Chỉ số · Nhóm Bề mặt nằm
Áp lực tiếp xúc cơ thể–nệm
Lực ép vuông góc trên một đơn vị diện tích tại mặt tiếp xúc giữa da và bề mặt nằm, thường báo bằng mmHg (1 mmHg ≈ 0,133 kPa). Thường báo áp lực đỉnh tại các vùng xương nhô (vai, xương cùng, gót) và áp lực trung bình trên toàn vùng tiếp xúc [2][3].
Thang tham chiếu
| Ngưỡng | Khoảng | Loại bằng chứng | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Áp lực mao mạch đầu tiểu động mạch (Landis 1930) Đo ở nền móng tay người khoẻ; trích qua tổng quan; Landis lưu ý không khái quát được |
18–32 mmHg | Đo trong nghiên cứu | [2] |
| Nhãn 'Pressure Reduction' của ngành foam Cách phân loại sản phẩm trong tài liệu ngành foam Bắc Mỹ |
≤ 32 mmHg | Kinh nghiệm ngành | [1] |
| Nhãn 'Pressure Relief' của ngành foam Cách phân loại sản phẩm trong tài liệu ngành foam Bắc Mỹ |
≤ 45 mmHg | Kinh nghiệm ngành | [1] |
| Đỉnh áp lực vùng xương cùng trên nệm phủ foam 5 cm 20 người khoẻ nằm ngửa 5 phút; trung bình đỉnh 118,0 (± 28,4) mmHg |
≥ 118 mmHg | Đo trong nghiên cứu | [3] |
Mốc 32 và 45 mmHg là cách ngành foam phân loại sản phẩm, không phải ngưỡng sinh lý đã kiểm chứng. Tổng quan [2] trích Landis với hai cách: 'trung bình hay được nhắc là 32 mmHg' và 'trung bình 20 mmHg, khoảng 18–32 mmHg' ở đầu tiểu động mạch.
Cách đo
Trải một tấm cảm biến áp lực mỏng nhiều điểm (pressure mapping) giữa người và nệm, cho người nằm yên một thời gian rồi đọc bản đồ áp lực. Ví dụ, một nghiên cứu dùng tấm 6912 cảm biến điện dung, người khoẻ nằm ngửa 5 phút trên mỗi bề mặt [3]; nghiên cứu khác dùng tấm 8064 điểm, dải đo 0–33,92 kPa (≈ 0–254 mmHg) [4]. ISO 16840-2 có phương pháp thử đệm ngồi xe lăn với tải mô phỏng vùng chậu [5]; chúng tôi chưa tìm được tiêu chuẩn tương đương cho đo áp lực trên nệm giường.
Vì sao con số này quan trọng
Với người khoẻ, áp lực tiếp xúc chủ yếu liên quan đến cảm giác dễ chịu. Trong một nghiên cứu về thiết kế giường thông minh (người tham gia nằm trên tấm đo áp lực ở nhiều góc nâng giường), áp lực cơ thể chỉ tương quan một phần với cảm nhận dễ chịu; sau khi hiệu chỉnh, chỉ áp lực trung bình có ảnh hưởng có ý nghĩa đến cảm giác dễ chịu ở mông và đùi [4]. Chỉ số này được nghiên cứu nhiều nhất trong bối cảnh loét do tì đè ở người bệnh nằm lâu, nơi nó chỉ là một phần của vấn đề vì lực cắt và biến dạng mô không đo được bằng áp lực bề mặt [2].
Giới hạn
Con số 32 mmHg hay được nhắc xuất phát từ nghiên cứu của Landis (1930) đo áp lực mao mạch ở nền móng tay người khoẻ; chính Landis lưu ý số liệu không khái quát được, và tổng quan năm 2023 kết luận đây không phải ngưỡng chung phân biệt có hại hay không [2]. Hướng dẫn chuyên môn không đặt ngưỡng hiệu năng vì mức chịu đựng khác nhau giữa người [2]. Áp lực đo ở bề mặt da có thể không phản ánh áp lực trong mô bên dưới [3]. Không có ngưỡng áp lực nào 'tối ưu cho giấc ngủ' trong các nguồn đã đọc.
Nguồn
- Polyurethane Foam Association. In-Touch Vol. 5, No. 1: Foam in Mattresses (bản sửa 2019). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Fletcher J. Interface pressure: what does it mean in clinical practice? Wounds UK 2023;19(3):52–57. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Keller BPJA, Lubbert PHW, Keller E, Leenen LPH. Tissue-interface pressures on three different support surfaces for trauma patients. Injury 2005;36(8):946–948. (Bản lưu tại kho Đại học Utrecht.) đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Bai X, Liu Y, Dai Z, Chen Y, Fang P, Ma J. Determinants of perceived comfort: multi-dimensional thinking in smart bedding design. Sensors 2024;24(13):4058. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- ISO 16840-2:2018. Wheelchair seating — Part 2: Determination of physical and mechanical characteristics of seat cushions intended to manage tissue integrity. Trang mô tả của ISO (xác nhận lại 2023). đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30