giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Nghiên cứu giấc ngủ: nhiệt

22 nghiên cứu, xếp theo bậc bằng chứng: từ tổng quan và phân tích gộp tới nghiên cứu quan sát. Mỗi bản ghi ghi rõ thiết kế, khí hậu nơi làm và hạn chế.

Chỉ số và hiện tượng nhóm nhiệt →

Tổng quan và phân tích gộp · 4

Xu và cs., 2025

Tổng quan hệ thống · 25 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia (Trung Quốc 52%, Nhật Bản 32%) · nhiều vùng

Đối tượng
25 bài báo (23 về chất lượng giấc ngủ, 16 về giai đoạn ngủ, 18 về phiếu tiện nghi nhiệt); người tham gia chủ yếu 17–40 tuổi.
Điều kiện
Hệ thống làm mát cá nhân (quạt 42%, vật liệu dẫn nhiệt như gối, nệm, chăn mát 42%, luồng khí thiết kế riêng 16%) và làm ấm cá nhân (chăn/nệm điện, ngâm chân, vật liệu ấm).
Đo gì
Độ trễ vào giấc, hiệu suất giấc ngủ, giai đoạn N3, phiếu tiện nghi nhiệt (cỡ hiệu ứng Cohen d do tác giả tính).
Kết quả
Mọi cỡ hiệu ứng về độ trễ vào giấc đều dưới 0: cả làm mát và làm ấm cá nhân đi kèm vào giấc nhanh hơn, với cỡ hiệu ứng trung bình ở mức vừa. Làm mát cá nhân tăng giai đoạn N3 với hiệu ứng trung bình đến lớn; làm ấm có hiệu ứng N3 không đáng kể (dưới |0,2|). Chỉ một nghiên cứu làm mát cho thấy hiệu suất giấc ngủ giảm, gắn với luồng gió tốc độ cao, không đều.
Hạn chế
Tác giả nêu: loại thiết bị được thử còn hẹp và hệ thống tiện nghi cá nhân có những giới hạn khi áp dụng thực tế, có thể làm giảm khả năng khái quát kết quả. Nhận xét biên tập: chỉ 25 nghiên cứu; ít dữ liệu cho trẻ em (một nghiên cứu) và người trên 60 tuổi; chỉ tìm trên Web of Science, tiếng Anh, 1998–2023; không làm phân tích gộp chuẩn mà tính Cohen's d từng nghiên cứu rồi lấy trung bình theo kết cục.

Xu X, Zhang H, Schiavon S, Lian Z, Parkinson T, Lo JC (2025). The effects of personal comfort systems on sleep: A systematic review. Renewable and Sustainable Energy Reviews 213:115474. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.rser.2025.115474

Chevance và cs., 2024

Tổng quan hệ thống · 36 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia (Mỹ chiếm nhiều nhất) · nhiều vùng

Đối tượng
36 nghiên cứu quan sát và bán thực nghiệm trong đời sống thực (sàng lọc 1.735 bản ghi, đọc toàn văn 58); người tham gia từ khoảng 13 đến gần 80 tuổi.
Điều kiện
Tổng hợp các nghiên cứu về nhiệt độ ngoài trời hoặc trong nhà và giấc ngủ; loại trừ thí nghiệm thao tác nhiệt độ trong phòng thí nghiệm.
Đo gì
Thời lượng và chất lượng giấc ngủ đo bằng nhiều cách (tự báo cáo, thiết bị đeo, đa ký giấc ngủ).
Kết quả
29/36 nghiên cứu (81%) kết luận nhiệt độ cao hơn đi kèm giấc ngủ kém hơn; 8/9 nghiên cứu chất lượng cao hơn và 9/11 nghiên cứu bán thực nghiệm cho kết quả cùng chiều. Ví dụ hiệu ứng: thời lượng ngủ giảm 0,97 phút mỗi +1 °C vào cuối hè so với 0,20 phút vào mùa đông; một nghiên cứu sóng nóng ở Boston ước tính giảm 2,7 phút mỗi +1 °C nhiệt độ phòng ngủ. Tác động lớn hơn ở tháng nóng nhất, người cao tuổi và vùng ấm hơn.
Hạn chế
Tác giả nêu chất lượng nghiên cứu thấp đến trung bình (khoảng 30% tiêu chí chất lượng đạt), chỉ 42% hiệu chỉnh mùa; không gộp số liệu được do không đồng nhất; chỉ hai nghiên cứu đo cả nhiệt độ trong nhà lẫn ngoài trời và chỉ một nghiên cứu phân tích đồng thời hai loại; việc dùng điều hoà hiếm khi được đo hoặc phân tích như một yếu tố thích nghi. Chỉ sáu nghiên cứu ở vùng nhiệt đới, nơi có khoảng 40% dân số thế giới.

Chevance G, Minor K, Vielma C, Campi E, O'Callaghan-Gordo C, Basagaña X, Ballester J, Bernard P (2024). A systematic review of ambient heat and sleep in a warming climate. Sleep Medicine Reviews 75:101915. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.smrv.2024.101915

Haghayegh và cs., 2019

Phân tích gộp · 17 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng

Đối tượng
17 nghiên cứu đạt tiêu chí (13 có dữ liệu dùng cho phân tích gộp), sàng lọc từ 5.322 bài.
Điều kiện
Tắm vòi sen hoặc ngâm bồn nước 40–42,5 °C, 1–2 giờ trước giờ ngủ.
Đo gì
Độ trễ vào giấc, hiệu suất giấc ngủ, chất lượng giấc ngủ tự đánh giá.
Kết quả
Làm ấm cơ thể thụ động bằng nước 40–42,5 °C đi kèm chất lượng giấc ngủ tự đánh giá và hiệu suất giấc ngủ tốt hơn; tắm 1–2 giờ trước giờ ngủ, dù chỉ khoảng 10 phút, đi kèm vào giấc nhanh hơn. Tác giả giải thích bằng tăng lưu lượng máu ở lòng bàn tay, bàn chân giúp thải nhiệt và hạ thân nhiệt lõi.
Hạn chế
Tác giả nêu bằng chứng còn hạn chế; thời điểm, thời lượng tối ưu và cơ chế chính xác cần nghiên cứu thêm. Nhận xét biên tập: chỉ đọc được tóm tắt (không có độ lớn hiệu ứng); các nghiên cứu gốc nhỏ, phần lớn ở khí hậu mát; chưa rõ hiệu quả khi phòng ngủ 29–30 °C.

Haghayegh S, Khoshnevis S, Smolensky MH, Diller KR, Castriotta RJ (2019). Before-bedtime passive body heating by warm shower or bath to improve sleep: A systematic review and meta-analysis. Sleep Medicine Reviews 46:124–135. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.smrv.2019.04.008

Harding và cs., 2019

Tổng quan · Anh

Đối tượng
Tổng quan tường thuật về điều nhiệt và giấc ngủ ở người và động vật gặm nhấm.
Điều kiện
Tổng hợp cơ chế: nhịp thân nhiệt lõi, giãn mạch ngoại vi, vùng trung tính nhiệt, thí nghiệm làm ấm da.
Đo gì
Thân nhiệt lõi, nhiệt độ da, độ trễ vào giấc.
Kết quả
Thân nhiệt lõi giảm trong khoảng 2 giờ trước khi ngủ và thấp nhất khoảng 2 giờ sau khi tắt đèn. Chênh lệch nhiệt độ da gần–xa trung tâm khoảng 1,5 °C lúc vào giấc và thu hẹp còn khoảng 0,5 °C khi thân nhiệt lõi giảm; làm ấm da khoảng 0,4 °C trong khoảng 31–35 °C có thể rút ngắn thời gian vào giấc mà không đổi thân nhiệt lõi. Tổng quan dẫn nhiệt độ phòng tối ưu khoảng 19–21 °C; ở mức này người ngủ tìm cách duy trì vi khí hậu quanh da khoảng 31–35 °C.
Hạn chế
Tổng quan tường thuật, nhiều bằng chứng từ chuột. Nhận xét biên tập: mốc 19–21 °C gắn với người có chăn ở khí hậu ôn đới; con số quan trọng hơn cho Việt Nam là vi khí hậu quanh da 31–35 °C.

Harding EC, Franks NP, Wisden W (2019). The Temperature Dependence of Sleep. Frontiers in Neuroscience 13:336. trích từ toàn văn · doi:10.3389/fnins.2019.00336

Thử nghiệm có đối chứng · 8

Zhang và cs., 2026

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 18 · Singapore · nhiệt đới ẩm

Đối tượng
18 người tham gia tại nhà riêng, mỗi người ít nhất 30 đêm nghiên cứu.
Điều kiện
Thử nghiệm ngẫu nhiên vi mô: bộ điều khiển hồng ngoại chỉnh điều hoà treo tường theo một hồ sơ nhiệt độ: cao hơn mức quen dùng 1 °C trước khi ngủ, về mức quen dùng lúc đi ngủ, thấp hơn 1 °C đầu giấc, rồi trở lại mức quen dùng.
Đo gì
Độ khớp của nhiệt độ phòng với hồ sơ mục tiêu; kết cục giấc ngủ (thăm dò).
Kết quả
Chỉ 44% trong 285 đêm điều khiển động hợp lệ đạt tiêu chí khớp hồ sơ; 9 nhà được xếp là khớp, 9 nhà không khớp. Người tham gia ưa môi trường trước ngủ mát hơn khi điều khiển động (p < 0,05); kết cục giấc ngủ tổng thể không cho thấy tác động rõ, và giai đoạn ấm trước ngủ làm tăng khó chịu mà không rút ngắn vào giấc.
Hạn chế
Kết cục giấc ngủ chỉ mang tính thăm dò; độ trung thành can thiệp thấp; chỉ đọc được tóm tắt và điểm nổi bật. Nhận xét biên tập: cho thấy điều hoà dân dụng khó bám hồ sơ nhiệt độ ±1 °C trong phòng thật.

Zhang W, Chong A, Zhang H, Schiavon S, Miller C (2026). Field evaluation of dynamic bedroom air-temperature control for sleep in real homes: Implementation fidelity and exploratory sleep outcomes. Building and Environment 304. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.buildenv.2026.115100

Hu và cs., 2023

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 12 · Trung Quốc (Tương Đàm, Hồ Nam) · phòng thí nghiệm

Đối tượng
12 nam sinh viên, tuổi 22,5 ± 2,5.
Điều kiện
Phòng khí hậu 32 ± 0,5 °C, độ ẩm 70 ± 5%, gió 0,1 m/s. Giường dẫn nhiệt có nước chảy ở 20, 25, 28, 30 °C hoặc không có nước.
Đo gì
Cảm giác và tiện nghi nhiệt theo vùng cơ thể, nhiệt độ da, nhiệt độ bề mặt giường.
Kết quả
Không có nước, bề mặt giường 32–33,5 °C và 65% đánh giá tổng thể là khó chịu. Với nước cấp 28 hoặc 30 °C (bề mặt khoảng 29–31 °C), trên 85% người tham gia thấy trung tính ở đa số vùng cơ thể và tiện nghi tổng thể đạt 85–90%. Với nước 20 °C, bề mặt giường còn 23–26 °C; hơn 55% người tham gia thấy hơi lạnh ở nhiều vùng cơ thể và 80% thấy khó chịu ở lưng. Tác giả ước tính dùng giường dẫn nhiệt có thể giảm trên 60% điện năng của điều hoà.
Hạn chế
Tác giả nêu: chỉ nam trẻ, chỉ thử ở 32 °C, không đo điện não/điện nhãn nên không đánh giá được giấc ngủ khách quan, giường chế tạo còn thô, chưa nghiên cứu cách vận hành phối hợp với điều hoà. Nhận xét biên tập: ước tính tiết kiệm điện trên 60% là suy luận từ quy tắc kinh nghiệm (khoảng 10% cho mỗi 1 °C tăng nhiệt độ đặt), không phải đo thực; bài không báo cáo kiểm định thống kê so sánh giữa các điều kiện.

Hu J, Hao X, Huang M, He Y, Li N, Lin Y, Chen S (2023). An Experimental Study on Human Thermal Comfort with Thermal-Conductive Bed during Sleep in Summer. Buildings 13(8):1936. trích từ toàn văn · doi:10.3390/buildings13081936

Lan và cs., 2019

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 18 · Trung Quốc · phòng thí nghiệm

Đối tượng
18 người cao tuổi.
Điều kiện
Ba điều kiện: quạt trần ở 30 °C (tốc độ gió tối đa 0,8 m/s, trung bình 0,7 m/s); quạt đặt cạnh người ở 30 °C (tối đa 0,8 m/s, trung bình 0,6 m/s); điều kiện trung tính 27 °C, gió 0,2 m/s.
Đo gì
Điện não đồ qua đêm, cortisol nước tiểu buổi sáng, cảm giác nhiệt.
Kết quả
Quạt trần ở 30 °C và điều kiện trung tính 27 °C không khác biệt có ý nghĩa về chất lượng giấc ngủ, tiện nghi nhiệt hay cortisol. Với quạt đặt cạnh người, tổng thời gian ngủ giảm 35 phút, REM giảm 15 phút và cortisol buổi sáng cao hơn 50 ng/mL so với hai điều kiện kia. Gió 0,8 m/s phủ đều cơ thể giữ được giấc ngủ ở nhiệt độ cao hơn mức trung tính 3 °C.
Hạn chế
Cỡ mẫu nhỏ (18 người), thời gian thí nghiệm ngắn, phòng thí nghiệm. Chỉ đọc được tóm tắt. Nhận xét biên tập: độ ẩm thí nghiệm không nêu trong tóm tắt; ở độ ẩm cao như Việt Nam, hiệu quả làm mát của gió có thể khác.

Lan L, Xia L, Tang J, Zhang X, Lin Y, Wang Z (2019). Elevated airflow can maintain sleep quality and thermal comfort of the elderly in a hot environment. Indoor Air 29(6):1040–1049. trích từ tóm tắt · doi:10.1111/ina.12599

Ngarambe và cs., 2019

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 10 · Hàn Quốc · ôn đới

Đối tượng
10 nam giới Hàn Quốc khoẻ mạnh, tuổi trung bình 23,5 (một người vắng ở một buổi).
Điều kiện
Hai phòng giống nhau trong căn hộ tầng 18, mùa hè. Điều khiển cố định 26 °C so với điều khiển theo giai đoạn ngủ (IoT): 26 °C lúc đầu, 28 °C khi ngủ nông/REM, 29 °C khi ngủ sâu, 30 °C khoảng 1 giờ trước khi dậy.
Đo gì
Bảng hỏi chất lượng giấc ngủ chủ quan, số lần thức giấc tự báo cáo.
Kết quả
Với điều khiển theo giai đoạn, số lần thức đêm tự báo cáo trung bình 1,22 so với 2,33 ở điều khiển cố định (p = 0,045); cảm giác sảng khoái 2,89 so với 2,3 (p = 0,031). Điểm "ngủ tốt thế nào" 5,6 so với 4,0 nhưng chỉ ở mức p = 0,055.
Hạn chế
Tác giả nêu: chỉ 10 người, cần mẫu lớn hơn để xác định quan hệ nhân quả; chỉ nam giới trẻ đi làm nên khó áp dụng cho tuổi và giới khác; chỉ đo mùa hè. Nhận xét biên tập: kết cục là tự báo cáo; tác giả dùng ngưỡng ý nghĩa p < 0,1 và không hiệu chỉnh so sánh bội; hai đồng tác giả thuộc Samsung Electronics (bài khai báo không có xung đột lợi ích); người tham gia có thể biết điều kiện; nhiều kết quả chỉ gần ý nghĩa.

Ngarambe J, Yun GY, Lee K, Hwang Y (2019). Effects of changing air temperature at different sleep stages on the subjective evaluation of sleep quality. Sustainability 11(5):1417. trích từ toàn văn · doi:10.3390/su11051417

Tsuzuki và cs., 2018

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 12 · Nhật Bản · phòng thí nghiệm

Đối tượng
12 nam thanh niên Nhật Bản khoẻ mạnh, mùa đông.
Điều kiện
Phòng khí hậu 3 °C, 10 °C và 17 °C, độ ẩm 50%; ngủ trên futon với ga cotton, chăn acrylic và chăn lông vũ, tổng cách nhiệt 4,3 clo.
Đo gì
Đa ký giấc ngủ, nhiệt độ da, vi khí hậu giường, cảm giác nhiệt.
Kết quả
Với bộ chăn đủ dày, các chỉ số giấc ngủ không khác biệt giữa 3, 10 và 17 °C: độ trễ vào giấc 10; 6,7; 9,8 phút (p = 0,84); hiệu suất giấc ngủ 94,5%; 94,2%; 94,5% (p = 0,99); giấc ngủ sóng chậm 73,3; 77,2; 77 phút (p = 0,89). Nhiệt độ da ngực gần như không đổi (35,1–35,2 °C).
Hạn chế
Cỡ mẫu nhỏ, chỉ nam giới trẻ; kết quả phụ thuộc bộ chăn rất ấm (4,3 clo). Nhận xét biên tập: liên quan chủ yếu tới mùa đông miền Bắc, không áp dụng cho đêm nóng.

Tsuzuki K, Okamoto-Mizuno K, Mizuno K (2018). The Effects of Low Air Temperatures on Thermoregulation and Sleep of Young Men While Sleeping Using Bedding. Buildings 8(6):76. trích từ toàn văn · doi:10.3390/buildings8060076

Morito và cs., 2017

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 10 · Nhật Bản · phòng thí nghiệm

Đối tượng
10 nam thanh niên khoẻ mạnh, PSQI dưới 5, tuổi 23,0 ± 3,6.
Điều kiện
Phòng có điều hoà ở khoảng 26,4 °C, độ ẩm 53–58%. Điều kiện A: gió trung bình 0,14 m/s, tối đa trên giường 1,1 m/s, 28 đợt gió mỗi đêm; điều kiện B: trung bình 0,04 m/s, tối đa 0,3 m/s, 11 đợt.
Đo gì
Giai đoạn ngủ, chỉ số hiệu suất giấc ngủ, cử động cơ thể, nhịp tim, nhiệt độ da và trực tràng, cảm giác nhiệt.
Kết quả
Hiệu suất giấc ngủ và tổng thời gian các giai đoạn ngủ không khác biệt lớn giữa hai điều kiện. Số lần chuyển sang thức, số cử động cơ thể và số lần nhịp tim tăng vọt khi gặp đợt gió dao động đều cao hơn có ý nghĩa ở điều kiện A (gió mạnh, ngắt quãng). Người ngủ cảm thấy gió nhiều và mát hơn ở A nhưng mức tiện nghi không khác.
Hạn chế
Cỡ mẫu nhỏ, chỉ nam giới trẻ; trang đọc được không ghi giá trị p cụ thể. Một tác giả thuộc công ty nhà ở (Asahi Kasei Homes). Nhận xét biên tập: luồng gió điều hoà thổi thẳng, dao động có thể gây vi thức giấc dù tổng chỉ số giấc ngủ không đổi.

Morito N, Tsuzuki K, Mori I, Nishimiya H (2017). Effects of two kinds of air conditioner airflow on human sleep and thermoregulation. Energy and Buildings 138:490–498. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.enbuild.2016.12.066

Pan và cs., 2012

Thực nghiệm chéo có đối chứng · Trung Quốc · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Nam và nữ trưởng thành (tóm tắt không nêu số người).
Điều kiện
Mùa đông, nhiệt độ phòng 17, 20 và 23 °C.
Đo gì
Bảng hỏi, điện não đồ, nhiệt độ da trung bình, nhiệt độ và lưu lượng máu ngón tay.
Kết quả
Nữ ưa nhiệt độ phòng cao hơn khi ngủ; nữ có nhiệt độ da trung bình cao hơn nhưng nhiệt độ và lưu lượng máu ngón tay thấp hơn, và phản ứng mạnh hơn với nhiệt độ phòng. Ở cùng nhiệt độ, nam có chất lượng giấc ngủ chủ quan và theo điện não đồ tốt hơn.
Hạn chế
Chỉ đọc được tóm tắt, không có cỡ mẫu và số liệu giấc ngủ. Nhận xét biên tập: điều kiện mùa đông, nhiệt độ thấp hơn mức thường gặp ở Việt Nam ngoài miền Bắc.

Pan L, Lian Z, Lan L (2012). Investigation of Gender Differences in Sleeping Comfort at Different Environmental Temperatures. Indoor and Built Environment 21(6):811–820. trích từ tóm tắt · doi:10.1177/1420326x11425967

Tsuzuki và cs., 2008 (thí nghiệm gió)

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 17 · Nhật Bản · phòng thí nghiệm

Đối tượng
17 nam giới mặc pyjama ngắn, đắp chăn cotton; mỗi người trải qua hai trong ba điều kiện.
Điều kiện
Ba điều kiện mùa hè: 26 °C/50%/gió 0,2 m/s; 32 °C/80%/gió 1,7 m/s; 32 °C/80%/gió 0,2 m/s (lặng gió).
Đo gì
Giai đoạn ngủ, thời gian thức, thân nhiệt trực tràng, nhiệt độ da, sụt cân do mồ hôi.
Kết quả
Ở 32 °C/80%, có gió 1,7 m/s thì tổng thời gian thức giảm có ý nghĩa so với lặng gió (P < 0,05); thời lượng các giai đoạn ngủ không khác giữa 26 °C/50% và 32 °C/80% có gió. Ở 32 °C/80% có gió, thân nhiệt trực tràng, nhiệt độ da và lượng sụt cân cao hơn điều kiện 26 °C/50% nhưng thấp hơn điều kiện lặng gió (P < 0,05), tức gió giảm một phần tải nhiệt.
Hạn chế
Nguồn đọc là báo cáo tóm tắt đề tài trên cơ sở dữ liệu KAKEN, không phải bài báo gốc; cỡ mẫu nhỏ, chỉ nam giới. Nhận xét biên tập: gió 1,7 m/s mạnh hơn nhiều so với tốc độ quạt để chế độ thấp thường gặp; điều kiện 32 °C/80% gần với đêm nóng ẩm ở miền Nam Việt Nam.

Tsuzuki K (chủ nhiệm), Sakoi T. Báo cáo kết quả đề tài KAKENHI 17300234 (FY2005–FY2007): Effects of nonuniform thermal environment on sleeping human body and planning of safety and comfortable air-conditioners in the housing environment. AIST, Nhật Bản. Bài báo liên quan: Tsuzuki K, Okamoto-Mizuno K, Mizuno K, Iwaki T (2008). Int J Biometeorol 52(4):261–270. trích từ tóm tắt · kaken.nii.ac.jp

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · 2

Bhadra và cs., 2026

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 17 · Anh · phòng thí nghiệm

Đối tượng
17 người trưởng thành khoẻ mạnh.
Điều kiện
Ba giai đoạn đo lặp lại: ngủ tại phòng riêng mùa hè bình thường; ngủ với chăn ga thường trong phòng giữ ở 30 °C; ngủ trong cùng phòng 30 °C với tấm topper làm mát chạy nước, năng lượng thấp.
Đo gì
Actigraphy cổ tay, bảng hỏi tiện nghi nhiệt khi ngủ và chất lượng giấc ngủ.
Kết quả
Topper làm mát làm tăng có ý nghĩa các chỉ số tiện nghi nhiệt khi ngủ (p < 0,05) với cỡ hiệu ứng lớn (r = 0,71–0,93). Theo actigraphy, làm mát giường đưa tổng thời gian ngủ trở về mức nền và rút ngắn độ trễ vào giấc 10 phút so với chăn ga thường ở 30 °C; người tham gia báo chất lượng giấc ngủ tốt hơn và ít thời gian thức hơn.
Hạn chế
Cỡ mẫu nhỏ; thứ tự điều kiện có vẻ cố định; actigraphy không phải đa ký giấc ngủ; người tham gia biết mình dùng thiết bị. Chỉ đọc được tóm tắt. Nhận xét biên tập: người Anh chưa thích nghi với 30 °C, mức phản ứng có thể khác người sống quen khí hậu nóng.

Bhadra J, Beizaee A, Hartescu I, Lomas K (2026). The effects of bed cooling on sleep quality and sleep thermal comfort in overheated bedrooms. Building and Environment 291:114213. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.buildenv.2026.114213

Bhadra và cs., 2025

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 22 · Anh · phòng thí nghiệm

Đối tượng
22 người trưởng thành 25–50 tuổi (11 nữ, 11 nam), không có rối loạn giấc ngủ.
Điều kiện
5 đêm nền tại phòng ngủ riêng mùa hè Anh, sau đó 3 đêm trong phòng có kiểm soát ở 30 ± 0,5 °C.
Đo gì
Actigraphy cổ tay (tổng thời gian ngủ, hiệu suất, độ trễ vào giấc, chỉ số phân mảnh), đánh giá chất lượng giấc ngủ, độ sảng khoái, tiện nghi nhiệt.
Kết quả
Ở 30 °C, tổng thời gian ngủ giảm có ý nghĩa 24 phút; hiệu suất giấc ngủ và độ trễ vào giấc tương đối ổn định. Chất lượng giấc ngủ và độ sảng khoái tự đánh giá đều thấp hơn (p < 0,001); phiếu tiện nghi nhiệt cho thấy khó chịu rõ (p = 0,002). Tác giả cho rằng kết quả ủng hộ ngưỡng 29 °C nhiệt độ phòng ngủ trung bình ban đêm cho nhà ở Anh.
Hạn chế
Không ngẫu nhiên thứ tự (nền rồi mới đến phòng nóng), phòng lạ, chỉ 3 đêm; actigraphy. Chỉ đọc được tóm tắt hội thảo. Nhận xét biên tập: ngưỡng 29 °C xây dựng cho người Anh; người Việt quen nóng có thể có ngưỡng khác — chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu tương đương ở Việt Nam.

Bhadra J, Beizaee A, Hartescu I (2025). Impact of overheated bedroom conditions on sleep thermal comfort and sleep quality based on an experimental study. Trong: Fernández-Agüera J, Domínguez-Amarillo S, Roaf S (eds.), Comfort at the Extremes: Investing in Well-being in a Challenging Future, tr. 215–223. Ecohouse Initiative Ltd. trích từ tóm tắt · repository.lboro.ac.uk

Nghiên cứu quan sát · 8

Okamoto-Mizuno và cs., 2024

Đo thực địa · n = 13 · Nhật Bản · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
13 trẻ em khoẻ mạnh (6 nam, 7 nữ), tuổi 11,4 ± 0,7, trong trại hè ngủ tại nhà thi đấu khoảng 1.050 m² cùng 174 người.
Điều kiện
So sánh đêm trước trại, đêm ở nhà thi đấu, và hai đêm sau tại nhà; đo nhiệt độ, độ ẩm phòng và vi khí hậu giường ở ngực và chân.
Đo gì
Hiệu suất giấc ngủ, tổng thời gian ngủ (actigraphy), vi khí hậu giường, bảng hỏi.
Kết quả
Nhiệt độ nhà thi đấu cao hơn đêm trước trại trong 180 phút đầu của giấc ngủ, rồi giảm từ 26,7 °C xuống 25 °C. Hiệu suất giấc ngủ đêm ở nhà thi đấu giảm còn 43 ± 4,8%, khoảng một nửa so với các đêm khác. Khoảng 85% trẻ không nằm trong túi ngủ lúc vào giấc; 10/13 trẻ (77%) nêu nóng là lý do gây khó ngủ thường gặp nhất.
Hạn chế
Tác giả nêu: mẫu nhỏ, độ tuổi hẹp; việc dùng túi ngủ dựa vào hồi tưởng sau khi thức dậy; trẻ không lo âu như khi sơ tán thật và nơi sơ tán thật thường đông hơn; nhiệt độ, độ ẩm nhà thi đấu phụ thuộc thời tiết và số người nên khó khái quát. Nhận xét biên tập: chỉ một đêm ở nhà thi đấu; ồn, sàn cứng, chỗ chật, chỗ lạ (hiệu ứng đêm đầu) không tách được khỏi nhiệt; bối cảnh ngủ tập thể, không phải phòng ngủ gia đình.

Okamoto-Mizuno K, Mizuno K (2024). How staying in a gymnasium affects sleep and bed climate in children. Journal of Physiological Anthropology 43:2. trích từ toàn văn · doi:10.1186/s40101-023-00350-3

Rahai và cs., 2024

Nghiên cứu thuần tập · n = 8.580 · Hoa Kỳ · nhiều vùng

Đối tượng
8.580 trẻ 9–10 tuổi lúc bắt đầu trong nghiên cứu ABCD, 33.010 lượt quan sát qua năm đợt hằng năm.
Điều kiện
Phơi nhiễm nóng tính bằng số ngày hè có nhiệt độ tối cao trên 32,2 °C tại địa chỉ nhà; diện tích công viên trong khu dân cư.
Đo gì
Điểm Thang rối loạn giấc ngủ ở trẻ (SDSC, 26–130 điểm) do cha mẹ báo cáo.
Kết quả
Số ngày nóng cực đoan liên quan thuận với rối loạn giấc ngủ ở trẻ (β = 0,05; SE = 0,01; p < 0,01). Tăng một độ lệch chuẩn số ngày nóng (khoảng 26 ngày) tương ứng điểm rối loạn cao hơn khoảng 0,39 điểm (trung bình mẫu 36,3). Diện tích công viên làm yếu mối liên quan này (β tương tác = −0,02; p < 0,05).
Hạn chế
Tác giả nêu: thiết kế quan sát, không đo việc sử dụng không gian xanh hay điều kiện nhiệt trong nhà. Nhận xét biên tập: độ lớn hiệu ứng rất nhỏ trên thang điểm; khí hậu Hoa Kỳ.

Rahai R, Wells NM, Evans GW (2024). Neighborhood Greenspace, Extreme Heat Exposure, and Sleep Quality over Time among a Nationally Representative Sample of American Children. International Journal of Environmental Research and Public Health 21(10):1270 (đính chính 2025, 22:529). trích từ toàn văn · doi:10.3390/ijerph21101270

Baniassadi và cs., 2023

Nghiên cứu thuần tập · Hoa Kỳ · ôn đới

Đối tượng
Người cao tuổi sống tại cộng đồng (tóm tắt không nêu số người).
Điều kiện
Theo dõi dọc tại nhà bằng thiết bị đo giấc ngủ đeo và cảm biến môi trường phòng ngủ, có hiệu chỉnh yếu tố gây nhiễu.
Đo gì
Thời lượng ngủ, hiệu suất giấc ngủ, mức trằn trọc.
Kết quả
Giấc ngủ hiệu quả và yên nhất khi nhiệt độ ban đêm trong khoảng 20–25 °C. Khi nhiệt độ tăng từ 25 °C lên 30 °C, hiệu suất giấc ngủ giảm 5–10%, mức tác giả coi là có ý nghĩa lâm sàng. Quan hệ chủ yếu phi tuyến và khác nhau đáng kể giữa từng người.
Hạn chế
Quan sát, chỉ cho thấy liên quan; chỉ đọc được tóm tắt nên không biết cỡ mẫu và số đêm. Nhận xét biên tập: khí hậu ôn đới, khoảng tối ưu 20–25 °C không nên áp thẳng cho người đã thích nghi khí hậu nóng ẩm.

Baniassadi A, Manor B, Yu W, Travison T, Lipsitz L (2023). Nighttime ambient temperature and sleep in community-dwelling older adults. Science of the Total Environment 899:165623. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.scitotenv.2023.165623

Minor và cs., 2022

Nghiên cứu thuần tập · n = 47.628 · Nhiều quốc gia (68 nước) · nhiều vùng

Đối tượng
47.628 người trưởng thành dùng vòng đeo tay theo dõi giấc ngủ ở 68 quốc gia, khoảng 7,41 triệu đêm ghi nhận sau xử lý.
Điều kiện
Ghép dữ liệu ngủ từ vòng đeo tay với nhiệt độ thời tiết ngoài trời hằng ngày tại nơi ở; so sánh trong cùng một người giữa các đêm nóng và mát hơn.
Đo gì
Thời lượng ngủ, giờ bắt đầu ngủ, xác suất ngủ dưới 7 giờ.
Kết quả
Đêm có nhiệt độ trên 30 °C đi kèm thời lượng ngủ giảm trung bình 14,08 phút so với những đêm có mức mất ngủ do nhiệt thấp nhất trong dữ liệu. Khi nhiệt độ tối thấp trên 25 °C, xác suất ngủ dưới 7 giờ tăng 3,5 điểm phần trăm so với mốc 5–10 °C. Mức giảm ngủ theo mỗi độ tăng ở người trên 65 tuổi lớn hơn khoảng gấp đôi người trung niên (hệ số −0,61 so với −0,28); phụ nữ −0,34 so với nam −0,27; cư dân nước thu nhập trung bình thấp −0,85 so với nước thu nhập cao −0,30 (p = 0,087). Mức mất ngủ chủ yếu đến từ việc vào giấc muộn hơn.
Hạn chế
Nhiệt độ là nhiệt độ ngoài trời từ trạm thời tiết, không đo trong phòng ngủ; không biết người tham gia có dùng điều hoà hay quạt. Thời lượng ngủ ước tính bằng vòng đeo tay tiêu dùng. Người dùng thiết bị đeo thường có thu nhập cao hơn mặt bằng chung. Nhận xét biên tập: dữ liệu các nước nhiệt đới thu nhập thấp như Việt Nam ít; chênh lệch theo nhóm thu nhập chỉ ở mức gần ý nghĩa thống kê.

Minor K, Bjerre-Nielsen A, Jonasdottir SS, Lehmann S, Obradovich N (2022). Rising temperatures erode human sleep globally. One Earth 5(5):534–549. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.oneear.2022.04.008

Tsuzuki và cs., 2021

Đo thực địa · n = 16 · Nhật Bản (Nagoya) · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
16 người cao tuổi sống độc lập (8 nam, 8 nữ), tuổi 80 ± 5; 13 người hoàn thành đủ bốn mùa.
Điều kiện
Hai cơ sở dưỡng lão công lập; điều hoà trung tâm tắt về đêm. Đo nhiệt độ, độ ẩm phòng ngủ và giấc ngủ bằng actigraphy khoảng một tuần mỗi mùa.
Đo gì
Chỉ số hiệu suất giấc ngủ, tổng thời gian ngủ, thời gian thức, độ trễ vào giấc, cảm giác nhiệt.
Kết quả
Mùa hè, nhiệt độ phòng trước giờ ngủ khoảng 27,6 °C, buổi sáng 28,6–29,2 °C, trung bình 29 °C từ 0:00 đến 6:00. Không có khác biệt có ý nghĩa giữa các mùa về chỉ số giấc ngủ; nhưng mùa hè nam giới có hiệu suất giấc ngủ khoảng 72% so với nữ khoảng 86% và thời gian thức khoảng 140 phút so với 60 phút (p < 0,05).
Hạn chế
Tác giả nêu: cỡ mẫu nhỏ, có người rút lui (hai người tử vong, một nhập viện), không đo liên tục tốc độ gió và nhiệt độ bức xạ về đêm, cách nhiệt quần áo và chăn chỉ ước tính từ bảng kiểm. Nhận xét biên tập: sau khi rút lui chỉ còn 5 nam và 8 nữ nên so sánh theo giới kém cân bằng; giấc ngủ đo bằng actigraphy chỉ là ước lượng.

Tsuzuki K, Sakoi T, Sakata Y (2021). Effect of Seasonal Ambient Temperature on Sleep and Thermal Comfort in Older People Living in Public Elderly Facilities. Buildings 11(12):574. trích từ toàn văn · doi:10.3390/buildings11120574

Obradovich và cs., 2017

Nghiên cứu cắt ngang · n = 765.000 · Hoa Kỳ · nhiều vùng

Đối tượng
765.000 người trả lời khảo sát tại Hoa Kỳ, giai đoạn 2002–2011.
Điều kiện
Ghép số đêm ngủ không đủ tự báo cáo với dị thường nhiệt độ ban đêm tại nơi ở.
Đo gì
Số đêm ngủ không đủ tự báo cáo.
Kết quả
Nhiệt độ ban đêm cao hơn bình thường đi kèm nhiều báo cáo ngủ không đủ hơn; tác động lớn nhất vào mùa hè và ở người thu nhập thấp, người cao tuổi. Trang đọc được không nêu độ lớn hiệu ứng theo mỗi độ.
Hạn chế
Giấc ngủ tự báo cáo; nhiệt độ ngoài trời, không đo trong phòng. Chỉ đọc được tóm tắt. Nhận xét biên tập: dữ liệu Hoa Kỳ, tỉ lệ có điều hoà khác Việt Nam.

Obradovich N, Migliorini R, Mednick SC, Fowler JH (2017). Nighttime temperature and human sleep loss in a changing climate. Science Advances 3(5):e1601555. trích từ tóm tắt · doi:10.1126/sciadv.1601555

Tsuzuki và cs., 2008 (người cao tuổi, bốn mùa)

Đo thực địa · n = 8 · Nhật Bản · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
8 nam giới cao tuổi, theo dõi một tuần ở mỗi mùa trong bốn mùa.
Điều kiện
Đo nhiệt độ, độ ẩm, độ rọi phòng ngủ tại nhà và giấc ngủ trong bốn mùa.
Đo gì
Chỉ số hiệu suất giấc ngủ, thức giấc, nhiệt độ da, độ ẩm quần áo vùng ngực.
Kết quả
Chỉ số hiệu suất giấc ngủ là 88 ± 6% (xuân), 83 ± 10% (hè), 89 ± 5% (thu), 89 ± 5% (đông). Mùa hè nhiệt độ trong nhà cao hơn có ý nghĩa so với thu và đông; giờ đi ngủ tương tự quanh năm nhưng giấc ngủ mùa hè ngắn hơn, đi kèm thức giấc thường xuyên hơn và lâu hơn.
Hạn chế
Cỡ mẫu rất nhỏ (8 người), chỉ nam giới; nguồn là báo cáo tóm tắt đề tài, không nêu phép kiểm định cho từng chỉ số giấc ngủ. Nhận xét biên tập: khác biệt mùa có thể do nhiều yếu tố ngoài nhiệt (ánh sáng, thói quen).

Tsuzuki K (chủ nhiệm), Sakoi T. Báo cáo kết quả đề tài KAKENHI 17300234 (FY2005–FY2007): Effects of nonuniform thermal environment on sleeping human body and planning of safety and comfortable air-conditioners in the housing environment. AIST, Nhật Bản. Bài báo liên quan: Tsuzuki K, Okamoto-Mizuno K, Mizuno K, Iwaki T (2008). Int J Biometeorol 52(4):261–270. trích từ tóm tắt · kaken.nii.ac.jp

Lin và cs., 2006

Nghiên cứu cắt ngang · Hồng Kông (Trung Quốc) · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
Cư dân nhà cao tầng tại Hồng Kông (tóm tắt không nêu số người trả lời).
Điều kiện
Khảo sát bảng hỏi về thói quen dùng điều hoà cửa sổ/treo tường khi ngủ, chăn, đồ ngủ, nhiệt độ ưa thích và cách điều chỉnh thông gió.
Đo gì
Nhiệt độ phòng ngủ ưa thích, mức hài lòng chất lượng không khí, sử dụng chức năng thông gió.
Kết quả
Đa số người trả lời ưa nhiệt độ phòng ngủ dưới 24 °C. Tác giả cũng cho rằng người trả lời có thể chưa hài lòng với chất lượng không khí phòng ngủ. 68% không chủ động dùng chức năng thông gió nào khi ngủ với điều hoà bật, theo tác giả một phần do không hiểu chức năng thông gió của điều hoà cửa sổ.
Hạn chế
Tự báo cáo; chỉ đọc được tóm tắt, không có cỡ mẫu. Nhận xét biên tập: dữ liệu từ năm 2006, thiết bị và thói quen đã thay đổi.

Lin Z, Deng S (2006). A questionnaire survey on sleeping thermal environment and bedroom air conditioning in high-rise residences in Hong Kong. Energy and Buildings 38(11):1302–1307. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.enbuild.2006.04.004

Nhóm khác trong kho

  • Ẩm
  • Âm thanh
  • Ánh sáng
  • Không khí
  • Bề mặt nằm
  • Nhịp và thói quen
  • Chất nạp vào