giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Nghiên cứu giấc ngủ: không khí

34 nghiên cứu, xếp theo bậc bằng chứng: từ tổng quan và phân tích gộp tới mô hình, vật liệu và tiêu chuẩn. Mỗi bản ghi ghi rõ thiết kế, khí hậu nơi làm và hạn chế.

Chỉ số và hiện tượng nhóm không khí →

Tổng quan và phân tích gộp · 6

Xu và cs., 2025 (hương, nhang muỗi)

Phân tích gộp · 13 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia châu Á · nhiều vùng

Đối tượng
13 nghiên cứu (12 bệnh–chứng, 1 thuần tập 61.320 người Hoa ở Singapore) ở Trung Quốc đại lục, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Philippines.
Điều kiện
Tổng quan hệ thống theo PRISMA, đăng ký PROSPERO, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên; tìm đến tháng 10/2024.
Đo gì
Ung thư vòm họng.
Kết quả
Đốt hương tại nhà khi trưởng thành đi kèm tăng nguy cơ ung thư vòm họng: OR gộp 1,46 (KTC 95% 1,24–1,72; I²=49%). Với nhang muỗi khi trưởng thành, OR gộp 1,31 (0,99–1,74; I²=80%), không có ý nghĩa thống kê.
Hạn chế
Tác giả nêu: đánh giá phơi nhiễm thô (có/không, tần suất); ít nghiên cứu hiệu chỉnh yếu tố nhiễu; có thể có sai lệch chọn và nhớ lại; nghiên cứu ít và phần lớn cũ. Nhận xét biên tập: kết cục là ung thư, không phải giấc ngủ; bối cảnh châu Á gần với Việt Nam.

Xu J-X, Tse LA, Yu IT-S, Xie S-H. Domestic burning of incense and mosquito coils on the risk of nasopharyngeal carcinoma: a systematic review and meta-analysis. Green Health. 2025;1(3):23. trích từ toàn văn · doi:10.3390/greenhealth1030023

Zhao và cs., 2023

Phân tích gộp · 10 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng

Đối tượng
10 nghiên cứu (7 thuần tập, 2 cắt ngang, 1 bệnh–chứng) chọn từ 18.027 bài, giai đoạn 2000–2/2023.
Điều kiện
Phân tích gộp mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên, tính trên mỗi 10 µg/m³ tăng nồng độ ô nhiễm ngoài trời.
Đo gì
Nguy cơ rối loạn giấc ngủ.
Kết quả
OR gộp cho mỗi 10 µg/m³ PM2.5 là 2,50 (KTC 95% 1,87–3,32; I²=99,2%), PM10 là 1,15 (1,06–1,24; I²=96,5%), NO2 là 1,36 (1,17–1,59; I²=95,3%). Khi loại một nghiên cứu (Tsai 2022), OR của PM2.5 giảm còn 1,55 (1,30–1,84).
Hạn chế
Tác giả nêu: không phân biệt phơi nhiễm ngắn hạn và dài hạn; cách đo giấc ngủ khác nhau giữa các nghiên cứu; dị biệt giữa các nghiên cứu lớn. Nhận xét biên tập: phân tích độ nhạy cho thấy kết quả PM2.5 phụ thuộc mạnh vào từng nghiên cứu; I² gần 100% nên con số gộp 2,50 cần đọc thận trọng; đây là ô nhiễm ngoài trời, không phải nồng độ trong phòng ngủ.

Zhao Y, Zhang S, Guo L, Xiao M, Han Z, Yang Y, Wang B, Li P (2023). Association between Air Pollutants and the Risk of Sleep Disorders: A Systematic Review and Meta-analysis. Aerosol and Air Quality Research 24:230197. trích từ toàn văn · doi:10.4209/aaqr.230197

Canha và cs., 2021

Tổng quan · 22 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng

Đối tượng
22 nghiên cứu thực địa (2003–2020) ở 12 quốc gia; 9 nghiên cứu ở châu Á (Trung Quốc 5, Singapore 2, Bhutan 1, Hàn Quốc 1).
Điều kiện
Tổng hợp nồng độ chất ô nhiễm đo được trong phòng ngủ khi đang ngủ.
Đo gì
CO2, PM2.5, PM10, hạt siêu mịn, CO, VOC, formaldehyde, ACH trong lúc ngủ.
Kết quả
CO2 trung bình giữa các nghiên cứu là 1840 ± 700 mg/m³ (870–3440). PM2.5 trung bình 19,0 ± 10,9 µg/m³ và 86% nghiên cứu đo PM2.5 vượt hướng dẫn năm 10 µg/m³ của WHO (bản 2005). Formaldehyde trung bình 0,092 ± 0,043 mg/m³ (0,050–0,160), CO 1,30 ± 0,94 mg/m³, ACH 1,31 ± 0,81 lần/giờ.
Hạn chế
Tác giả nêu: ít nghiên cứu, nhiều chất chỉ đo trong 4–5 nghiên cứu (CO, VOC, formaldehyde đều ở Bồ Đào Nha); không đồng nhất về mùa, kiểu thông gió; máy lấy mẫu có thể gây ồn; chưa có tỉ số trong/ngoài cho phòng ngủ. Nhận xét biên tập: tổng quan tường thuật, giá trị trung bình giữa các nghiên cứu không đại diện cho một quốc gia nào.

Canha N, et al. (2021). How Is Indoor Air Quality during Sleep? A Review of Field Studies. Atmosphere 12(1):110. trích từ toàn văn · doi:10.3390/atmos12010110

Liu và cs., 2020

Tổng quan hệ thống · 22 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng

Đối tượng
22 nghiên cứu (14 cắt ngang, 6 thuần tập, 2 can thiệp) ở 17 quốc gia, cỡ mẫu từ 59 đến 59.754.
Điều kiện
Tổng quan hệ thống theo PRISMA, 6 cơ sở dữ liệu đến tháng 10/2019; không gộp số liệu.
Đo gì
Chất lượng giấc ngủ, rối loạn thở khi ngủ, thời lượng ngủ, buồn ngủ ban ngày.
Kết quả
21/22 nghiên cứu báo cáo liên hệ nhìn chung dương giữa phơi nhiễm ô nhiễm không khí và giấc ngủ kém. Không thực hiện được phân tích gộp do khác biệt về cách đo phơi nhiễm và kết cục; 15 nghiên cứu được xếp mức chắc chắn thấp, 7 trung bình, không có nghiên cứu mức cao.
Hạn chế
Tác giả nêu: nhiều nghiên cứu dùng tự khai; phơi nhiễm ước tính từ trạm quan trắc chứ không đo cá nhân, nhiều nghiên cứu không tính phơi nhiễm trong nhà, tiếng ồn; mẫu nhỏ hoặc không đại diện.

Liu J, Wu T, Liu Q, Wu S, Chen JC (2020). Air pollution exposure and adverse sleep health across the life course: A systematic review. Environmental Pollution 262:114263. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.envpol.2020.114263

Sekhar và cs., 2020

Tổng quan · 46 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng

Đối tượng
46 bài báo bình duyệt từ năm 2000 về thông gió, CO2 hoặc giấc ngủ trong phòng ngủ, cùng tiêu chuẩn ASHRAE, CEN và khoảng 15 quốc gia; khoảng 10 nghiên cứu có đo giấc ngủ.
Điều kiện
Tổng quan tường thuật số liệu thực địa về CO2 và tốc độ trao đổi khí phòng ngủ theo vùng, mùa và kiểu thông gió (tự nhiên, điều hoà, cơ khí).
Đo gì
Nồng độ CO2 và ACH phòng ngủ; liên hệ với giấc ngủ; mức yêu cầu trong tiêu chuẩn.
Kết quả
Ở Singapore, CO2 trung bình khoảng 566–670 ppm trong phòng ngủ thông gió tự nhiên và 778–1164 ppm trong phòng bật điều hoà không có thông gió cơ khí; một nghiên cứu nhiệt đới ghi ACH 0,40 lần/giờ và CO2 tới 2900 ppm khi không có quạt hút phòng tắm. Ở Hồng Kông, CO2 trung bình khoảng 720 ppm với điều hoà cửa sổ và 1500 ppm với điều hoà hai cục; phòng ngủ bật điều hoà ở Quảng Châu có ACH trung vị 0,38 lần/giờ. Phần lớn khoảng 10 nghiên cứu về giấc ngủ thấy CO2 thấp hơn đi kèm giấc ngủ tốt hơn, nhưng tác giả đánh giá bằng chứng còn hạn chế.
Hạn chế
Tác giả nêu: số nghiên cứu về thông gió phòng ngủ và giấc ngủ còn ít (khoảng 10), bằng chứng thưa, một số rất nhỏ (ví dụ 8 người); phương pháp đo ACH khác nhau nên khó so sánh; đôi khi dùng số liệu cả căn nhà thay cho phòng ngủ; ước tính dựa trên CO2 có sai số lớn. Nhận xét biên tập: phần lớn nghiên cứu giấc ngủ có 8–48 người; một số so sánh mở/đóng cửa sổ đi kèm khác biệt nhiệt độ nên có thể bị nhiễu; tổng quan tường thuật, không gộp số liệu thống kê.

Sekhar C, Akimoto M, Fan X, Bivolarova MP, Liao C, Lan L, Wargocki P. Bedroom ventilation: Review of existing evidence and current standards. Building and Environment 2020;184:107229. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.buildenv.2020.107229

Chen và cs., 2011

Tổng quan · 77 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng

Đối tượng
77 nghiên cứu về tỉ số trong/ngoài, gồm hơn 4000 ngôi nhà, cùng các nghiên cứu về hệ số xâm nhập và thâm nhập.
Điều kiện
Tổng quan các chỉ số mô tả quan hệ bụi trong nhà và ngoài trời.
Đo gì
Tỉ số I/O, hệ số xâm nhập (infiltration factor), hệ số thâm nhập (penetration factor).
Kết quả
Hệ số xâm nhập của PM2.5 dao động 0,3–0,82, so với 0,17–0,52 của PM10. Hệ số thâm nhập trong nhà thật khoảng 0,6–1,0 với hạt 0,05–2 µm. Tỉ số I/O dao động 0,02–31 do bị chi phối bởi nguồn trong nhà (đặc biệt là hút thuốc và nấu ăn).
Hạn chế
Tác giả nêu: điều kiện đo rất khác nhau nên kết quả không nhất quán; khó định lượng khe hở trong nhà thật; thí nghiệm phòng lab lý tưởng hoá. Nhận xét biên tập: kết quả về mở cửa sổ và điều hoà không thống nhất giữa các nghiên cứu.

Chen C, Zhao B (2011). Review of relationship between indoor and outdoor particles: I/O ratio, infiltration factor and penetration factor. Atmospheric Environment 45:275-288. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.atmosenv.2010.09.048

Thử nghiệm có đối chứng · 7

Kang và cs., 2024

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 32 · Trung Quốc (Thượng Hải) · phòng thí nghiệm

Đối tượng
36 người trẻ khoẻ mạnh được tuyển, 32 người được phân tích (16 nam, 16 nữ), tuổi 23,7 ± 3,6, PSQI < 5; 190 đêm-người.
Điều kiện
Phòng ngủ mô phỏng trong khuôn viên Đại học Giao thông Thượng Hải, nhiệt độ đặt 20 °C. Thông gió cơ khí ở ba mức khoảng 33, 15 và 8 m³/h, cho CO2 đo được 771, 1021 và 1305 ppm; mỗi mức hai đêm, thứ tự cân bằng.
Đo gì
Hiệu suất giấc ngủ, thời gian thức, giai đoạn giấc ngủ (vòng đeo Fitbit Inspire 2), GSQS, cortisol nước bọt, nhận thức.
Kết quả
Hiệu suất giấc ngủ là 87,2%, 85,9% và 85,4% ở ba mức CO2 (p<0,001), tức giảm 1,3 và 1,8 điểm phần trăm so với mức thông gió cao nhất (CO2 đo được khoảng 770 ppm). Thời gian thức tăng từ 60,9 lên 65,9 và 68,7 phút (p<0,001); ngủ sâu ngắn hơn ở mức 1300 ppm (76,7 so với 83,4 phút, p=0,01). Điểm GSQS (p=0,11) và kết quả nhận thức (p=0,18) không khác biệt có ý nghĩa.
Hạn chế
Tác giả nêu: chỉ người trẻ khoẻ; hai đêm mỗi điều kiện; chỉ đo CO2 nên tác động có thể do chất khác từ cơ thể người; kiểm tra nhận thức vào buổi tối. Nhận xét biên tập: giấc ngủ đo bằng vòng đeo tiêu dùng; mức chênh khoảng 1–2 điểm phần trăm hiệu suất là nhỏ về độ lớn.

Kang M, Yan Y, Guo C, Liu Y, Fan X, Wargocki P, Lan L (2024). Ventilation causing an average CO2 concentration of 1,000 ppm has negative impacts on sleep: A field-lab study on healthy youth. Building and Environment 249:111118. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.buildenv.2023.111118

Fan và cs., 2023

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 23 · Bỉ · ôn đới

Đối tượng
34 người tuyển, 29 hoàn thành, 23 có dữ liệu dùng được (chủ yếu nam, 27–64 tuổi, PSQI thấp); 12 phòng ngủ có khác biệt rõ giữa cả ba điều kiện.
Điều kiện
Can thiệp mù đơn trong nhà thật, tháng 10/2021: đổi tốc độ quạt hút sẵn có từ xa theo ô vuông Latin ở ba mức đặt khoảng 3, 10 và 30 m³/h.
Đo gì
CO2, bụi, nhiệt độ, độ ẩm phòng ngủ; số lần thức, tỉ lệ các giai đoạn giấc ngủ đo bằng vòng đeo; bài suy luận Baddeley.
Kết quả
Ở 12 phòng, CO2 trung bình là 1927, 1298 và 856 ppm (p<0,001); số lần thức giảm từ 27 xuống 23 và 22 (p=0,009), tỉ lệ ngủ sâu là 12,6%, 17,5% và 15,1% (p=0,012). Ở 23 phòng (thấp so với cao, 1369 so với 812 ppm), ngủ sâu là 13,7% so với 15,2% (p=0,041, một phía). Nhiệt độ không khác biệt có ý nghĩa; PM2.5 cao hơn ở mức thông gió thấp trong nhóm 23 phòng (p=0,047) nhưng tác giả cho là nằm trong sai số đo; nhận thức không khác biệt.
Hạn chế
Tác giả nêu: lưu lượng thực cao hơn dự kiến do rò lọt nên tương phản giữa các điều kiện nhỏ; 12 phòng ít hơn mức tối thiểu 15 theo phân tích công suất; thứ tự không cân bằng được; người ở cùng và BMI có thể ảnh hưởng. Nhận xét biên tập: giấc ngủ đo bằng vòng đeo; quan hệ giữa ba mức không tuyến tính (ngủ sâu cao nhất ở mức giữa).

Fan X, Liao C, Matsuo K, Verniers K, Laverge J, Neyrinck B, Pollet I, Fang L, Lan L, Sekhar C, Wargocki P (2023). A single-blind field intervention study of whether increased bedroom ventilation improves sleep quality. Science of the Total Environment 884:163805. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.scitotenv.2023.163805

Klausen và cs., 2023

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 36 · Đan Mạch · phòng thí nghiệm

Đối tượng
36 trẻ em 10–12 tuổi.
Điều kiện
Ngủ trong phòng khí hậu ở 21 °C, ba điều kiện cách nhau 7 ngày theo thứ tự ngẫu nhiên: thông gió cao với CO2 khoảng 700 ppm; thông gió cao có bơm thêm CO2 tinh khiết lên 2000–3000 ppm; thông gió giảm với CO2 2000–3000 ppm kèm chất thải từ cơ thể.
Đo gì
Giấc ngủ đo bằng actigraphy; nhận thức (CANTAB) buổi tối và sáng hôm sau.
Kết quả
Không thấy tác động có ý nghĩa của mức CO2 2000–3000 ppm (cả CO2 tinh khiết lẫn kèm chất thải cơ thể) lên giấc ngủ hay nhận thức. Hiệu suất giấc ngủ lại thấp hơn có ý nghĩa ở điều kiện thông gió cao 700 ppm, điều tác giả cho là kết quả ngẫu nhiên.
Hạn chế
Tác giả nêu: cần lặp lại; trẻ ở 45–70 phút trong phòng thông thoáng trước khi làm bài kiểm tra; phòng khí hậu chứ không phải phòng ngủ thật. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, không có số p; kết quả trái chiều với các nghiên cứu người lớn, cho thấy bằng chứng về CO2 và giấc ngủ chưa nhất quán. Quốc gia suy từ cơ quan tác giả.

Klausen FB, Amidi A, Kjærgaard SK, et al. (2023). The effect of air quality on sleep and cognitive performance in school children aged 10–12 years: a double-blinded, placebo-controlled, crossover trial. International Journal of Occupational Medicine and Environmental Health 36(2):177-191. trích từ tóm tắt · doi:10.13075/ijomeh.1896.02032

Lamport và cs., 2023

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 30 · Anh · ôn đới

Đối tượng
30 người lớn khoẻ mạnh, không có rối loạn giấc ngủ lâm sàng.
Điều kiện
Thử nghiệm chéo ngẫu nhiên, mù đôi: máy lọc không khí với bộ lọc HEPA so với bộ lọc giả, mỗi điều kiện 2 tuần, nghỉ 2 tuần giữa hai điều kiện.
Đo gì
Actigraphy, nhật ký giấc ngủ, PANAS, ISI, PSQI, triệu chứng lo âu, trầm cảm.
Kết quả
Khi dùng bộ lọc HEPA, tổng thời gian ngủ cao hơn trung bình khoảng 12 phút mỗi đêm và thời gian nằm trên giường cao hơn khoảng 19 phút so với bộ lọc giả. Thời gian thức sau khi đã ngủ cũng cao hơn; nhiều chỉ số giấc ngủ và tâm trạng khác không đổi.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, không có p và không có số PM2.5; nghiên cứu thử nhỏ; trang tin của Dyson ghi nghiên cứu do Dyson đặt hàng (xung đột lợi ích tiềm tàng); tăng thời gian ngủ đi kèm tăng thời gian nằm trên giường nên có thể phản ánh thay đổi hành vi hơn là chất lượng giấc ngủ; khí hậu ôn đới.

Lamport DJ, Breese E, Gião MS, Chandra S, Orchard F (2023). Can air purification improve sleep quality? A 2-week randomised-controlled crossover pilot study in healthy adults. Journal of Sleep Research 32(3):e13782. trích từ tóm tắt · doi:10.1111/jsr.13782

Wang và cs., 2023

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 10 · Trung Quốc (Bắc Kinh) · phòng thí nghiệm

Đối tượng
10 người trẻ (5 nam, 5 nữ), tuổi 29 ± 4,59.
Điều kiện
Phòng thí nghiệm giấc ngủ khoảng 12 m², tháng 1–2/2022, 26 ± 0,5 °C. CO2 được bơm từ bình khí để mô phỏng 1, 2 và 3 người ngủ (phần phương pháp ghi 787, 1298 và 2271 ppm), thứ tự ô vuông Latin.
Đo gì
Đa ký giấc ngủ (PSG): tỉ lệ N3, chỉ số vi thức tỉnh; trở mình; đánh giá chủ quan.
Kết quả
Tỉ lệ ngủ sâu N3 trung bình là 20,4%, 17,3% và 14,4% ở ba mức CO2 (ANOVA F=2,727, p=0,086, tác giả dùng ngưỡng 0,1). So sánh cặp mức thấp nhất với cao nhất cho p=0,085 sau hiệu chỉnh Bonferroni. Chỉ số vi thức tỉnh 46,2; 48,1 và 49,4, không có kiểm định.
Hạn chế
Tác giả nêu: cỡ mẫu nhỏ, là nghiên cứu thử; CO2 dao động trong mỗi điều kiện; khoảng CO2 hẹp. Nhận xét biên tập: kết quả không đạt ngưỡng p<0,05; các con số CO2 và độ ẩm không thống nhất giữa các phần của bài; chỉ bơm CO2 tinh khiết nên không phản ánh chất thải khác từ cơ thể người.

Wang R, Li W, Gao J, Zhao C, Zhang J, Bie Q, Zhang M, Chen X (2023). The Influence of Bedroom CO2 Concentration on Sleep Quality. Buildings 13(11):2768. trích từ toàn văn · doi:10.3390/buildings13112768

Zhang và cs., 2023

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 24 · Trung Quốc · phòng thí nghiệm

Đối tượng
24 người tham gia.
Điều kiện
Phòng ngủ trung tính nhiệt, hai mức ô nhiễm do người ở với CO2 trung bình ban đêm khoảng 800 ppm và 2000 ppm.
Đo gì
Đa ký giấc ngủ, actigraphy, bảng hỏi; chỉ số tim mạch, hô hấp trước ngủ và sau khi thức.
Kết quả
Ở mức khoảng 2000 ppm so với 800 ppm, người tham gia báo cáo hài lòng với giấc ngủ thấp hơn, khó thức dậy hơn; tổng thời gian ngủ và thời gian ngủ sâu ngắn hơn. CO2 cuối thì thở ra và huyết áp tâm thu buổi sáng cao hơn có ý nghĩa. Trang đã đọc không cho độ lớn tác động.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc phần tóm tắt rút gọn trên kho lưu trữ của Đại học Công nghệ Bắc Kinh, không có số liệu độ lớn tác động và p cho các chỉ số giấc ngủ; mẫu 24 người.

Zhang X, Zhang T, Luo G, Sun J, Zhao C, Xie J, Liu J, Zhang N (2023). Effects of exposure to carbon dioxide and human bioeffluents on sleep quality and physiological responses. Building and Environment 238:110382. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.buildenv.2023.110382

Strøm-Tejsen và cs., 2014

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 16 · Đan Mạch · ôn đới

Đối tượng
16 sinh viên (nửa nữ) ở phòng ký túc xá một người giống hệt nhau tại DTU, Kgs. Lyngby, Đan Mạch; mỗi người ngủ một tuần ở mỗi điều kiện, phân tích 4 đêm, từ tối thứ Hai đến sáng thứ Sáu.
Điều kiện
Cuối mùa đông 2014 (nhiệt độ tối thiểu ngoài trời ban đêm −3 °C đến 4 °C). Có và không có quạt cấp gió ngoài điều khiển theo CO2; trao đổi khí tăng từ khoảng 0,24 lên 1,1 lần/giờ. Nhiệt độ ban đêm gần như bằng nhau (21,9 °C và 21,8 °C); độ ẩm tương đối giảm từ 52% xuống 40% khi có thông gió.
Đo gì
Hiệu suất giấc ngủ đo bằng actigraphy, thang Groningen (GSQ), cảm nhận không khí, triệu chứng, bài kiểm tra suy luận ngày hôm sau.
Kết quả
CO2 trung bình khoảng 835 ppm khi có thông gió và 2395 ppm khi không. Khi có thông gió, hiệu suất giấc ngủ đo bằng actigraphy tăng có ý nghĩa (p ≈ 0,049), cảm giác không khí tươi hơn (p ≈ 0,005) và điểm bài suy luận tốt hơn (p ≈ 0,037, một phía). Điểm GSQ chỉ có xu hướng tốt hơn (p ≈ 0,066), không đạt ý nghĩa thống kê; khô miệng và khô da tăng khi có thông gió.
Hạn chế
Tác giả nêu: độ ẩm thay đổi cùng CO2 nên không tách được hai tác động; các thông số môi trường phòng ngủ không được kiểm soát hoàn toàn; người tham gia không được làm mù hoàn toàn vì có thể nhận ra quạt; lịch sinh hoạt thất thường của sinh viên làm tăng biến thiên; một số kiểm định là một phía. Nhận xét biên tập: cỡ mẫu nhỏ (16 người), chỉ 4 đêm mỗi điều kiện được phân tích; khí hậu ôn đới mùa đông, phòng không dùng điều hoà, khác bối cảnh phòng ngủ đóng kín bật điều hoà ở Việt Nam.

Strøm-Tejsen P, Wargocki P, Wyon DP, Zukowska-Tejsen D. The effect of CO2 controlled bedroom ventilation on sleep and next-day performance. Proceedings of ROOMVENT 2014, São Paulo, 2014. trích từ toàn văn · backend.orbit.dtu.dk

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · 1

Tirler và cs., 2015

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · Ý

Đối tượng
Nhiều loại hương que và pháo que đốt trong phòng thử.
Điều kiện
Đo PM10, số hạt và benzen trong phòng thử khi đốt sản phẩm.
Đo gì
Benzen, PM10, số hạt.
Kết quả
Mức benzen khác nhau rất nhiều giữa các loại hương: có loại chỉ làm tăng nhẹ so với nền, có loại đưa benzen trong phòng thử lên hơn 200 µg/m³.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, không có số PM cụ thể; không rõ số sản phẩm và điều kiện thông gió; sản phẩm châu Âu có thể khác hương thắp ở Việt Nam.

Tirler W, Settimo G (2015). Incense, sparklers and cigarettes are significant contributors to indoor benzene and particle levels. Annali dell'Istituto Superiore di Sanità 51(1). Tóm tắt đọc trên bản ghi DOAJ tại thư viện UPI; tên tạp chí và năm suy từ ISSN và DOI. trích từ tóm tắt · doi:10.4415/ANN_15_01_06

Nghiên cứu quan sát · 13

Đo ô nhiễm phòng thờ thắp hương, 2026

Đo thực địa · Việt Nam (Vĩnh Phúc) · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
Một phòng ở dùng để thờ cúng, thắp hương thường xuyên, tại thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc.
Điều kiện
Cảm biến AQMesh đo PM2.5, NO2, O3 trong và ngoài nhà từ 22/12/2021 đến 18/02/2022.
Đo gì
Nồng độ theo giờ và tỉ số trong/ngoài (I/O).
Kết quả
Trung bình giờ trong nhà là PM2.5 59 ± 50 µg/m³, NO2 24 ± 13 µg/m³, O3 9 ± 5 µg/m³; tỉ số I/O dưới 1 phần lớn thời gian. Có 6 đợt ô nhiễm PM2.5 khi thắp hương; giá trị đỉnh (theo trung bình giờ) của các đợt trung bình là 571 µg/m³ trong khi ngoài trời gần như không đổi.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; một phòng duy nhất, mùa đông; cảm biến giá rẻ (AQMesh) cần hiệu chuẩn; không đo giấc ngủ; chưa xác định được tên tác giả và DOI.

Levels of Selected Indoor Air Pollutants: A Case Study in a Residential Room with Incense Burning Practice. Engineering Headway 40:93-104 (2026). Tên tác giả không hiển thị trên trang đã đọc. trích từ tóm tắt · scientific.net

Xu và cs., 2025 (thông gió, CLHLS)

Nghiên cứu cắt ngang · n = 9.902 · Trung Quốc · nhiều vùng

Đối tượng
9902 người từ 65 tuổi trong khảo sát CLHLS 2018.
Điều kiện
Phân tích lớp ẩn xác định ba kiểu thông gió: thông gió mạnh quanh năm (70,3%), vừa phải/chọn lọc mùa hè (11,2%), tối thiểu (18,7%); có xét máy lọc không khí và khoảng cách tới đường lớn.
Đo gì
Chất lượng giấc ngủ tự khai, thời lượng ngủ.
Kết quả
So với nhóm thông gió tối thiểu, nhóm thông gió mạnh quanh năm có OR chất lượng giấc ngủ tốt 1,16 (p<0,01) và ngủ dài hơn 0,30 giờ/ngày (p<0,001); nhóm thông gió vừa phải có OR 1,19 (p<0,05).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: tóm tắt hội nghị, không có khoảng tin cậy và không mô tả cách đo thông gió và giấc ngủ; cắt ngang, tự khai; nhóm tham chiếu suy từ cách trình bày.

Xu C, Lee YH (2025). How Indoor Air Quality Affects Sleep in Older Adults: Evidence from the 2018 CLHLS. Innovation in Aging (tóm tắt hội nghị). trích từ tóm tắt · doi:10.1093/geroni/igaf122.247

Gui và cs., 2024

Nghiên cứu cắt ngang · n = 177.263 · Trung Quốc · nhiều vùng

Đối tượng
177.263 trẻ em 6–18 tuổi ở 14 thành phố Trung Quốc, khảo sát 2012–2018.
Điều kiện
Phơi nhiễm bụi ngoài trời ước tính từ mô hình vệ tinh; hiệu chỉnh đặc điểm trẻ, cha mẹ và môi trường trong nhà.
Đo gì
Rối loạn giấc ngủ theo thang SDSC do cha mẹ trả lời.
Kết quả
Mỗi 10 µg/m³ PM2.5 đi kèm OR rối loạn giấc ngủ chung 1,24 (KTC 95% 1,14–1,35); với PM1 là 1,31 (1,18–1,46). Liên hệ mạnh hơn ở vùng đông nam so với đông bắc và tây bắc.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; thiết kế cắt ngang không cho kết luận nhân quả; giấc ngủ do cha mẹ đánh giá, không đo khách quan; phơi nhiễm là ngoài trời theo mô hình, không đo trong phòng ngủ.

Gui ZH, Heinrich J, Qian Z, Schootman M, Zhao TY, et al. (2024). Exposures to particulate matters and childhood sleep disorders—A large study in three provinces in China. Environment International 190:108841. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.envint.2024.108841

Li và cs., 2023

Nghiên cứu cắt ngang · n = 6.588 · Trung Quốc (Tế Nam) · ôn đới

Đối tượng
6588 ca ngộ độc CO không do nghề nghiệp được ghi nhận ở Tế Nam, 2007–2021.
Điều kiện
Phân tích số liệu đăng ký về xu hướng và đặc điểm không gian–thời gian của ngộ độc CO.
Đo gì
Tỉ lệ mắc, tử vong, nguồn CO, thời điểm xảy ra.
Kết quả
85,25% (5616 ca) do sưởi than trong hộ gia đình; 180 ca tử vong. Tỉ lệ mắc tích luỹ 5,78/100.000 người-năm và tử vong 0,19/100.000 người-năm; thành thị 6,55 so với nông thôn 5,04 (p<0,001). Ngộ độc xảy ra chủ yếu trong lúc ngủ.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; số liệu đăng ký có thể bỏ sót ca nhẹ; khí hậu lạnh, nguồn là sưởi than, khác Việt Nam phía nam. Thiết kế thực chất là nghiên cứu mô tả từ số liệu đăng ký.

Li M, Shan B, Peng X, Chang H, Cui L (2023). An urgent health problem of indoor air pollution: results from a 15-years carbon monoxide poisoning observed study in Jinan City. Scientific Reports 13:1619. trích từ tóm tắt · doi:10.1038/s41598-023-28683-0

Fan và cs., 2022

Đo thực địa · n = 84 · Đan Mạch · ôn đới

Đối tượng
84 phòng ngủ (84 người; 64 người hoàn thành hai tuần đo) ở vùng Copenhagen.
Điều kiện
Mùa sưởi, tháng 9–12/2020. Tuần 1 ngủ như thường lệ; tuần 2 can thiệp mở/đóng cửa sổ, cửa phòng hoặc cả hai. CO2 ghi mỗi 5 phút; ACH ước tính từ đường suy giảm CO2 do người thải ra sau khi thức dậy.
Đo gì
Tốc độ trao đổi khí (ACH) khi ngủ theo trạng thái cửa sổ/cửa phòng.
Kết quả
ACH trung vị khi ngủ như thường lệ là 0,40 lần/giờ (khoảng 0,03–19,25), một nửa số phòng dưới mức tối thiểu 0,4 lần/giờ của EN 16798-1. Mở cửa sổ nâng ACH trung vị từ 0,32 lên 1,14 lần/giờ; chỉ mở cửa phòng nâng từ 0,27 lên 0,39 lần/giờ. 79% phòng có ACH dưới 1,1 lần/giờ và 26% dưới 0,2 lần/giờ.
Hạn chế
Tác giả nêu: chỉ một mùa sưởi; không đo CO2 ngoài trời liên tục (giả định 420 ppm); không kiểm tra độ hoà trộn không khí; ít điểm dữ liệu cho ước tính suy giảm ở ACH cao; trạng thái cửa tự khai. Nhận xét biên tập: đây là số liệu Đan Mạch mùa lạnh, dùng để tham khảo phương pháp đo ACH từ CO2 hơn là để so trực tiếp với phòng ngủ Việt Nam.

Fan X, Liao C, Bivolarova MP, Mainka A, Sekhar C, Laverge J, Lan L, Akimoto M, Wargocki P (2022). Air change rates during sleep in Danish bedrooms. CLIMA 2022 conference paper. trích từ toàn văn · doi:10.34641/clima.2022.150

Liao và cs., 2022

Đo thực địa · n = 75 · Đan Mạch · ôn đới

Đối tượng
84 phòng ngủ chọn ngẫu nhiên, 75 có số đo đầy đủ; tuổi trung vị 26, 41 nam.
Điều kiện
Đo liên tục CO2, nhiệt độ, độ ẩm trong một tuần, tháng 9–12/2020; mở cửa phòng hoặc cửa sổ được dùng làm chỉ báo thông gió tăng.
Đo gì
GSQS, hiệu suất và giai đoạn giấc ngủ đo bằng vòng đeo, cảm nhận chất lượng không khí.
Kết quả
CO2 trung bình khi ngủ có trung vị 1120 ppm (tóm tắt ghi IQR là 741–4804 ppm), nhiệt độ 23,4 °C, độ ẩm 48,6%. Hiệu suất giấc ngủ trung vị 88,1%; GSQS trung vị 4,0 (mức trung bình đến kém). Đánh giá chủ quan về giấc ngủ kém hơn khi người ngủ cảm thấy không khí kém; mở cửa phòng hoặc cửa sổ đi kèm giấc ngủ và cảm nhận không khí tốt hơn.
Hạn chế
Tác giả nêu: thiết kế cắt ngang không cho kết luận nhân quả; cần đo thêm chất ô nhiễm khác. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; giấc ngủ khách quan đo bằng vòng đeo tiêu dùng.

Liao C, Fan X, Bivolarova M, Laverge J, Sekhar C, Akimoto M, Mainka A, Lan L, Wargocki P (2022). A cross-sectional field study of bedroom ventilation and sleep quality in Denmark during the heating season. Building and Environment 224:109557. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.buildenv.2022.109557

Xiao và cs., 2022

Nghiên cứu cắt ngang · n = 48.854 · Trung Quốc (Quảng Đông) · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
48.854 lượt nhập viện do ngộ độc CO ở 124 huyện tỉnh Quảng Đông, 2013–2020.
Điều kiện
Phân tích hồi cứu hồ sơ nhập viện; mô hình trễ phi tuyến phân bố (DLNM) liên hệ nhiệt độ ngày với số nhập viện.
Đo gì
Phân bố mùa, không gian và liên hệ với nhiệt độ của nhập viện do ngộ độc CO.
Kết quả
88,1% ca là không chủ ý; tháng 1 có chỉ số mùa cao nhất (3,59), ca tập trung tháng 12–2. Ở nhiệt độ 12 °C (bách phân vị 5) so với 24 °C (trung vị), nguy cơ tương đối nhập viện ở độ trễ 0 dao động từ 2,24 đến 3,81 tuỳ khu vực, tác động kéo dài tới 7 ngày.
Hạn chế
Tác giả nêu: thiếu thông tin lâm sàng chi tiết; không xác định được nguồn CO cụ thể nên giải thích (ví dụ bình nóng lạnh dùng gas) chỉ là suy đoán. Nhận xét biên tập: khí hậu cận nhiệt đới ẩm gần với miền Bắc Việt Nam; thiết kế thực chất là mô tả sinh thái từ hồ sơ bệnh viện.

Xiao B, Zhang YM, Zhou J, Xu CD, Hu W, Wen W, Chen JB, Sun CY (2022). Spatiotemporal Distribution and Epidemiological Characteristics of Hospital Admissions for Carbon Monoxide Poisoning in Guangdong, China, 2013–2020. Biomedical and Environmental Sciences 35(10):943-953. trích từ toàn văn · doi:10.3967/bes2022.053

Liao và cs., 2021

Nghiên cứu cắt ngang · n = 517 · Đan Mạch · ôn đới

Đối tượng
517 người trả lời khảo sát trực tuyến, tuổi trung vị 33, 55,4% nam.
Điều kiện
Khảo sát tháng 1–2/2020 (mùa sưởi) về kiểu thông gió phòng ngủ, thói quen mở cửa sổ và các yếu tố làm phiền giấc ngủ.
Đo gì
PSQI và mức làm phiền giấc ngủ do không khí ngột ngạt, tiếng ồn, nhiệt độ.
Kết quả
35,4% phòng ngủ có thông gió cơ khí, 24,6% quạt hút và 40,0% thông gió tự nhiên. Không khí ngột ngạt là yếu tố làm phiền giấc ngủ đứng thứ hai; không có thông gió cơ khí và có thảm đi kèm với bị làm phiền bởi không khí ngột ngạt. Không thấy liên hệ giữa PSQI và thói quen mở cửa sổ.
Hạn chế
Tác giả nêu: chỉ mùa sưởi; chỉ là tương quan, cần đo thực địa để xác nhận. Nhận xét biên tập: toàn bộ dữ liệu tự khai; trang đã đọc không cho tỉ số chênh hay p.

Liao C, Akimoto M, Bivolarova MP, Sekhar C, Laverge J, Fan X, Lan L, Wargocki P (2021). A survey of bedroom ventilation types and the subjective sleep quality associated with them in Danish housing. Science of the Total Environment 798:149209. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.scitotenv.2021.149209

Mishra và cs., 2018

Đo thực địa · n = 17 · Hà Lan · ôn đới

Đối tượng
17 người tình nguyện trẻ khoẻ mạnh.
Điều kiện
Đo 5 ngày, so sánh phòng ngủ mở cửa sổ hoặc cửa phòng với đóng cả hai. Nhiệt độ 19,7 °C khi mở và 20,1 °C khi đóng; độ ẩm tuyệt đối tương tự.
Đo gì
Bảng hỏi, nhật ký giấc ngủ, actigraphy, cảm biến áp lực dưới gối.
Kết quả
CO2 trung bình 717 ppm (SD 197) khi mở và 1150 ppm (SD 463) khi đóng. Độ sâu giấc ngủ theo bảng hỏi khác biệt có ý nghĩa giữa hai điều kiện (p=0,002), giai đoạn giấc ngủ theo actigraphy cũng khác biệt (p=0,003).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; cỡ mẫu nhỏ; mở cửa sổ đồng thời thay đổi nhiệt độ, tiếng ồn và luồng gió nên không tách riêng được tác động của CO2; quốc gia suy từ cơ quan tác giả (Đại học Công nghệ Eindhoven), tóm tắt không ghi địa điểm.

Mishra AK, van Ruitenbeek AM, Loomans MGLC, Kort HSM (2018). Window/door opening-mediated bedroom ventilation and its impact on sleep quality of healthy, young adults. Indoor Air 28(2):339–351. trích từ tóm tắt · doi:10.1111/ina.12435

Chen và cs., 2008

Nghiên cứu bệnh–chứng · n = 547 · Đài Loan · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
147 bệnh nhân ung thư phổi mới chẩn đoán và 400 người đối chứng tại bệnh viện, ba trung tâm y tế ở Đài Trung, 2002–2004.
Điều kiện
Phơi nhiễm là thói quen đốt nhang muỗi tại nhà, hỏi bằng phỏng vấn trực tiếp; chia >3 lần/tuần, ≤3 lần/tuần, không đốt.
Đo gì
Ung thư phổi (tỉ số chênh hiệu chỉnh).
Kết quả
Tỉ lệ có phơi nhiễm khói nhang muỗi ở nhóm bệnh là 38,1% so với 17,8% ở nhóm chứng (p<0,01). Tỉ số chênh hiệu chỉnh là 3,78 (KTC 95% 1,55–6,90) với đốt >3 lần/tuần và 2,67 (1,60–4,50) với ≤3 lần/tuần; ở người không hút thuốc là 3,89 (1,73–8,57) và 3,36 (1,76–6,40).
Hạn chế
Tác giả nêu: sai lệch nhớ lại; không có số liệu liều hay đo môi trường; tỉ lệ tham gia của nhóm chứng thấp; tỉ lệ phơi nhiễm ở nhóm chứng (phần bàn luận ghi 18,5%, phần kết quả ghi 17,8%) thấp hơn nhiều so với dân số chung (khoảng 45%), có thể làm phóng đại ước tính nguy cơ; cỡ mẫu nhỏ, cần nghiên cứu lớn hơn dựa trên dân số. Nhận xét biên tập: thiết kế bệnh–chứng không xác lập được quan hệ nhân quả; kết cục là ung thư chứ không phải giấc ngủ; dùng làm bối cảnh về rủi ro dài hạn của khói nhang muỗi trong phòng ngủ.

Chen SC, Wong RH, Shiu LJ, Chiou MC, Lee H. Exposure to mosquito coil smoke may be a risk factor for lung cancer in Taiwan. J Epidemiol. 2008;18(1):19–25. trích từ toàn văn · doi:10.2188/jea.18.19

Lin và cs., 2003

Đo thực địa · Hồng Kông (Trung Quốc) · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
Phòng ngủ có điều hoà trong nhà cao tầng ở Hồng Kông (tóm tắt không nêu số căn hộ), cộng thí nghiệm phòng thí nghiệm với hai máy điều hoà điển hình.
Điều kiện
Đo CO2 qua đêm và lưu lượng gió ngoài trong phòng ngủ dùng điều hoà cửa sổ và điều hoà hai cục.
Đo gì
Lưu lượng gió ngoài cấp cho phòng ngủ khi ngủ.
Kết quả
Các phòng ngủ đo được không đạt yêu cầu thông gió của ASHRAE 62-2001 ngay cả khi chỉ có một người. Điều hoà cửa sổ cho lưu lượng gió ngoài cao hơn điều hoà hai cục, chủ yếu do rò lọt tự nhiên. Tác giả đề xuất mức thông gió 3,0 L/s mỗi người cho môi trường ngủ trong nhà cao tầng.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, tóm tắt không có số CO2 cụ thể và không nêu số căn hộ; không đo giấc ngủ; số liệu từ năm 2003.

Lin Z, Deng S (2003). The outdoor air ventilation rate in high-rise residences employing room air conditioners. Building and Environment 38(12):1389-1399. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.buildenv.2003.07.001

Hodgson và cs., 1999

Đo thực địa · Hoa Kỳ

Đối tượng
4 ngôi nhà lắp ghép mới xây, lấy mẫu 3 lần trong 9 tháng sau khi hoàn thành.
Điều kiện
Đo formaldehyde, 58 VOC mục tiêu và tốc độ thông gió; mô hình cân bằng khối lượng ước tính phát thải theo diện tích.
Đo gì
Nồng độ formaldehyde, VOC, TVOC và nguồn phát thải.
Kết quả
Nồng độ formaldehyde đều dưới mức hướng dẫn 50 ppb. TVOC trung vị 1,6 mg/m³; khoảng một nửa trong 58 VOC có trung vị ≤1 ppb. Phát thải không giảm đáng kể trong 9 tháng; sản phẩm gỗ là nguồn VOC chủ đạo ở cả bốn nhà.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; 4 nhà; nhà lắp ghép Mỹ năm 1999 khác vật liệu nội thất Việt Nam; không đo giấc ngủ.

Hodgson AT, Beal D, Chandra S (1999). Concentrations and Sources of Formaldehyde and Volatile Organic Compounds in Four New Manufactured Houses. Proceedings of Indoor Air '99, Edinburgh, Vol. 4. trích từ tóm tắt · indoor.lbl.gov

Chao và cs., 1998

Đo thực địa · Hồng Kông (Trung Quốc) · cận nhiệt đới ẩm

Đối tượng
8 căn nhà ở Hồng Kông, mỗi căn đo 24 giờ.
Điều kiện
Theo dõi nồng độ bụi trong nhà trong các hoạt động nấu ăn, hút thuốc, thắp hương.
Đo gì
Nồng độ bụi trong nhà.
Kết quả
Bụi vượt 5000 µg/m³ trong một số lần nấu ăn. Thắp hương trong nhà thông gió kém cho đỉnh khoảng 2000 µg/m³; hút thuốc làm bụi tăng 2–3 lần so với nền.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; 8 căn nhà; tóm tắt có nêu nồng độ trung bình 24 giờ của bụi hô hấp (RSP, 44,9–119,4 µg/m³) và tổng bụi lơ lửng (TSP, 45,8–122,2 µg/m³) nhưng không ghi các đỉnh 5000 và 2000 µg/m³ thuộc loại bụi nào, cũng không nêu thiết bị đo; số liệu năm 1998.

Chao CYH, Tung TCW, Burnett J (1998). Influence of different indoor activities on the indoor particulate levels in residential buildings. Indoor and Built Environment 7(2):110-121. trích từ tóm tắt · doi:10.1177/1420326x9800700205

Mô hình, vật liệu và tiêu chuẩn · 7

Sherzad và cs., 2022

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất · phòng thí nghiệm

Đối tượng
8 mẫu đồ gỗ composite (ván dăm, ván cứng) với các cách hoàn thiện bề mặt khác nhau.
Điều kiện
Buồng thử nhỏ 25 °C, độ ẩm 50%, 0,5 lần trao đổi khí/giờ, hệ số tải 2,2 m²/m³; đo ngày 1 và ngày 7.
Đo gì
Tốc độ phát thải TVOC và formaldehyde theo diện tích.
Kết quả
Sau 7 ngày, tốc độ phát thải TVOC của ván dăm phủ melamine áp suất thấp khoảng 1,847 mg/m²·h, phủ PVC 0,998, phủ PP 0,965, sơn gốc nước 0,492 và sơn UV 0,001 mg/m²·h. Formaldehyde của ván dăm phủ melamine khoảng 0,011 và ván cứng dán veneer khoảng 0,033 mg/m²·h; chỉ mẫu sơn UV đạt mức 'Excellent' theo tiêu chí BIFMA.
Hạn chế
Tác giả nêu: cần lặp lại thí nghiệm. Nhận xét biên tập: chỉ 8 mẫu, hai mẫu đo một lần; thời gian lưu kho không đồng đều; bài có chỗ không nhất quán (1,88 và 1,847); tốc độ phát thải không phải nồng độ trong phòng.

Sherzad M, Jung C (2022). Evaluating the emission of VOCs and HCHO from furniture based on the surface finish methods and retention periods. Frontiers in Built Environment. trích từ toàn văn · doi:10.3389/fbuil.2022.1062255

Kim và cs., 2020

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Hàn Quốc · ôn đới

Đối tượng
Toàn dân số Hàn Quốc 1951–2018, ước tính từ tổng điều tra dân số về nhiên liệu sưởi, thống kê năng lượng và tỉ lệ mắc từ các nghiên cứu năm 1974 và 1984.
Điều kiện
Sưởi sàn ondol bằng than tổ ong (yeontan).
Đo gì
Số người ngộ độc CO nhẹ, nặng và tử vong do tai nạn.
Kết quả
Ước tính hơn 26 triệu người bị ngộ độc CO trong giai đoạn 1951–2018, khoảng 65.000 ca tử vong. Đỉnh khoảng 1 triệu nạn nhân và khoảng 2400 ca tử vong năm 1980. Xác suất ngộ độc hằng năm là 11,1% với kiểu sưởi lỗ đốt và 6,6% với kiểu nồi hơi có ống dẫn.
Hạn chế
Tác giả nêu: tỉ lệ mắc lấy từ một năm ở bốn thành phố; số liệu tổng điều tra 5–10 năm một lần; nguồn CO sau năm 2000 (bình nóng lạnh, lò sưởi cắm trại) có thể không được tính đủ; số tử vong trước 2000 phụ thuộc giả định. Nhận xét biên tập: là ước tính theo mô hình chứ không phải đếm ca; bối cảnh sưởi than mùa lạnh khác Việt Nam nhưng liên quan trực tiếp đến việc đốt than trong phòng kín.

Kim JH, Lim AY, Cheong HK (2020). Trends of accidental carbon monoxide poisoning in Korea, 1951-2018. Epidemiology and Health 42:e2020062. trích từ toàn văn · doi:10.4178/epih.e2020062

Boor và cs., 2014

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Hoa Kỳ, Phần Lan · phòng thí nghiệm

Đối tượng
20 nệm cũi trẻ em mới và đã dùng.
Điều kiện
Buồng thử nhỏ ở 23 °C và 36 °C; buồng lớn với manikin nhiệt trẻ sơ sinh để so vùng thở với không khí phòng.
Đo gì
Tốc độ phát thải TVOC theo diện tích; nồng độ vùng thở so với phòng.
Kết quả
Tốc độ phát thải TVOC trung bình khoảng 56 µg/m²·h ở 23 °C và 139 µg/m²·h ở 36 °C. Nồng độ TVOC ở vùng thở của manikin cao hơn không khí phòng 1,8–2,4 lần; trong lỗ xốp foam cao hơn 7,5–21 lần. Nệm mới phát thải nhiều hơn nệm cũ; foam polyurethane thải nhiều loại VOC hơn foam polyester.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; thí nghiệm buồng, không đo trong phòng ngủ thật; nệm cũi trẻ em có thể khác nệm người lớn; tóm tắt không cho nồng độ formaldehyde riêng. Kết quả nhiệt độ cao làm tăng phát thải đáng chú ý với khí hậu nóng.

Boor BE, Järnström H, Novoselac A, Xu Y. Infant exposure to emissions of volatile organic compounds from crib mattresses. Environmental Science & Technology 2014;48(6):3541–3549. trích từ tóm tắt · doi:10.1021/es405625q

Ongwandee và cs., 2010

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Thái Lan · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Hương, nhang muỗi và nến đốt trong buồng thử 1 m³.
Điều kiện
Buồng 1 × 1 × 1 m lót giấy nhôm; tốc độ phát thải tính bằng mô hình cân bằng khối lượng một ngăn.
Đo gì
Tốc độ phát thải và hệ số phát thải PM2.5 và CO.
Kết quả
Hương phát thải PM2.5 154–255 mg/h và CO 378–790 mg/h; nhang muỗi phát thải PM2.5 266–1611 mg/h và CO 722–837 mg/h; nến chỉ 8,80–9,97 mg/h PM2.5. Phát thải của hương và nhang muỗi cao hơn nến khoảng 1–2 bậc độ lớn.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; buồng thử nhỏ, không phải phòng thật; năm xuất bản ghi không thống nhất trên trang (2010 và 2013); không rõ số nhãn hiệu thử.

Ongwandee M, Pipithakul W (2010). Air Pollutant Emissions from the Burning of Incense, Mosquito Coils, and Candles in a Small Experimental Chamber. Applied Environmental Research 32(1):69-79. trích từ tóm tắt · ph01.tci-thaijo.org

Alshawa và cs., 2007

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Hoa Kỳ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Một máy lọc không khí ion hoá (phát ozone 2,2 mg/h) và một máy tạo ozone (108 mg/h) trong văn phòng 27,1 m³ có thông gió.
Điều kiện
Mô hình động học phòng hoà trộn đều kết hợp thử nghiệm thực; có bơm D-limonene (3 mg/phút) để mô phỏng chất tẩy rửa hương chanh.
Đo gì
Ozone trong nhà và số hạt.
Kết quả
Máy lọc ion hoá làm ozone trong phòng tăng khoảng 5–15 ppb so với nền 5 ppb; máy tạo ozone tăng khoảng 250 ppb. Riêng máy lọc ion hoá chỉ giảm số hạt dưới 20%; khi có limonene, số hạt tăng 1–2 bậc độ lớn do hình thành hạt siêu mịn mới, và mô hình (với phòng giả định 50 m³, trao đổi khí 0,5 lần/giờ) cho thấy máy có thể tạo thêm hạt nhiều hơn loại bỏ.
Hạn chế
Tác giả nêu: một phòng, một mẫu máy (mua năm 2004), một VOC; tốc độ bơm limonene cao hơn nguồn thông thường. Nhận xét biên tập: không đo giấc ngủ; máy hiện nay có thể khác.

Alshawa A, Russell AR, Nizkorodov SA (2007). Kinetic Analysis of Competition between Aerosol Particle Removal and Generation by Ionization Air Purifiers. Environmental Science & Technology 41(7):2498-2504. trích từ toàn văn · doi:10.1021/es061760y

Tung và cs., 2005

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Hồng Kông (Trung Quốc) · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Ba máy lọc không khí gia dụng kiểu ion hoá (điện tử).
Điều kiện
Buồng thép không gỉ 6,4 m³, tốc độ rò 0,0042 lần/giờ.
Đo gì
Tốc độ phát thải ozone và hệ số suy giảm ozone.
Kết quả
Tốc độ phát thải ozone (tính theo nồng độ trong buồng 6,4 m³) là 119,4 ± 15,6; 77,6 ± 5,4 và 1092,3 ± 112,5 ppb/giờ cho ba máy. Tác giả cho rằng khác biệt lớn đến từ thiết kế từng máy.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; đơn vị ppb/giờ phụ thuộc thể tích buồng, không chuyển thẳng sang nồng độ trong phòng ngủ; ba máy không đại diện cho thị trường; không đo giấc ngủ.

Tung TCW, Niu J, Burnett J, Hung K (2005). Determination of ozone emission from a domestic air cleaner and decay parameters using environmental chamber tests. Indoor and Built Environment 14(1):29-37. trích từ tóm tắt · doi:10.1177/1420326x05049648

Liu và cs., 2003

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Trung Quốc, Malaysia (xuất xứ sản phẩm) · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Bốn nhãn nhang muỗi phổ biến của Trung Quốc và hai nhãn của Malaysia.
Điều kiện
Đốt nhang trong phòng thí nghiệm, tính tốc độ phát thải bằng phương trình cân bằng khối lượng và mô hình nồng độ trong phòng thực tế.
Đo gì
PM2.5, PAH, aldehyde, keton, VOC.
Kết quả
Đốt một khoanh nhang muỗi có thể thải lượng PM2.5 tương đương 75–137 điếu thuốc lá, và lượng formaldehyde có thể tương đương 51 điếu. Nồng độ trong nhà dự báo có thể vượt đáng kể các tiêu chuẩn chất lượng không khí; hạt chủ yếu ở cỡ siêu mịn và mịn.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc được tóm tắt (trang PMC chỉ hiển thị tóm tắt và tài liệu tham khảo); chỉ sáu nhãn hiệu; nồng độ trong phòng là mô phỏng chứ không đo trong phòng ngủ thật; sản phẩm từ năm 2003 có thể khác hiện nay.

Liu W, Zhang J, Hashim JH, Jalaludin J, Hashim Z, Goldstein BD (2003). Mosquito coil emissions and health implications. Environmental Health Perspectives 111(12):1454-1460. trích từ tóm tắt · doi:10.1289/ehp.6286

Nhóm khác trong kho

  • Nhiệt
  • Ẩm
  • Âm thanh
  • Ánh sáng
  • Bề mặt nằm
  • Nhịp và thói quen
  • Chất nạp vào