleep/zsae230
Yang và cs., 2023
Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 53 · Đài Loan · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- 53 người 20–65 tuổi ở Đài Loan có rối loạn giấc ngủ ≥ 3 tháng và PSQI > 5 (25 người nhóm tinh dầu oải hương đơn, 28 người nhóm tinh dầu hỗn hợp nền oải hương).
- Điều kiện
- Thử nghiệm thí điểm chéo, mù đơn, thứ tự ngẫu nhiên: một đêm đối chứng chỉ phun hơi nước và một đêm khuếch tán 5 giọt tinh dầu pha trong 50 ml nước trong 2 giờ từ 10 phút trước giờ ngủ, đo đa ký giấc ngủ trong phòng thí nghiệm giấc ngủ.
- Đo gì
- Tổng thời gian ngủ, hiệu suất giấc ngủ, độ trễ vào giấc, N3, thời gian thức sau khi đã ngủ.
- Kết quả
- So với đêm đối chứng, tổng thời gian ngủ tăng 43,42 ± 56,43 phút ở nhóm oải hương đơn (p = 0,0022) và 23,75 ± 44,92 phút ở nhóm hỗn hợp (p = 0,0431). Hiệu suất giấc ngủ tăng 8,10% chỉ ở nhóm oải hương đơn (p = 0,0145). Độ trễ vào giấc, N3 và thời gian thức sau khi đã ngủ không thay đổi có ý nghĩa; hai loại tinh dầu không khác nhau.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: mẫu thí điểm nhỏ, rối loạn giấc ngủ không đồng nhất, chỉ đo tác động tức thời một đêm, không đánh giá tỉnh táo hôm sau, không thử riêng liều và thời gian. Nhận xét biên tập: mù đơn và người tham gia có thể ngửi thấy mùi nên kỳ vọng có thể ảnh hưởng; mỗi người chỉ có một đêm mỗi điều kiện; đo trong phòng thí nghiệm, không phải phòng ngủ thật.
Yang CP, Yang CC, Tsai IJ, Lin TH, Chiou YL, Wang HF, Chang CM, Yih KH (2023). The immediate effects of lavender-based essential oil inhalation on subsequent polysomnography in people with poor sleep quality. Journal of the Chinese Medical Association 86:665–671. trích từ toàn văn · doi:10.1097/jcma.0000000000000932
Hidese và cs., 2019
Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 30 · Nhật Bản · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 30 người lớn khoẻ mạnh (9 nam, 21 nữ), tuổi 48,3 ± 11,9, không có bệnh tâm thần lớn.
- Điều kiện
- Thử nghiệm chéo, mù đôi, có giả dược: mỗi giai đoạn 4 tuần, nghỉ 2 tuần giữa hai giai đoạn; viên L-theanine hoặc giả dược uống trước khi ngủ.
- Đo gì
- Các thành phần PSQI, triệu chứng căng thẳng, chức năng nhận thức.
- Kết quả
- So với giả dược, nhóm L-theanine giảm nhiều hơn ở thành phần độ trễ vào giấc (p = 0,0499), rối loạn giấc ngủ (p = 0,046) và dùng thuốc ngủ (p = 0,047) của PSQI. So sánh điểm PSQI tổng giữa hai nhóm chỉ có xu hướng, không có ý nghĩa (p = 0,073).
- Hạn chế
- Tác giả nêu: mẫu nhỏ (30 người), có thể sai lầm loại II; không kiểm soát trà xanh, chế độ ăn, thuốc khác, loại công việc; chỉ khoảng 20% kết cục khác biệt có ý nghĩa. Hai tác giả là nhân viên công ty Taiyo Kagaku, đơn vị cấp viên và tài trợ. Nhận xét biên tập: tuân thủ chỉ kiểm tra bằng hỏi miệng; các giá trị p sát 0,05 và không hiệu chỉnh cho nhiều phép so sánh; giấc ngủ chỉ đo bằng bảng hỏi.
Hidese S, Ogawa S, Ota M, Ishida I, Yasukawa Z, Ozeki M, Kunugi H (2019). Effects of L-Theanine Administration on Stress-Related Symptoms and Cognitive Functions in Healthy Adults: A Randomized Controlled Trial. Nutrients 11(10):2362. trích từ toàn văn · doi:10.3390/nu11102362
Drake và cs., 2013
Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 12 · Hoa Kỳ · ôn đới
- Đối tượng
- 12 người trưởng thành khoẻ mạnh, ngủ bình thường (số người theo thông cáo báo chí của AASM).
- Điều kiện
- Mù đôi, có giả dược: uống 400 mg caffeine vào 0, 3 hoặc 6 giờ trước giờ ngủ thường lệ; giấc ngủ đo tại nhà bằng máy theo dõi giấc ngủ cầm tay và nhật ký.
- Đo gì
- Tổng thời gian ngủ và các chỉ số giấc ngủ đo khách quan, giấc ngủ tự báo cáo.
- Kết quả
- Cả ba thời điểm dùng 400 mg caffeine đều làm giấc ngủ bị xáo trộn có ý nghĩa so với giả dược (p < 0,05). Khi uống 6 giờ trước giờ ngủ, tổng thời gian ngủ đo khách quan giảm hơn 1 giờ (theo thông cáo của AASM).
- Hạn chế
- Cỡ mẫu rất nhỏ (12 người), chỉ thử một liều cao 400 mg. Nhận xét biên tập: chúng tôi chỉ đọc tóm tắt và thông cáo báo chí, chưa đọc bảng số liệu đầy đủ; con số "hơn 1 giờ" lấy từ thông cáo của AASM, không phải từ bảng kết quả.
Drake C, Roehrs T, Shambroom J, Roth T (2013). Caffeine effects on sleep taken 0, 3, or 6 hours before going to bed. J Clin Sleep Med 9(11):1195–1200. Bản ghi Europe PMC. trích từ tóm tắt · doi:10.5664/jcsm.3170
Bannai và cs., 2012
Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 7 · Nhật Bản
- Đối tượng
- 10 nam giới đi làm được tuyển, 7 người được phân tích (tuổi trung bình 40,6), không có rối loạn giấc ngủ.
- Điều kiện
- Thử nghiệm chéo ngẫu nhiên, mù đơn: glycine hoặc giả dược 30 phút trước giờ ngủ; 3 đêm thích nghi rồi 3 đêm giảm 25% thời gian ngủ (khoảng 7,3 giờ xuống 5,5 giờ).
- Đo gì
- Mệt mỏi và buồn ngủ ban ngày (thang VAS), bảng hỏi mệt mỏi, thời gian phản ứng.
- Kết quả
- Ngày đầu sau hạn chế ngủ, điểm mệt mỏi VAS khác biệt có ý nghĩa theo nhóm (p = 0,022) và thời gian phản ứng cảnh giác cải thiện (p = 0,003). Buồn ngủ VAS chỉ có xu hướng (p = 0,098); đến ngày thứ 3 không còn khác biệt chủ quan.
- Hạn chế
- Nhận xét biên tập: tác giả không nêu mục hạn chế riêng. Mẫu rất nhỏ (7 người được phân tích), mù đơn, giấc ngủ chỉ ghi bằng nhật ký chứ không đo khách quan, chỉ có nam giới là nhân viên Ajinomoto; nhiều tác giả làm cho Ajinomoto, hãng sản xuất glycine (bài khai không có xung đột lợi ích). Kết quả chỉ mang tính gợi ý.
Bannai M, Kawai N, Ono K, Nakahara K, Murakami N (2012). The Effects of Glycine on Subjective Daytime Performance in Partially Sleep-Restricted Healthy Volunteers. Frontiers in Neurology 3:61. trích từ toàn văn · doi:10.3389/fneur.2012.00061
Howard và cs., 2008
Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 96 · Ireland
- Đối tượng
- 96 nữ sinh viên đại học khoẻ mạnh.
- Điều kiện
- Mù đôi, có giả dược: hương oải hương, hương giả dược hoặc không mùi trong lúc thư giãn sau một nhiệm vụ gây căng thẳng; kèm lời dặn tạo kỳ vọng mùi sẽ giúp hoặc cản trở thư giãn.
- Đo gì
- Phản ứng điện da (GSR), lo âu trạng thái tự báo cáo.
- Kết quả
- Mùi oải hương không ảnh hưởng đến phản ứng điện da khi thư giãn; kỳ vọng do lời dặn tạo ra mới làm thay đổi kết quả. Hiệu ứng kỳ vọng không xuất hiện ở lo âu tự báo cáo.
- Hạn chế
- Chỉ nữ sinh viên trẻ khoẻ, đo thư giãn ngắn hạn, không đo giấc ngủ. Nhận xét biên tập: dùng để nhắc rằng kỳ vọng có thể giải thích một phần các kết quả tích cực của nghiên cứu hương thơm; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Howard S, Hughes BM. Expectancies, not aroma, explain impact of lavender aromatherapy on psychophysiological indices of relaxation in young healthy women. Br J Health Psychol 2008;13(4):603–617 trích từ tóm tắt · doi:10.1348/135910707X238734
Nghiên cứu quan sát · 9
Khairul Ikram và cs., 2024
Nghiên cứu cắt ngang · n = 300 · Malaysia · nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- Khoảng 300 sinh viên đại học ở Malaysia, tuổi trung bình 21,95 ± 1,43.
- Điều kiện
- Bảng hỏi trực tuyến về lượng caffeine và thang PSQI.
- Đo gì
- Lượng caffeine mỗi ngày (mg) và chất lượng giấc ngủ theo PSQI.
- Kết quả
- Lượng caffeine trung bình 193,54 mg/ngày; 55,3% người tham gia có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI). Lượng caffeine liên quan có ý nghĩa với chất lượng giấc ngủ (kiểm định khi bình phương, p < 0,01).
- Hạn chế
- Nhận xét biên tập: cắt ngang, tự báo cáo qua bảng hỏi trực tuyến; tóm tắt chỉ ghi 'khoảng 300' người, không nêu cách chọn mẫu, OR hay mức độ liên quan. Đây chỉ là tương quan, không cho biết caffeine gây ra giấc ngủ kém hay người ngủ kém uống nhiều caffeine hơn; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Khairul Ikram EH, Rosli NA, Hussin AM, Chasni AN (2024). The Effect of Caffeine Consumption on Sleep Quality among Undergraduate Students in Malaysia. Jurnal Gizi dan Pangan 19(Supp.1):79–86. trích từ tóm tắt · doi:10.25182/jgp.2024.19.supp.1.79-86
Yasuda và cs., 2023
Nghiên cứu cắt ngang · n = 264 · Nhật Bản · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 264 sinh viên đại học và sau đại học 18–40 tuổi ở Shiga, Nhật Bản (149 nam, 115 nữ).
- Điều kiện
- Khảo sát tháng 7–9/2017; nhật ký ăn uống 3 ngày; khoảng cách bữa tối – giờ ngủ chia 3 nhóm: ≤ 3,79 giờ, 3,80–4,94 giờ, ≥ 4,95 giờ.
- Đo gì
- Các chỉ số PSQI: độ trễ vào giấc, hiệu suất giấc ngủ, thời lượng ngủ, điểm tổng.
- Kết quả
- Sau hiệu chỉnh, độ trễ vào giấc là 26,4 ± 2,2 phút ở nhóm ≤ 3,79 giờ, 30,8 ± 2,2 phút ở nhóm giữa (p = 0,001 so với nhóm xa nhất) và 19,6 ± 2,2 phút ở nhóm ≥ 4,95 giờ. Thời lượng ngủ và điểm PSQI tổng không khác nhau có ý nghĩa giữa các nhóm.
- Hạn chế
- Cắt ngang, giấc ngủ tự báo cáo qua PSQI, mẫu sinh viên ở một vùng. Nhận xét biên tập: khác biệt có ý nghĩa ở nhóm giữa chứ không phải nhóm ăn muộn nhất (p = 0,081), nên không thể hiện quan hệ liều – đáp ứng rõ; đo vào mùa hè ở vùng cận nhiệt đới ẩm.
Yasuda J, Kishi N, Fujita S (2023). Association between Time from Dinner to Bedtime and Sleep Quality Indices in the Young Japanese Population: A Cross-Sectional Study. Dietetics 2(2):140–149. trích từ toàn văn · doi:10.3390/dietetics2020011
Hwang và cs., 2022
Nghiên cứu cắt ngang · n = 224.986 · Hàn Quốc · ôn đới
- Đối tượng
- 224.986 người trưởng thành Hàn Quốc, mẫu đại diện quốc gia (Korea Community Health Survey 2018).
- Điều kiện
- Tình trạng hút thuốc tự báo cáo; hồi quy logistic đa biến theo giới và tuổi.
- Đo gì
- Chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI.
- Kết quả
- Tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém có trọng số là 39,4%. Trong mô hình đầy đủ, hút thuốc liên quan có ý nghĩa với chất lượng giấc ngủ kém chỉ ở phụ nữ dưới 65 tuổi, với OR khoảng 1,5.
- Hạn chế
- Cắt ngang, tự báo cáo. Nhận xét biên tập: tóm tắt không nêu khoảng tin cậy; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Hwang JH, Park SW (2022). The relationship between poor sleep quality measured by the Pittsburgh Sleep Quality Index and smoking status according to sex and age: an analysis of the 2018 Korean Community Health Survey. Epidemiology and Health 44:e2022022. trích từ tóm tắt · doi:10.4178/epih.e2022022
Otsuka và cs., 2022
Nghiên cứu cắt ngang · n = 75.628 · Nhật Bản · nhiều vùng
- Đối tượng
- 75.628 người từ 20 tuổi trở lên ở Nhật Bản (35.717 nam, 39.911 nữ), dữ liệu Điều tra toàn diện điều kiện sống 2013.
- Điều kiện
- Lượng rượu (g ethanol/ngày) và số điếu thuốc/ngày tự báo cáo; so với người không uống, không hút.
- Đo gì
- Giấc ngủ không phục hồi (một câu hỏi tự báo cáo).
- Kết quả
- Tỉ lệ giấc ngủ không phục hồi là 22,2% ở nam và 23,4% ở nữ. Sau hiệu chỉnh đầy đủ, nam uống ≥ 69 g ethanol/ngày có OR 1,31 (KTC 95% 1,05–1,63) và nữ uống ≥ 46 g/ngày có OR 1,36 (1,06–1,73). Ở nam, phân tích độ nhạy cho thấy hút < 20 điếu/ngày có OR 1,24 (1,05–1,47) và ≥ 20 điếu/ngày có OR 1,52 (1,13–2,05).
- Hạn chế
- Tác giả nêu: thiết kế cắt ngang không xác lập nhân quả; giấc ngủ không phục hồi đo bằng một câu hỏi; rượu và thuốc lá tự báo cáo; không có dữ liệu ngưng thở khi ngủ; dữ liệu năm 2013.
Otsuka Y, Takeshima O, Itani O, Matsumoto Y, Kaneita Y (2022). Associations among Alcohol Drinking, Smoking, and Nonrestorative Sleep: A Population-Based Study in Japan. Clocks & Sleep 4(4):595–606. trích từ toàn văn · doi:10.3390/clockssleep4040046
Chung và cs., 2020
Nghiên cứu cắt ngang · n = 793 · Úc · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 793 sinh viên đại học 18–29 tuổi ở Sydney (587 nữ, 206 nam).
- Điều kiện
- Số giờ từ bữa ăn cuối tới giờ ngủ tự báo cáo, chia ≤ 3 giờ và > 3 giờ.
- Đo gì
- Thức giấc ban đêm, độ trễ vào giấc > 30 phút, thời lượng ngủ ngắn.
- Kết quả
- Ăn trong vòng 3 giờ trước khi ngủ liên quan với thức giấc ban đêm (27,8% so với 19,2%; OR hiệu chỉnh 1,43, KTC 95% 1,01–2,04, p = 0,05). Không có liên quan có ý nghĩa với độ trễ vào giấc > 30 phút (OR hiệu chỉnh 1,10; 0,78–1,56) hay thời lượng ngủ ngắn. Với mốc 2 giờ và 4 giờ, liên quan với thức giấc yếu hơn và không có ý nghĩa.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: cắt ngang, tự báo cáo, mẫu tự chọn phần lớn là nữ; không có dữ liệu cỡ bữa, thành phần bữa ăn, ăn vặt sau tối; nhiều phép so sánh nên có thể dương tính giả; tác giả gọi kết quả là sơ bộ.
Chung N, Bin YS, Cistulli PA, Chow CM (2020). Does the Proximity of Meals to Bedtime Influence the Sleep of Young Adults? A Cross-Sectional Survey of University Students. International Journal of Environmental Research and Public Health 17(8):2677. trích từ toàn văn · doi:10.3390/ijerph17082677
Pietilä và cs., 2018
Đo thực địa · n = 4.098 · Phần Lan · ôn đới
- Đối tượng
- 4.098 nhân viên Phần Lan (55,8% nữ, tuổi trung bình 45,1), tổng 12.411 ngày ghi.
- Điều kiện
- Quan sát đời thực, so sánh trong cùng một người giữa ngày có và không uống rượu; đo nhịp tim từng nhịp bằng thiết bị đeo ngực trong 3 giờ ngủ đầu. Liều: thấp ≤ 0,25 g/kg, vừa > 0,25–0,75 g/kg, cao > 0,75 g/kg (1 phần = 12 g ethanol).
- Đo gì
- Biến thiên nhịp tim (RMSSD), nhịp tim, trạng thái phục hồi sinh lý suy từ HRV.
- Kết quả
- So với ngày không uống, RMSSD giảm 2,0 ms ở liều thấp, 5,7 ms ở liều vừa và 12,9 ms ở liều cao. Trạng thái phục hồi sinh lý suy từ HRV giảm trung bình 9,3; 24,0 và 39,2 điểm phần trăm tương ứng với ba mức liều.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: không biết chính xác liều, giờ uống và giờ ngủ, lượng uống cao có thể bị khai thấp; không có dữ liệu thói quen uống và hút thuốc; không ước tính vận động trong ngày; mẫu tình nguyện từ chương trình sức khoẻ doanh nghiệp. Nhận xét biên tập: chỉ số "phục hồi" là chỉ số độc quyền của hãng thiết bị; nghiên cứu đo hệ thần kinh tự chủ, không đo giai đoạn ngủ.
Pietilä J, Helander E, Korhonen I, Myllymäki T, Kujala UM, Lindholm H (2018). Acute Effect of Alcohol Intake on Cardiovascular Autonomic Regulation During the First Hours of Sleep in a Large Real-World Sample of Finnish Employees: Observational Study. JMIR Mental Health 5(1):e23. trích từ toàn văn · doi:10.2196/mental.9519
Zhou và cs., 2018
Nghiên cứu cắt ngang · n = 1.787 · Trung Quốc · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 1.787 nam công nhân doanh nghiệp ở Liễu Châu, Quảng Tây, Trung Quốc.
- Điều kiện
- Hút thuốc chủ động, hút thuốc thụ động, nồng độ 1-hydroxypyrene trong nước tiểu; giấc ngủ đo bằng PSQI.
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc dài, thời lượng ngủ ngắn, rối loạn chức năng ban ngày, chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5).
- Kết quả
- So với người không hút, người hút chủ động có OR 1,84 (KTC 95% 1,28–2,64) cho độ trễ vào giấc dài, 2,72 (1,45–5,09) cho thời lượng ngủ ngắn và 1,41 (1,05–1,88) cho chất lượng giấc ngủ kém. Người hút thụ động có OR 1,45 (1,00–2,11) cho độ trễ vào giấc dài và 1,34 (1,00–1,79) cho chất lượng giấc ngủ kém.
- Hạn chế
- Cắt ngang, chỉ nam giới công nhân một thành phố, giấc ngủ tự báo cáo. Nhận xét biên tập: cận dưới khoảng tin cậy của nhóm hút thụ động chạm 1,00 nên liên quan ở mức biên; chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Zhou B, Ma Y, Wei F, Zhang L, Chen X, Peng S, Xiong F, Peng X, NiZam B, Zou Y, Huang K (2018). Association of active/passive smoking and urinary 1-hydroxypyrene with poor sleep quality: A cross-sectional survey among Chinese male enterprise workers. Tobacco Induced Diseases 16. trích từ tóm tắt · doi:10.18332/tid/90004
Wakasugi và cs., 2014
Nghiên cứu cắt ngang · n = 243.767 · Nhật Bản · nhiều vùng
- Đối tượng
- 243.767 người tham gia khám sức khoẻ định kỳ ở Nhật Bản (39,8% nam).
- Điều kiện
- Điểm lối sống gồm 5 yếu tố nguy cơ thấp: không hút thuốc, uống ≤ 20 g ethanol/ngày, cân nặng, vận động, và thói quen ăn (không bỏ bữa sáng quá 3 lần/tuần và không ăn vặt sau bữa tối quá 3 lần/tuần).
- Đo gì
- Giấc ngủ không phục hồi (tự báo cáo).
- Kết quả
- Tỉ lệ giấc ngủ không phục hồi là 19,2% ở nam và 26,3% ở nữ. So người có 0 yếu tố lối sống tốt với người có đủ 5 yếu tố, OR hiệu chỉnh đầy đủ là 1,59 (KTC 95% 1,29–1,97) ở nam và 2,88 (1,74–4,76) ở nữ. Hút thuốc liên quan với tỉ lệ giấc ngủ không phục hồi cao hơn ở nữ; rượu liên quan với tỉ lệ thấp hơn ở nam.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: cắt ngang, không rõ chiều nhân quả; giấc ngủ không phục hồi đo bằng một câu hỏi; người đi khám định kỳ có thể quan tâm sức khoẻ hơn dân số chung; có thể còn nhiễu; các yếu tố được tính trọng số bằng nhau. Nhận xét biên tập: ăn vặt sau bữa tối được gộp chung với bỏ bữa sáng, không tách riêng được tác động của bữa muộn.
Wakasugi M, Kazama JJ, Narita I, Iseki K, Moriyama T, Yamagata K, Fujimoto S, Tsuruya K, Asahi K, Konta T, Kimura K, Kondo M, Kurahashi I, Ohashi Y, Watanabe T (2014). Association between combined lifestyle factors and non-restorative sleep in Japan: a cross-sectional study based on a Japanese health database. PLoS ONE 9(9):e108718. trích từ toàn văn · doi:10.1371/journal.pone.0108718
Zhang và cs., 2006
Nghiên cứu cắt ngang · n = 6.400 · Hoa Kỳ · nhiều vùng
- Đối tượng
- 6.400 người tham gia Sleep Heart Health Study: 2.916 chưa từng hút, 2.705 đã bỏ, 779 đang hút.
- Điều kiện
- Đa ký giấc ngủ một đêm tại nhà (1994–1999), so sánh theo tình trạng hút thuốc.
- Đo gì
- Độ trễ vào giấc, tổng thời gian ngủ, tỉ lệ các giai đoạn ngủ.
- Kết quả
- So với người chưa từng hút, người đang hút vào giấc chậm hơn 5,4 phút (KTC 95% 2,9–7,9) và ngủ ít hơn 14,0 phút (KTC 95% 6,4–21,7). Tỉ lệ ngủ nông N1 cao hơn (tỉ số 1,24) và tỉ lệ giấc sóng chậm thấp hơn (tỉ số 0,86). Người đã bỏ thuốc không khác người chưa từng hút.
- Hạn chế
- Cắt ngang, một đêm đo; tác giả nêu nicotine và cai nicotine cấp trong đêm là giả thuyết cơ chế. Nhận xét biên tập: chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Zhang L, Samet J, Caffo B, Punjabi NM (2006). Cigarette smoking and nocturnal sleep architecture. American Journal of Epidemiology 164(6):529–537. Tóm tắt đọc trên PubMed; danh sách tác giả đối chiếu trên trang SMART (smart-stats.org). trích từ tóm tắt · doi:10.1093/aje/kwj231
Mô hình, vật liệu và tiêu chuẩn · 6
Lelak và cs., 2022
Khác · Hoa Kỳ · nhiều vùng
- Đối tượng
- 260.435 ca trẻ ≤ 19 tuổi nuốt phải melatonin được báo cáo về các trung tâm chống độc Hoa Kỳ, 2012–2021.
- Điều kiện
- Phân tích hồi cứu dữ liệu hệ thống báo cáo của các trung tâm chống độc.
- Đo gì
- Số ca, mức tăng theo năm, nhập viện, chăm sóc tích cực, tử vong.
- Kết quả
- Số ca trẻ em nuốt phải melatonin mỗi năm tăng 530%, từ 8.337 ca năm 2012 lên 52.563 ca năm 2021. 94,3% là không chủ ý và 83,8% ở trẻ ≤ 5 tuổi. Có 4.097 ca nhập viện, 287 ca cần chăm sóc tích cực và 2 ca tử vong.
- Hạn chế
- Dữ liệu báo cáo tự nguyện về trung tâm chống độc, có thể thiếu ca và không xác minh được liều. Nhận xét biên tập: liên quan đến an toàn bảo quản trong nhà có trẻ nhỏ, không đánh giá tác động lên giấc ngủ.
Lelak K, Vohra V, Neuman MI, Toce MS, Sethuraman U (2022). Pediatric Melatonin Ingestions — United States, 2012–2021. MMWR Morbidity and Mortality Weekly Report 71(22):725–729. trích từ toàn văn · doi:10.15585/mmwr.mm7122a1
Lee và cs., 2020
Khác · Úc
- Đối tượng
- 4.412 cuộc gọi về phơi nhiễm tinh dầu tới Trung tâm Thông tin Chống độc bang New South Wales, 7/2014–6/2018.
- Điều kiện
- Phân tích hồi cứu dữ liệu cuộc gọi.
- Đo gì
- Số ca, độ tuổi, loại tinh dầu, tỉ lệ vô tình, tỉ lệ chuyển viện.
- Kết quả
- 63% ca (2.790) ở người dưới 15 tuổi; 80% là phơi nhiễm vô tình; 8,3% (365 ca) được khuyên đến bệnh viện. Tinh dầu thường gặp nhất là khuynh diệp (46,4%), tràm trà (17,0%) và oải hương (6,1%).
- Hạn chế
- Nhận xét biên tập: bài không có mục hạn chế riêng; dữ liệu là cuộc gọi tự nguyện tới một trung tâm của một bang (nhận khoảng một nửa số cuộc gọi chống độc của Úc), không xác minh mức độ nặng hay liều; liên quan đến việc cất giữ chai tinh dầu và máy khuếch tán trong phòng ngủ có trẻ nhỏ; không đánh giá giấc ngủ.
Lee KAYR, Harnett JE, Cairns R. Essential oil exposures in Australia: analysis of cases reported to the NSW Poisons Information Centre. Med J Aust. 2020;212(3):132-133. trích từ toàn văn · doi:10.5694/mja2.50403
Erland và cs., 2017
Khác · Canada
- Đối tượng
- 31 sản phẩm melatonin thương mại bán ở Canada (phần mục tiêu ghi 30, phần phương pháp ghi 31).
- Điều kiện
- Phân tích hàm lượng melatonin và serotonin thực tế so với nhãn.
- Đo gì
- Chênh lệch hàm lượng melatonin so với nhãn; khác biệt giữa các lô; có mặt serotonin.
- Kết quả
- Hàm lượng melatonin thực tế dao động từ −83% đến +478% so với nhãn; các lô khác nhau của cùng một sản phẩm chênh nhau tới 465%. Serotonin được phát hiện trong 8 sản phẩm.
- Hạn chế
- Mẫu sản phẩm ở một thị trường (Canada) tại một thời điểm. Nhận xét biên tập: chúng tôi chưa tìm được khảo sát tương tự cho sản phẩm bán ở Việt Nam; chỉ đọc tóm tắt.
Erland LAE, Saxena PK (2017), Melatonin Natural Health Products and Supplements: Presence of Serotonin and Significant Variability of Melatonin Content, Journal of Clinical Sleep Medicine trích từ tóm tắt · jcsm.aasm.org
Nguyen và cs., 2015
Khác · Việt Nam
- Đối tượng
- 15 mẫu cà phê bán tại Việt Nam: 8 mẫu cà phê rang và 7 mẫu cà phê hoà tan.
- Điều kiện
- Phân tích phòng thí nghiệm; caffeine chiết bằng Soxhlet và chiết lưu chất siêu tới hạn (SFE).
- Đo gì
- Hàm lượng caffeine trong sản phẩm (% khối lượng).
- Kết quả
- Hàm lượng caffeine khoảng 0,3–1,79% ở cà phê rang và khoảng 0,32–0,88% ở cà phê hoà tan.
- Hạn chế
- Số mẫu nhỏ (15). Nhận xét biên tập: kết quả tính theo phần trăm khối lượng bột, không phải mg trong một ly đã pha; lượng caffeine thực tế trong ly còn tuỳ lượng bột và cách pha (phin, máy). Chúng tôi chỉ đọc tóm tắt.
Nguyen QP, Nguyen TTN, Le PTK, Pham QT (2015). Determination of caffeine content and the volatile compound in some products of roasted and instant coffee in Vietnam. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ (ĐHQG-HCM) 18(2):85–93. trích từ tóm tắt · doi:10.32508/stdj.v18i2.1062
Trung tâm An toàn Thực phẩm Hồng Kông, 2013
Khác · Hồng Kông (Trung Quốc) · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 80 mẫu đồ uống nóng mua tại quán Hồng Kông: 30 trà sữa kiểu quán địa phương, 10 trà sữa kiểu Đài Loan, 20 cà phê thường, 12 espresso, 4 cappuccino, 4 latte.
- Điều kiện
- Mẫu mua tháng 4–5/2013, phòng thí nghiệm của Trung tâm An toàn Thực phẩm phân tích caffeine.
- Đo gì
- Hàm lượng caffeine mỗi ly (mg) và theo thể tích.
- Kết quả
- Cà phê thường trung bình 200 mg/ly (110–380 mg); trà sữa kiểu quán địa phương trung bình 170 mg/ly (73–220 mg); trà sữa kiểu Đài Loan trung bình 130 mg/ly (100–160 mg); espresso một shot trung bình 97 mg (62–170 mg); latte trung bình 90 mg (54–140 mg).
- Hạn chế
- Khảo sát một thời điểm, chỉ đồ uống nóng ở Hồng Kông; báo cáo không nêu phương pháp phân tích cụ thể. Nhận xét biên tập: đây là số đo hiếm hoi ở châu Á cho thấy một ly trà sữa có thể chứa lượng caffeine ngang một ly cà phê; trà sữa và cà phê ở Việt Nam có cỡ ly, loại trà, loại hạt khác nên chỉ dùng làm tham chiếu.
Trung tâm An toàn Thực phẩm Hồng Kông (Centre for Food Safety) (2013). Caffeine Content in Coffee and Milk Tea Prepared in Local Food Premises (khảo sát 80 mẫu đồ uống pha tại quán). trích từ toàn văn · cfs.gov.hk
Phan và cs., 2012
Khác · Việt Nam
- Đối tượng
- 5 nhãn cà phê bột rang xay mua tại Saigon Co.op: Đắk Tín, Di Linh, Nam Nguyên, Origin, Vinacafe.
- Điều kiện
- Đo quang phổ UV/vis ở 273 nm, phương pháp thêm chuẩn; thay đổi nhiệt độ nước (80–100 °C), thời gian ngâm (1–5 phút) và lượng nước (30–150 ml).
- Đo gì
- Nồng độ caffeine trong dịch chiết (µg/ml) theo nhãn hiệu và điều kiện pha.
- Kết quả
- Nồng độ cao nhất ở Vinacafe (54,30 ± 0,470 µg/ml, 90 °C, ngâm 5 phút), thấp nhất ở Đắk Tín (19,40 ± 0,232 µg/ml, 90 °C, ngâm 1 phút). Ở 100 °C, các nhãn dao động khoảng 23,8–53,0 µg/ml. Nhiệt độ nước và thời gian ngâm ảnh hưởng nhiều nhất, lượng nước hầu như không ảnh hưởng.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: giá trị caffeine thấp hơn số liệu trong tài liệu, một phần do chiết bằng nước cất thay vì dung môi hữu cơ. Nhận xét biên tập: chỉ 5 nhãn; đo bằng quang phổ UV (kém đặc hiệu hơn HPLC); không ghi loại hạt của từng nhãn; chúng tôi chưa xác định được dịch đo có bị pha loãng trước khi đo hay không, nên không quy đổi các số µg/ml này thành mg trong một ly phin; chỉ nên dùng để so sánh tương đối giữa các nhãn và cách pha.
Phan TTD, Kuban V, Kráčmar S (2012). Determination of caffeine contents of coffee brands in the Vietnamese market. Journal of Microbiology, Biotechnology and Food Sciences 1(February Special issue):995–1002. trích từ toàn văn · office2.jmbfs.org