Tổng quan và phân tích gộp · 11
Singh và cs., 2013
Tổng quan hệ thống · 159 nghiên cứu gốc · Vương quốc Anh · ôn đới
- Đối tượng
- 2 thử nghiệm ngẫu nhiên, khoảng 159 người được ngẫu nhiên hoá (Warner 2000: 40 người; Wright 2009: 119 người, 100 người ở 100 nhà được phân tích).
- Điều kiện
- Thông gió cơ khí thu hồi nhiệt (có tác dụng hút ẩm) so với không can thiệp hoặc thiết bị giả.
- Đo gì
- Lưu lượng đỉnh, FEV1, chất lượng sống, dùng thuốc cắt cơn, dị nguyên mạt, độ ẩm phòng ngủ.
- Kết quả
- Trong thử nghiệm mù đôi Wright 2009, độ ẩm phòng ngủ dưới 50% trong trung vị 45,1% thời gian ở nhóm can thiệp so với 21,0% ở nhóm chứng (P = 0,001), nhưng dị nguyên mạt và IgE không khác giữa hai nhóm. Lưu lượng đỉnh buổi tối cải thiện (chênh trung bình 24,56% giá trị dự đoán; KTC 95% 8,97–40,15); lưu lượng buổi sáng, FEV1 và chất lượng sống không khác biệt có ý nghĩa.
- Hạn chế
- Chỉ hai thử nghiệm, một có chất lượng thấp. Tác giả không kết luận được máy hút ẩm có ích cho hen mạn tính hay không và lưu ý bằng chứng từ một thử nghiệm ở Scotland có thể không áp dụng cho khí hậu nóng. Nhận xét biên tập: can thiệp là thông gió thu hồi nhiệt ở Anh, không phải máy hút ẩm độc lập trong khí hậu nóng ẩm.
Singh M, Jaiswal N (2013). Dehumidifiers for chronic asthma. Cochrane Database of Systematic Reviews, Issue 6, CD003563.pub2. trích từ tóm tắt · doi:10.1002/14651858.cd003563.pub2
Okamoto-Mizuno và cs., 2012
Tổng quan · Nhật Bản · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- Tổng quan tường thuật các nghiên cứu về môi trường nhiệt và giấc ngủ, phần lớn ở phòng khí hậu tại Nhật.
- Điều kiện
- Tổng hợp các thí nghiệm so sánh điều kiện ổn định 26 °C/60% RH với 32 °C/80% RH áp dụng ở nửa đầu hoặc nửa sau đêm; mô tả vi khí hậu trong chăn khi ngủ bình thường.
- Đo gì
- Giấc ngủ sóng chậm, giấc ngủ REM, thời gian thức.
- Kết quả
- Theo tổng quan, vi khí hậu giường khi ngủ bình thường duy trì quanh 32–34 °C và 40–60% độ ẩm tương đối. Ở 32 °C với 80% RH, giấc ngủ sóng chậm giảm nhưng REM không bị ảnh hưởng; phơi nhiễm nóng ẩm ở nửa đầu đêm làm giảm giấc ngủ sóng chậm ở đoạn đó và tăng thời gian thức ở cả hai đoạn.
- Hạn chế
- Tổng quan tường thuật, không phải tổng quan hệ thống. Tác giả lưu ý các kết quả dựa trên người tham gia gần như không mặc quần áo, chưa tính tác động của chăn và quần áo, và cần thêm nghiên cứu so sánh trực tiếp người lớn tuổi với người trẻ. Nhận xét biên tập: các thí nghiệm gốc có cỡ mẫu nhỏ, thường là người trẻ, trong phòng khí hậu; dữ liệu đọc qua bản trên Springer Link do trang BMC không mở được.
Okamoto-Mizuno K, Mizuno K (2012). Effects of thermal environment on sleep and circadian rhythm. Journal of Physiological Anthropology 31:14. trích từ toàn văn · doi:10.1186/1880-6805-31-14
Quansah và cs., 2012
Phân tích gộp · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 16 nghiên cứu (11 thuần tập, 5 bệnh–chứng ca mới), tìm trên PubMed 1990–3/2012; loại nghiên cứu cắt ngang.
- Điều kiện
- Ẩm thấp, mốc nhìn thấy, mùi mốc, hư hại do nước trong nhà ở.
- Đo gì
- Khởi phát hen mới.
- Kết quả
- Ước lượng gộp cho bất kỳ phơi nhiễm ẩm/mốc là 1,50 (KTC 95% 1,25–1,80) theo ước lượng cao nhất của từng nghiên cứu, 1,31 (1,09–1,58) theo ước lượng thấp nhất. Mùi mốc có ước lượng cao nhất, 1,73 (1,19–2,50); mốc nhìn thấy 1,29 (1,04–1,60); ẩm thấp 1,33 (1,12–1,56); hư hại do nước 1,12 (0,98–1,27), không có ý nghĩa.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: biểu đồ phễu cho bất kỳ phơi nhiễm hơi bất đối xứng, gợi ý sai lệch xuất bản (sau hiệu chỉnh trim-and-fill còn 1,31; KTC 95% 1,07–1,65); dị biệt đáng kể giữa các nghiên cứu, phần nào do cách đánh giá phơi nhiễm; rất ít nghiên cứu đo trực tiếp nấm hoặc hợp chất liên quan nên không gộp được. Vùng khí hậu không giải thích được dị biệt. Nhận xét biên tập: chỉ tìm trên PubMed; việc coi mùi mốc là chỉ dấu phơi nhiễm đặc hiệu nhất là suy luận của tác giả.
Quansah R, Jaakkola MS, Hugg TT, Heikkinen SAM, Jaakkola JJK (2012). Residential Dampness and Molds and the Risk of Developing Asthma: A Systematic Review and Meta-Analysis. PLoS ONE 7(11):e47526. trích từ toàn văn · doi:10.1371/journal.pone.0047526
Sheikh và cs., 2010
Tổng quan hệ thống · 501 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 9 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, 501 người viêm mũi dị ứng quanh năm.
- Điều kiện
- Thuốc diệt mạt, lọc HEPA, bọc chăn nệm chống mạt, chương trình kiểm soát môi trường phòng ngủ.
- Đo gì
- Lượng mạt và triệu chứng viêm mũi.
- Kết quả
- 7 trong 9 thử nghiệm giảm được lượng mạt có ý nghĩa so với đối chứng. Bọc chăn nệm dùng riêng lẻ khó đem lại lợi ích lâm sàng; thuốc diệt mạt và chương trình kiểm soát môi trường phòng ngủ toàn diện có thể giảm triệu chứng ở mức nào đó. Không gộp được do khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân.
- Hạn chế
- Tác giả nêu đa số thử nghiệm nhỏ, chất lượng phương pháp kém. Nhận xét biên tập: tìm tài liệu đến hết 2009; trang tóm tắt không đề cập hút ẩm.
Sheikh A, Hurwitz B, Nurmatov U, van Schayck CP. House dust mite avoidance measures for perennial allergic rhinitis. Cochrane Database of Systematic Reviews 2010, số 7, CD001563 (lần tìm tài liệu cuối: 31/12/2009; trang tóm tắt trên cochrane.org). trích từ tóm tắt · doi:10.1002/14651858.CD001563.pub3
Mendell và cs., 2009
Tổng quan hệ thống · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 68 bài báo đạt tiêu chí từ tìm kiếm PubMed 1986–7/2007 (không tính 45 bài đã có trong tổng quan của Institute of Medicine 2004), cùng phân tích gộp của Fisk và cs. (2007) được chương dẫn lại.
- Điều kiện
- Phơi nhiễm ẩm thấp hoặc nấm mốc trong nhà ở, trường học, văn phòng.
- Đo gì
- Hen (khởi phát, đợt cấp, hen hiện mắc), nhiễm khuẩn hô hấp, triệu chứng hô hấp trên, ho, khò khè, khó thở, viêm mũi dị ứng.
- Kết quả
- Theo phân tích gộp của Fisk, Lei-Gomez và Mendell (2007) mà chương dẫn lại, ẩm thấp hoặc nấm mốc trong nhà ở liên quan với hen hiện mắc (OR 1,6; KTC 95% 1,3–1,9), chương diễn giải là tăng khoảng 50%; với khởi phát hen OR gộp 1,3 (KTC 95% 0,9–2,1), không có ý nghĩa thống kê. Chương xếp hen (khởi phát, đợt cấp, hiện mắc), nhiễm khuẩn hô hấp (trừ viêm tai giữa), triệu chứng hô hấp trên, ho, khò khè và khó thở vào nhóm có bằng chứng đủ về mối liên quan; viêm mũi dị ứng và viêm phế quản ở mức hạn chế hoặc gợi ý. Chương kết luận chưa đủ bằng chứng về quan hệ nhân quả với bất kỳ kết cục nào được xem xét.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: không thực hiện phân tích gộp chính thức; sai lệch xuất bản có thể làm mối liên quan bị phóng đại; chưa đủ bằng chứng nhân quả cho kết cục nào. Nhận xét biên tập: phần lớn nghiên cứu gốc là quan sát, phơi nhiễm ẩm mốc thường tự báo cáo; đa số nghiên cứu gốc ở Bắc Mỹ và châu Âu; các OR ở phần Kết quả, cùng nhận định của chương rằng ước lượng trung tâm của OR nằm trong khoảng 1,34–1,75, đều lấy từ phân tích gộp Fisk 2007 được chương dẫn lại, không phải phân tích riêng của chương.
Mendell M, Mirer A, Cheung K, Douwes J, Sigsgaard T, Bønløkke J, Meyer H, Hirvonen M-R, Roponen M (2009). Health effects associated with dampness and mould. Chương 4 trong: WHO Guidelines for Indoor Air Quality: Dampness and Mould. Geneva: WHO. trích từ toàn văn · ncbi.nlm.nih.gov
Seppänen và cs., 2009
Tổng quan · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- Chương tổng quan kỹ thuật trong hướng dẫn WHO, tổng hợp ngưỡng độ ẩm cho nấm mốc, mạt, đọng nước và thông gió.
- Điều kiện
- Độ ẩm tương đối tại bề mặt vật liệu và trong không khí phòng; thông gió nhà ở.
- Đo gì
- Ngưỡng phát triển nấm mốc, mạt; nguy cơ đọng nước.
- Kết quả
- Một số nấm nảy mầm ở 62–65% RH, nhưng bề mặt dễ mốc có thể không mốc nếu độ ẩm giữ dưới 75–80%; độ ẩm tới hạn dài hạn là 75–90% với vật liệu sạch và 75–80% với vật liệu bẩn. Mạt cần độ ẩm tương đối trên 45–50%. Ví dụ: không khí 20 °C, 58% RH khi chạm bề mặt lạnh 11 °C sẽ đạt 100% RH và đọng nước. Với khí hậu nóng ẩm, không khí ngoài trời có thể ẩm hơn trong nhà, nên thông gió có thể đưa thêm hơi ẩm vào và lưu lượng cấp nên lớn hơn lưu lượng thải.
- Hạn chế
- Chương hướng dẫn kỹ thuật, nhiều ngưỡng lấy từ thí nghiệm vật liệu. Nhận xét biên tập: ngưỡng mốc là độ ẩm sát bề mặt, có thể cao hơn nhiều so với độ ẩm giữa phòng khi tường lạnh hơn không khí; nội dung chủ yếu cho khí hậu lạnh.
Seppänen O, Kurnitski J (2009). Moisture control and ventilation. Trong: WHO Guidelines for Indoor Air Quality: Dampness and Mould, chương 3. World Health Organization. trích từ toàn văn · ncbi.nlm.nih.gov
Gøtzsche và cs., 2008
Tổng quan hệ thống · 3.121 nghiên cứu gốc · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- 55 thử nghiệm ngẫu nhiên, 3.121 người hen nhạy cảm với mạt bụi nhà.
- Điều kiện
- Biện pháp vật lý (37 thử nghiệm, trong đó 26 dùng bọc nệm chống mạt), hoá học (10) hoặc kết hợp (8) để giảm dị nguyên mạt.
- Đo gì
- Lưu lượng đỉnh buổi sáng, số người cải thiện, điểm triệu chứng hen, lượng thuốc dùng.
- Kết quả
- Không có khác biệt có ý nghĩa: lưu lượng đỉnh buổi sáng SMD 0,01 (KTC 95% −0,08 đến 0,11; 1.665 người), số người cải thiện RR 1,01 (0,80–1,27), điểm triệu chứng SMD −0,06 (−0,16 đến 0,05). Tác giả kết luận không thể khuyến nghị các biện pháp này cho người hen.
- Hạn chế
- Tác giả nêu nhiều thử nghiệm chất lượng thấp. Nhận xét biên tập: trang tóm tắt không đề cập máy hút ẩm; kết quả về kết cục hen, không phải về giấc ngủ.
Gøtzsche PC, Johansen HK (2008). House dust mite control measures for asthma. Cochrane Database of Systematic Reviews, số 2, CD001187 (trang tóm tắt trên cochrane.org). trích từ tóm tắt · doi:10.1002/14651858.CD001187.pub3
Fisk và cs., 2007
Phân tích gộp · Nhiều quốc gia · nhiều vùng
- Đối tượng
- Các nghiên cứu được Institute of Medicine (Mỹ) tổng quan về ẩm thấp, nấm mốc trong nhà và sức khoẻ hô hấp; 28 ước lượng gộp.
- Điều kiện
- Ẩm thấp hoặc nấm mốc trong nhà ở.
- Đo gì
- Các kết cục hô hấp và liên quan đến hen.
- Kết quả
- Ước lượng OR trung tâm dao động 1,32–2,10, phần lớn trong khoảng 1,3–1,8; khoảng tin cậy 95% loại trừ 1 ở 26 trên 28 trường hợp. Tác giả tóm tắt: ẩm thấp và nấm mốc trong nhà gắn với mức tăng khoảng 30–80% các kết cục hô hấp và hen.
- Hạn chế
- Phân tích gộp dữ liệu quan sát, không chứng minh nhân quả. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; số nghiên cứu gộp không nêu trên trang đã đọc; DOI lấy theo tạp chí, trang LBL không ghi DOI.
Fisk WJ, Lei-Gomez Q, Mendell MJ (2007). Meta-analyses of the associations of respiratory health effects with dampness and mold in homes. Indoor Air 17(4):284–296. trích từ tóm tắt · doi:10.1111/j.1600-0668.2007.00475.x
Arlian, 1992
Tổng quan · Hoa Kỳ
- Đối tượng
- Tổng quan sinh lý cân bằng nước của mạt bụi nhà Dermatophagoides farinae, D. pteronyssinus và Euroglyphus maynei.
- Điều kiện
- Các mức độ ẩm tương đối của không khí xung quanh mạt.
- Đo gì
- Khả năng hút nước từ không khí, thời gian sống còn của mạt ở trạng thái hoạt động.
- Kết quả
- Ở độ ẩm tương đối trên 65–70%, mạt hút được đủ nước từ không khí chưa bão hoà để bù lượng mất. Ở độ ẩm 50% hoặc thấp hơn, mạt ở giai đoạn hoạt động sống không quá 6–11 ngày; giai đoạn protonymph chịu khô có thể sống nhiều tháng. Cơ thể mạt chứa khoảng 70–75% nước theo khối lượng.
- Hạn chế
- Tổng quan tường thuật dựa chủ yếu trên thí nghiệm phòng lab. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; ngưỡng là độ ẩm của không khí sát chỗ mạt sống (nệm, gối), có thể khác độ ẩm đo giữa phòng.
Arlian LG (1992). Water balance and humidity requirements of house dust mites. Experimental and Applied Acarology 16(1–2):15–35. trích từ tóm tắt · doi:10.1007/BF01201490
Arundel và cs., 1986
Tổng quan · Canada · nhiều vùng
- Đối tượng
- Tổng quan tài liệu thực nghiệm và dịch tễ về độ ẩm tương đối với vi khuẩn, virus, nấm, mạt, nhiễm khuẩn hô hấp; gồm 9 nghiên cứu dịch tễ.
- Điều kiện
- Dải độ ẩm tương đối trong nhà.
- Đo gì
- Sống còn của vi khuẩn, virus trong không khí; quần thể mạt; phát triển nấm; nhiễm khuẩn hô hấp.
- Kết quả
- Vi khuẩn và virus trong không khí sống sót hoặc lây nhiễm kém nhất ở 40–70% RH. Quần thể mạt ở mức tối thiểu khi độ ẩm dưới 50% và lớn nhất ở 80%; phần lớn loài nấm chỉ phát triển khi độ ẩm trên 60%. Tác giả đề xuất giữ độ ẩm trong nhà 40–60% để giảm thiểu đa số tác động sức khoẻ liên quan đến độ ẩm.
- Hạn chế
- Tổng quan tường thuật cũ (1986), dựa nhiều vào thí nghiệm phòng lab. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; dải 40–60% là đề xuất tổng hợp, không phải ngưỡng đo trực tiếp trên giấc ngủ; ở Việt Nam độ ẩm ngoài trời thường vượt 60% nên giữ được dải này cần điều hoà hoặc máy hút ẩm.
Arundel AV, Sterling EM, Biggin JH, Sterling TD (1986). Indirect health effects of relative humidity in indoor environments. Environmental Health Perspectives 65:351–361. trích từ tóm tắt · doi:10.1289/ehp.8665351
Pfluger và cs., không rõ năm
Tổng quan · Áo · nhiều vùng
- Đối tượng
- Tổng quan tường thuật các nghiên cứu phòng khí hậu và thực địa về độ ẩm thấp và mắt, niêm mạc, da.
- Điều kiện
- Độ ẩm tương đối trong nhà từ khoảng 2% đến 45%, chủ yếu mùa sưởi ở châu Âu.
- Đo gì
- Bay hơi nước mắt, tần số chớp mắt, thanh thải niêm mạc mũi, mất nước qua da, triệu chứng khô.
- Kết quả
- Theo các nghiên cứu được trích, tốc độ bay hơi màng nước mắt tăng 28,33–59,42% cho mỗi 10% độ ẩm giảm (McCulley 2006). Ở người cao tuổi, thời gian thanh thải niêm mạc mũi dài hơn đáng kể ở 10% RH so với người trẻ (Sunwoo 2006). Khó chịu ở mắt tăng theo thời gian khi điểm sương dưới 2 °C (khoảng 27% RH ở 22 °C). Tác giả không đưa ra ngưỡng dưới dứt khoát và cho rằng độ ẩm tuyệt đối hoặc điểm sương là cơ sở tốt hơn độ ẩm tương đối.
- Hạn chế
- Tổng quan tường thuật, nhiều nghiên cứu gốc nhỏ hoặc không ghi cỡ mẫu. Nhận xét biên tập: các mức độ ẩm rất thấp (dưới 30%) hiếm gặp ở Việt Nam, trừ phòng điều hoà chạy liên tục trong mùa khô hanh miền Bắc; năm xuất bản không ghi trên bản đã đọc.
Pfluger R, Feist W, Tietjen A, Neher A. Physiological impairments of individuals at low indoor air humidity (bản PDF trên Passipedia, Passive House Institute; năm và tạp chí không ghi trên bản đã đọc). trích từ toàn văn · passipedia.org
Thử nghiệm có đối chứng · 6
Tsang và cs., 2025
Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 15 · Hồng Kông (Trung Quốc) · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 15 người lớn khoẻ mạnh (10 nam, 5 nữ), 16–61 tuổi, sống trong căn hộ công cộng có điều hoà cửa sổ.
- Điều kiện
- Mỗi người ngủ hai đêm liên tiếp tại phòng ngủ của mình vào mùa hè, một đêm dùng điều hoà, một đêm dùng quạt; thứ tự ngẫu nhiên.
- Đo gì
- Bảng hỏi PSQI sửa đổi, thời lượng ngủ tự báo cáo; nhiệt độ vận hành và độ ẩm tương đối trong phòng.
- Kết quả
- Độ ẩm tương đối trong phòng là 72,0% khi dùng quạt so với 60,1% khi dùng điều hoà (p < 0,01). Thời lượng ngủ 507 so với 522 phút (p = 0,33), điểm chất lượng giấc ngủ 13,1 so với 12,8 (p = 0,80): không khác biệt có ý nghĩa giữa hai điều kiện.
- Hạn chế
- Tác giả nêu chưa phân tích ảnh hưởng của độ ẩm và chất lượng không khí lên giấc ngủ (độ ẩm chỉ được đo và báo cáo). Nhận xét biên tập: cỡ mẫu nhỏ, mỗi điều kiện một đêm, giấc ngủ chỉ tự báo cáo nên khó phát hiện khác biệt nhỏ.
Tsang T-W, Mui K-W, Cheung K-H, Wong L-T (2025). An Energy-Efficient Approach for Thermal Comfort and Sleep Quality in Subtropical Bedrooms. Sustainability 17(6):2432. trích từ toàn văn · doi:10.3390/su17062432
Tsuzuki và cs., 2023
Thực nghiệm chéo có đối chứng · Nhật Bản · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- Phụ nữ trẻ ở Nhật; phần đã đọc không nêu cỡ mẫu.
- Điều kiện
- Phòng ngủ dùng thông gió cơ khí thường so với thông gió hút ẩm bằng chất hút ẩm (desiccant), điều hoà tắt theo hẹn giờ trong đêm.
- Đo gì
- Chất lượng giấc ngủ, điều nhiệt (nhiệt độ da), cảm nhận nhiệt và dễ chịu.
- Kết quả
- Thông gió hút ẩm làm nhiệt độ không khí thấp hơn khoảng 1 °C và độ ẩm tương đối thấp hơn khoảng 20 điểm phần trăm so với thông gió thường. Nhiệt độ da tăng khoảng 0,5 °C khi điều hoà tắt nhưng không làm tăng số lần thức; hiệu suất giấc ngủ giữ khoảng 96%. Người tham gia đánh giá mát và dễ chịu hơn với hệ thống hút ẩm.
- Hạn chế
- Báo cáo hội nghị, cỡ mẫu không rõ, chỉ phụ nữ trẻ. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; khác biệt về cảm nhận dễ chịu nhưng hiệu suất giấc ngủ ở cả hai điều kiện đều cao.
Tsuzuki K, Nabeshima Y, Kaku J, Shibayama Y (2023). Effects of air temperature and humidity on sleeping women by the ventilation and air-conditioner, Japan. E3S Web of Conferences 396:01093. trích từ tóm tắt · doi:10.1051/e3sconf/202339601093
Cao và cs., 2022
Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 18 · Trung Quốc · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- 18 người trẻ (23 ± 2 tuổi), chia nhóm mùa đông và nhóm mùa hè.
- Điều kiện
- Mùa hè: nhiệt độ không khí 23, 26, 29 °C kết hợp độ ẩm 40, 60, 80%; mùa đông: 17, 20, 23 °C kết hợp 40, 55, 70%.
- Đo gì
- Cảm nhận môi trường chủ quan và tín hiệu sinh lý giấc ngủ khách quan.
- Kết quả
- Tổ hợp trung tính mùa hè là 26 °C và 60% độ ẩm (SET* 32 °C). Từ phân tích đường đồng mức và hồi quy chất lượng giấc ngủ khách quan, tác giả đề xuất 26,1 °C và 52% RH cho mùa hè, 20,3 °C và 56% RH cho mùa đông ở người 21–25 tuổi. Khi nhiệt độ mùa hè ôn hoà, tác động của độ ẩm lên giấc ngủ có thể yếu đi; môi trường lạnh ẩm mùa đông ảnh hưởng rõ đến giấc ngủ sâu.
- Hạn chế
- Cỡ mẫu nhỏ, chỉ người trẻ. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, không có độ lớn tác động cụ thể theo từng mức ẩm; các giá trị đề xuất là kết quả mô hình hồi quy trên một mẫu nhỏ.
Cao T, Lian Z, Zhu J, et al. (2022). Parametric study on the sleep thermal environment. Building Simulation 15:885–898. trích từ tóm tắt · doi:10.1007/s12273-021-0840-5
Tsutsumi và cs., 2007
Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 15 · Nhật Bản · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- 15 sinh viên cả nam và nữ.
- Điều kiện
- Phơi nhiễm 5 giờ (ba đoạn 1,5 giờ) ở các tổ hợp độ ẩm, tốc độ gió tại mặt và độ rọi khác nhau; tóm tắt không nêu giá trị cụ thể của từng mức.
- Đo gì
- Thời gian vỡ màng phim nước mắt (BUT) tự đo, cảm giác khô mắt, mỏi mắt, hiệu suất làm việc.
- Kết quả
- Độ ẩm thấp đi kèm BUT ngắn hơn và cảm giác khô mắt nhiều hơn; gió thổi vào mặt có tác động bất lợi lên BUT, khô mắt và mỏi mắt. Nữ có BUT ngắn hơn, tác giả cho là do dùng kính áp tròng nhiều hơn. Tóm tắt không nêu giá trị số của các kết cục.
- Hạn chế
- Cỡ mẫu nhỏ, sinh viên trẻ, bối cảnh làm việc chứ không phải khi ngủ. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, không có số liệu độ ẩm cụ thể; phù hợp để minh hoạ tác động cộng hưởng giữa không khí khô và gió quạt/điều hoà thổi vào mặt.
Tsutsumi H, Hoda Y, Tanabe S, Arishiro A (2007). Subjective eye comfort and performance under the different combination of humidity, local air velocity and illuminance. IAQVEC 2007, Sendai. trích từ tóm tắt · aivc.org
Lagercrantz và cs., 2003
Thực nghiệm chéo có đối chứng · Thuỵ Điển · ôn đới
- Đối tượng
- Nhân viên văn phòng ở hai tầng của một toà nhà ở miền bắc Thuỵ Điển; tóm tắt không nêu số người.
- Điều kiện
- Can thiệp chéo mùa đông: nâng độ ẩm từ mức thường 10–20% RH lên 23–24% RH bằng máy tạo ẩm hơi nước, lần lượt từng tầng.
- Đo gì
- Cảm nhận độ khô không khí, triệu chứng mắt, họng, môi, da; đo lâm sàng.
- Kết quả
- Nâng độ ẩm lên 23–24% RH làm giảm cảm giác xót mắt 10% thang đo và kích ứng mắt 11%, giảm triệu chứng khô họng, miệng, môi, da. Tác giả đánh giá tác động nhỏ và cho rằng chưa đủ để biện minh việc lắp máy tạo ẩm.
- Hạn chế
- Tác giả nêu tác động nhỏ. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, không rõ cỡ mẫu; khí hậu Bắc Âu mùa sưởi rất khô, khác Việt Nam.
Lagercrantz LP, Wyon D, Meyer HW, Prause JU, Fang L, Clausen G, Sundell J (2003). Objective and subjective responses to low relative humidity in an office intervention study. Proceedings of Healthy Buildings 2003, 163–168. trích từ tóm tắt · orbit.dtu.dk
Okamoto-Mizuno và cs., 1999
Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 7 · Nhật Bản · phòng thí nghiệm
- Đối tượng
- 7 nam giới trẻ khoẻ mạnh, tuổi trung bình 22,7 ± 1,63.
- Điều kiện
- Ngủ từ 23:00 đến 7:00 trong phòng khí hậu ở bốn điều kiện: 29 °C/50% RH, 29 °C/75% RH, 35 °C/50% RH và 35 °C/75% RH; giường phủ ga cotton.
- Đo gì
- Giai đoạn giấc ngủ đo bằng đa ký giấc ngủ, chỉ số hiệu suất giấc ngủ, nhiệt độ trực tràng và nhiệt độ da.
- Kết quả
- Điều kiện 35 °C/75% RH gây nhiều thời gian thức hơn, chỉ số hiệu suất giấc ngủ và lượng giấc ngủ sóng chậm (S3+S4) thấp hơn so với 29 °C/50% RH và 29 °C/75% RH. Tóm tắt chỉ báo hướng tác động, không nêu giá trị số hay p cho các kết cục giấc ngủ.
- Hạn chế
- Cỡ mẫu rất nhỏ (7 người), chỉ nam giới trẻ. Mức 35 °C cao hơn nhiều so với phòng ngủ có điều hoà thông thường. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; ở 29 °C, tăng độ ẩm từ 50% lên 75% không được tóm tắt nêu là gây khác biệt về thức giấc; tóm tắt cũng không so 35 °C/75% RH với 35 °C/50% RH, nên chưa tách được tác động riêng của độ ẩm khi trời nóng.
Okamoto-Mizuno K, Mizuno K, Michie S, Maeda A, Iizuka S (1999). Effects of humid heat exposure on human sleep stages and body temperature. Sleep 22(6):767–773. trích từ tóm tắt · doi:10.1093/sleep/22.6.767
Nghiên cứu quan sát · 15
Nguyen và cs., 2025 (PM2.5, Đài Bắc)
Nghiên cứu cắt ngang · n = 8.611 · Đài Loan · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 8.611 người đo đa ký giấc ngủ tại một trung tâm giấc ngủ ở Đài Bắc.
- Điều kiện
- Ước lượng phơi nhiễm cá nhân với độ ẩm tương đối, nhiệt độ, PM2.5 ngoài trời trung bình 1, 7 và 30 ngày.
- Đo gì
- Giai đoạn giấc ngủ NREM, REM và chỉ số vi thức tỉnh trên đa ký giấc ngủ.
- Kết quả
- Mỗi 1% độ ẩm tương đối tăng trong 1 và 7 ngày liên quan với thay đổi giai đoạn NREM và chỉ số vi thức tỉnh cao hơn ở mọi mùa; phân tích trung gian thống kê gợi ý PM2.5 giải thích một phần mối liên quan giữa độ ẩm, nhiệt độ và giai đoạn giấc ngủ, rõ nhất ở mùa lạnh. Tóm tắt không nêu hệ số cụ thể.
- Hạn chế
- Cắt ngang, mẫu là bệnh nhân đến trung tâm giấc ngủ, phơi nhiễm là ước lượng ngoài trời. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt qua DOAJ; tóm tắt nêu hướng tác động chưa nhất quán (kết luận nói độ ẩm thấp đi kèm ít giấc ngủ sâu), nên chỉ coi là tín hiệu.
Nguyen Thanh Tung, Lee Y-L, Liu W-T, et al., Chuang H-C (2025). Impact of PM2.5, relative humidity, and temperature on sleep quality: a cross-sectional study in Taipei. Annals of Medicine 57(1). trích từ tóm tắt · doi:10.1080/07853890.2024.2448733
Nguyen và cs., 2025 (nhà ở Hà Nội)
Đo thực địa · Việt Nam · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- Hai căn hộ ở Hà Nội (một khu tập thể nội thành, một chung cư ngoại thành), kèm khảo sát chủ nhà.
- Điều kiện
- Đo trong nhà mỗi 5 phút bằng bộ cảm biến; thử thiết bị thông gió thu hồi nhiệt (HRV) ở chế độ hút ẩm và các mức quạt, so với mở cửa sổ tự nhiên và không dùng thiết bị; lấy mẫu mốc vào tháng 3 (mùa nồm).
- Đo gì
- Độ ẩm, nhiệt độ, CO2 phòng ngủ, PM2.5 trong nhà.
- Kết quả
- Trong mùa nồm, độ ẩm ngoài trời 90–100%; khi mở cửa sổ thông gió tự nhiên (không dùng thiết bị HRV), độ ẩm trong nhà giữ ở mức 85–90%. Chế độ hút ẩm của HRV đưa độ ẩm trong nhà về khoảng 70–80%, thấp hơn khoảng 10 điểm phần trăm so với thông gió tự nhiên. CO2 phòng ngủ ở mức quạt 1 khoảng 3000 ppm từ 23 giờ đến 6 giờ, ở mức 3 dao động khoảng 1100–1300 ppm.
- Hạn chế
- Chỉ hai căn hộ; nhiều số đọc từ biểu đồ, không có phân tích thống kê; số liệu độ ẩm chủ yếu ở phòng khách. Nghiên cứu được Daikin, hãng có thiết bị được thử, tài trợ một phần. Nhận xét biên tập: dù ít mẫu, đây là một trong số ít số liệu đo độ ẩm trong nhà mùa nồm ở Hà Nội mà chúng tôi tìm được.
Nguyen AT, Hoang TM, Vu PT, Ho PH, Nguyen DV, Trinh DQ (2025). A study on evaluation of indoor air quality at residential houses in Hanoi (Viet Nam). Evergreen 12(04):1995–1999. trích từ toàn văn · doi:10.5109/7402631
Kang và cs., 2024
Nghiên cứu cắt ngang · Trung Quốc · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 50 phòng ngủ ở Thượng Hải, mỗi phòng theo dõi một tuần; 168 đêm-người được phân tích sau khi loại dữ liệu không tin cậy.
- Điều kiện
- Mùa hè; đo nhiệt độ, độ ẩm tương đối, CO2, PM2.5 trong phòng ngủ thật; người dân tự dùng điều hoà hoặc mở cửa sổ.
- Đo gì
- Giấc ngủ đo bằng thiết bị đeo cổ tay và bảng hỏi.
- Kết quả
- Trung bình qua đêm: nhiệt độ 21–30 °C, độ ẩm tương đối 43–86%, CO2 375–2756 ppm. 36,3% số đêm ngủ dưới 6 giờ. Ở nhóm ngủ dưới 6 giờ, hiệu suất giấc ngủ, thời lượng và tỉ lệ ngủ sâu, REM giảm và thời gian thức tăng khi nhiệt độ, độ ẩm, CO2 và PM2.5 tăng; người dùng điều hoà có nhiệt độ và độ ẩm ban đêm thấp hơn.
- Hạn chế
- Thiết kế cắt ngang, chỉ cho thấy tương quan. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, không có hệ số tác động cụ thể; giấc ngủ đo bằng thiết bị đeo tay; độ ẩm, nhiệt độ và việc dùng điều hoà đi cùng nhau nên khó tách riêng tác động của độ ẩm.
Kang M, Yan Y, Zhang H, Guo C, Fan X, Sekhar C, Lian Z, Wargocki P, Lan L (2024). Associations between bedroom environment and sleep quality when sleeping less or more than 6h: A cross sectional study during summer. Building and Environment 257:111531. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.buildenv.2024.111531
Trinh và cs., 2023
Nghiên cứu cắt ngang · n = 423 · Việt Nam · nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 423 bệnh nhân dị ứng có ít nhất một test lẩy da dương tính tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 2014–2021.
- Điều kiện
- Hồi cứu hồ sơ, test lẩy da với 12 dị nguyên trong không khí.
- Đo gì
- Tỉ lệ mẫn cảm với từng loại mạt và dị nguyên khác.
- Kết quả
- Tỉ lệ test lẩy da dương tính cao nhất với D. farinae (59,8%), tiếp đến D. pteronyssinus (50,4%) và Blomia tropicalis (49,6%). 377 bệnh nhân dương tính với ít nhất một loại mạt, tức 94% của 401 người có kết quả test với mạt trong bảng số liệu (bài không giải thích vì sao mẫu số ít hơn 423); 18,0% dương tính với cả ba loại. Tác giả gắn tỉ lệ cao với khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng không đo độ ẩm.
- Hạn chế
- Hồi cứu, một trung tâm, chỉ gồm người đã có test dương tính nên tỉ lệ không đại diện cho dân số chung. Nhận xét biên tập: nghiên cứu không đo độ ẩm phòng ngủ; mối liên hệ với khí hậu là diễn giải của tác giả.
Trinh THK, Nguyen PTM, Tran TT, Pawankar R, Pham DL (2023). Profile of aeroallergen sensitizations in allergic patients living in southern Vietnam. Frontiers in Allergy 3:1058865. trích từ toàn văn · doi:10.3389/falgy.2022.1058865
Li và cs., 2022
Nghiên cứu cắt ngang · n = 4.691 · Trung Quốc · nhiều vùng
- Đối tượng
- 4.691 trẻ 6–13 tuổi (2.019 ở Lan Châu, 2.672 ở Vũ Hán), tỉ lệ phản hồi 92%.
- Điều kiện
- Mốc trong nhà tự báo cáo (mùi hoặc mốc nhìn thấy trong 12 tháng qua), 2017–2018.
- Đo gì
- Hen, viêm mũi dị ứng, dị ứng do bác sĩ chẩn đoán; triệu chứng viêm mũi hiện tại.
- Kết quả
- Mốc có ở 10,3% nhà, 4,3% ở Lan Châu (khô) so với 14,8% ở Vũ Hán (ẩm). Phơi nhiễm mốc liên quan với hen do bác sĩ chẩn đoán (OR 2,40; KTC 95% 1,31–4,40), viêm mũi dị ứng (OR 1,97; 1,49–2,60) và triệu chứng viêm mũi hiện tại (OR 2,24; 1,66–3,02).
- Hạn chế
- Cắt ngang, mốc tự báo cáo, không chứng minh nhân quả. Nhận xét biên tập: so sánh hai thành phố cho thấy tỉ lệ nhà có mốc cao hơn rõ ở vùng ẩm.
Li S, Cao S, Duan X, Zhang Y, Gong J, Xu X, Guo Q, Meng X, Zhang J (2022). Household mold exposure in association with childhood asthma and allergic rhinitis in a northwestern city and a southern city of China. Journal of Thoracic Disease 14(5):1725–1737. trích từ toàn văn · doi:10.21037/jtd-21-1380
Yan và cs., 2022
Đo thực địa · n = 45 · Trung Quốc · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 45 người cao tuổi ở Thượng Hải, theo dõi 6 ngày liên tiếp.
- Điều kiện
- Mùa hè, phòng ngủ thật; ghi liên tục nhiệt độ, độ ẩm tương đối, CO2; ghi nhận cách làm mát, thông gió, chăn, đồ ngủ.
- Đo gì
- Giấc ngủ đo bằng thiết bị đeo cổ tay, nhiệt độ da cổ tay, tự đánh giá chất lượng giấc ngủ.
- Kết quả
- Mỗi 1 °C tăng nhiệt độ không khí đi kèm hiệu suất giấc ngủ giảm 0,7%, REM ít hơn 2,1 phút và thời gian thức nhiều hơn 2,3 phút; mỗi 100 ppm CO2 tăng đi kèm tổng thời gian ngủ ít hơn 11 phút. Nhiệt độ, độ ẩm tương đối và CO2 cùng cao đi kèm tổng thời gian ngủ và REM ngắn hơn; nhiệt độ có liên hệ mạnh nhất.
- Hạn chế
- Thực địa quan sát, không phải can thiệp. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt, không có hệ số riêng cho độ ẩm; giấc ngủ đo bằng thiết bị đeo tay; người cao tuổi.
Yan Y, Lan L, Zhang H, Sun Y, Fan X, Wyon DP, Wargocki P (2022). Association of bedroom environment with the sleep quality of elderly subjects in summer: A field measurement in Shanghai, China. Building and Environment 208:108572. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.buildenv.2021.108572
Huang và cs., 2020
Nghiên cứu cắt ngang · n = 97 · Hoa Kỳ · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 97 cựu quân nhân khám tại phòng khám mắt Miami Veterans Affairs (10/2017–8/2018), có mức độ khô mắt đa dạng.
- Điều kiện
- Đo nhiệt độ, độ ẩm, PM2.5, PM10 trong nhà người tham gia trong khoảng một tuần sau buổi khám.
- Đo gì
- Điểm triệu chứng OSDI và các dấu hiệu khô mắt (test Schirmer, viêm, mạch máu bờ mi, mất tuyến Meibomius).
- Kết quả
- Độ ẩm trong nhà trung bình 52,4% (SD 8,3; khoảng 35,4–72,2%). Độ ẩm tương quan thuận với điểm OSDI (r = 0,30; KTC 95% 0,07–0,49; P = 0,01), với viêm (r = 0,32) và mất tuyến Meibomius (r = 0,27), tương quan nghịch với test Schirmer (r = −0,25; P = 0,03). Như vậy, trong mẫu này, độ ẩm cao hơn đi kèm chỉ số khô mắt xấu hơn, ngược với giả định thông thường.
- Hạn chế
- Thiết kế cắt ngang, đo môi trường một lần; độ ẩm không là biến độc lập trong mô hình đa biến mà chỉ dùng để hiệu chỉnh bụi. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt và điểm chính; đối tượng là cựu quân nhân, phần lớn lớn tuổi; dải độ ẩm trong nhà không có mức rất khô.
Huang A, Janecki J, Galor A, et al. (2020). Association of the Indoor Environment With Dry Eye Metrics. JAMA Ophthalmology 138(8):867–874. trích từ tóm tắt · doi:10.1001/jamaophthalmol.2020.2237
Cai và cs., 2019
Nghiên cứu cắt ngang · n = 40.010 · Trung Quốc · nhiều vùng
- Đối tượng
- 40.010 trẻ mẫu giáo ở bảy thành phố Trung Quốc, 2010–2012 (dự án CCHH).
- Điều kiện
- Sáu chỉ báo ẩm thấp ở nhà hiện tại và ba chỉ báo ở nhà thời thơ ấu (mốc nhìn thấy, vết ố ẩm, đọng nước, chăn đệm ẩm…).
- Đo gì
- Hen, viêm mũi dị ứng do bác sĩ chẩn đoán, khò khè, viêm mũi.
- Kết quả
- Đốm mốc và vết ố ẩm nhìn thấy ở nhà hiện tại liên quan với hen và viêm mũi dị ứng do bác sĩ chẩn đoán (AOR 1,18–1,35). Mọi chỉ báo ẩm thấp đều liên quan với khò khè và viêm mũi (AOR 1,16–2,64), có quan hệ liều–đáp ứng theo số chỉ báo. Tác giả ước tính khoảng 2,02% ca hen ở trẻ 3–6 tuổi năm 2011 quy được cho đốm mốc nhìn thấy.
- Hạn chế
- Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt qua DOAJ; thiết kế cắt ngang, phơi nhiễm ẩm thấp do phụ huynh tự báo cáo nên chỉ cho thấy liên quan; tóm tắt ghi mối liên quan tương tự ở trẻ miền Bắc và miền Nam Trung Quốc.
Cai J, Li B, Yu W, Wang H, Du C, Zhang Y, Huang C, Zhao Z, Deng Q, Yang X, Zhang X, Qian H, Sun Y, Liu W, Wang J, Yang Q, Zeng F, Norbäck D, Sundell J (2019). Household dampness-related exposures in relation to childhood asthma and rhinitis in China: A multicentre observational study. Environment International 126:735–746. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.envint.2019.03.013
Wang và cs., 2019
Nghiên cứu cắt ngang · n = 40.279 · Trung Quốc · nhiều vùng
- Đối tượng
- 40.279 người trẻ trưởng thành (cha mẹ của trẻ mẫu giáo) ở tám thành phố Trung Quốc, tỉ lệ phản hồi 75,0%.
- Điều kiện
- Bảng hỏi 2010–2012 về ẩm thấp và mốc trong nhà; dữ liệu khí hậu từ Cục Khí tượng Trung Quốc.
- Đo gì
- Hen, viêm mũi dị ứng, chàm.
- Kết quả
- Mùi mốc liên quan với hen (OR 1,90); đốm mốc hoặc vết ố ẩm với hen (OR 1,58–2,49) và viêm mũi dị ứng (OR 1,35–1,76); quần áo, chăn giường ẩm với hen và viêm mũi dị ứng (OR 1,23 mỗi loại) và chàm (OR 1,35). Mối liên quan với ẩm mốc mạnh hơn ở miền Nam Trung Quốc.
- Hạn chế
- Cắt ngang, tự báo cáo. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt qua DOAJ, không xác minh được DOI; khoảng tin cậy không có trong phần đã đọc.
Wang J, Zhao Z, Zhang Y, Li B, Huang C, Zhang X, Deng Q, Lu C, Qian H, Yang X, Sun Y, Sundell J, Norbäck D (2019). Asthma, allergic rhinitis and eczema among parents of preschool children in relation to climate, and dampness and mold in dwellings in China. Environment International 130. trích từ tóm tắt · doaj.org
Lâm và cs., 2014
Nghiên cứu cắt ngang · n = 553 · Việt Nam · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 553 người lớn ≤ 60 tuổi được test lẩy da (tuổi trung bình 43,5 ± 10,4), lấy từ mẫu ngẫu nhiên của khảo sát 5.782 người ở quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) và xã thuộc Ba Vì.
- Điều kiện
- Khảo sát bảng hỏi dân số 2007–2009; phần lâm sàng 3/2009–4/2010 gồm bảng hỏi GA2LEN cải biên (thêm câu hỏi OLIN) và test lẩy da.
- Đo gì
- Tỉ lệ mẫn cảm với dị nguyên trong không khí và liên quan với triệu chứng dị ứng.
- Kết quả
- Blomia tropicalis là dị nguyên mẫn cảm phổ biến nhất (nam 27,7%; nữ 18,7%; p = 0,013). Mẫn cảm D. pteronyssinus ở nam 16,5%, nữ 10,6%, cao hơn ở Hoàn Kiếm so với Ba Vì (19,0% so với 10,5%; p = 0,006). Chỉ 4 trên 139 người mẫn cảm mạt chỉ mẫn cảm với Dermatophagoides mà không với B. tropicalis.
- Hạn chế
- Chỉ 46% người được mời tham gia phần lâm sàng; test da chỉ làm ở người ≤ 60 tuổi. Nhận xét biên tập: không đo độ ẩm; vai trò của nóng ẩm là diễn giải của tác giả.
Lâm HT, Ekerljung L, Bjerg A, Nguyễn VT, Lundbäck B, Rönmark E, và cộng sự (2014). Sensitization to airborne allergens among adults and its impact on allergic symptoms: a population survey in northern Vietnam. Clinical and Translational Allergy 4:6. trích từ toàn văn · doi:10.1186/2045-7022-4-6
Um và cs., 2014
Nghiên cứu cắt ngang · n = 16.431 · Hàn Quốc · ôn đới
- Đối tượng
- 16.431 người lớn từ 30 tuổi trong Khảo sát Sức khoẻ và Dinh dưỡng Quốc gia Hàn Quốc lần 5 (2010–2012); 15.538 người được phân tích cho khô mắt đã chẩn đoán.
- Điều kiện
- Gán độ ẩm và các chất ô nhiễm ngoài trời theo nơi cư trú.
- Đo gì
- Khô mắt đã được chẩn đoán và triệu chứng khô mắt.
- Kết quả
- Độ ẩm ngoài trời cao hơn (mỗi 1 độ lệch chuẩn) liên quan với khả năng khô mắt đã chẩn đoán thấp hơn (OR 0,970; KTC 95% 0,955–0,986) và triệu chứng khô mắt thấp hơn (OR 0,975; KTC 95% 0,959–0,991), sau hiệu chỉnh giới, tuổi, năm khảo sát. Trong các chất ô nhiễm, chỉ SO2 liên quan (cùng chiều) với khô mắt.
- Hạn chế
- Tác giả nêu: khô mắt đánh giá bằng bảng hỏi, không rõ tiêu chí chẩn đoán của bác sĩ; câu hỏi triệu chứng chỉ gồm khô và kích ứng nên có thể phân loại sai; khảo sát thiết kế cho ước tính quốc gia/tỉnh nên không xét được vùng nhỏ; chưa hiệu chỉnh yếu tố kinh tế–xã hội, tiền sử bệnh; chỉ người Hàn Quốc. Nhận xét biên tập: thiết kế cắt ngang; phơi nhiễm là độ ẩm ngoài trời theo đơn vị hành chính, không phải trong phòng ngủ; mức giảm nguy cơ rất nhỏ trên mỗi độ lệch chuẩn.
Um SB, Kim NH, Lee HK, Song JS, Kim HC (2014). Spatial epidemiology of dry eye disease: findings from South Korea. International Journal of Health Geographics 13:31. trích từ toàn văn · doi:10.1186/1476-072x-13-31
Wang và cs., 2013
Nghiên cứu cắt ngang · n = 4.754 · Trung Quốc · cận nhiệt đới ẩm
- Đối tượng
- 4.754 trẻ 3–6 tuổi ở Trùng Khánh (phân tích từ 5.299 trẻ được khảo sát), thuộc dự án CCHH.
- Điều kiện
- Bảng hỏi về dấu hiệu ẩm thấp trong nhà: chăn đệm ẩm, đọng nước kính cửa sổ, mùi mốc, rò nước, vết ố ẩm, mốc nhìn thấy.
- Đo gì
- Hen, viêm mũi, chàm, khò khè do cha mẹ báo cáo.
- Kết quả
- Chăn đệm ẩm gặp ở 35,1% nhà, đọng nước trên kính cửa sổ (> 5 cm) 14,3%, mùi mốc 11,6%, mốc nhìn thấy 5,3%. Mốc nhìn thấy liên quan mạnh nhất với viêm mũi do bác sĩ chẩn đoán (OR hiệu chỉnh 2,27; KTC 95% 1,48–3,49). Chăn đệm ẩm liên quan có ý nghĩa với hầu hết triệu chứng hen và dị ứng.
- Hạn chế
- Cắt ngang, phơi nhiễm và kết cục đều tự báo cáo qua bảng hỏi. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; 'chăn đệm ẩm' là chỉ báo rất gần với môi trường ngủ và với hiện tượng nồm ở miền Bắc Việt Nam.
Wang H, Li B, Yang Q, et al. (2013). Dampness in dwellings and its associations with asthma and allergies among children in Chongqing: A cross-sectional study. Chinese Science Bulletin 58:4259–4266. trích từ tóm tắt · doi:10.1007/s11434-013-5774-6
Nam và cs., 2004
Đo thực địa · n = 13 · Hàn Quốc · ôn đới
- Đối tượng
- 13 tình nguyện viên ở Hàn Quốc, mỗi người dùng một gối tổng hợp mới và một gối vỏ kiều mạch mới (26 gối).
- Điều kiện
- Lấy bụi gối lúc mới và sau ba tháng sử dụng tại nhà.
- Đo gì
- Nội độc tố (endotoxin), Der f 1, Der p 1 trong bụi gối.
- Kết quả
- Gối vỏ kiều mạch mới có nội độc tố trung bình hình học 60.950 EU/g so với 4.887 EU/g ở gối tổng hợp (p < 0,001), cao hơn khoảng 12,5 lần và vẫn cao hơn sau ba tháng. Der f 1 sau ba tháng là 1,16 µg/g (kiều mạch) so với 1,08 µg/g (tổng hợp), không khác biệt; Der p 1 không phát hiện.
- Hạn chế
- Mẫu nhỏ, theo dõi ba tháng. Nhận xét biên tập: bài không đề cập độ ẩm; vỏ kiều mạch là vật liệu hữu cơ hút ẩm, liên quan đến bối cảnh nồm nhưng nghiên cứu không kiểm tra điều này.
Nam HS, Park CS, Crane J, Siebers R. Endotoxin and House Dust Mite Allergen Levels on Synthetic and Buckwheat Pillows. J Korean Med Sci 2004;19(4):505–508. trích từ toàn văn · doi:10.3346/jkms.2004.19.4.505
Arlian và cs., 2001
Đo thực địa · Hoa Kỳ · ôn đới
- Đối tượng
- Nhà ở tại vùng khí hậu ôn đới ở Mỹ, chia nhóm có điều hoà/máy hút ẩm và nhóm đối chứng; báo cáo không nêu tổng số nhà trong phần độ ẩm.
- Điều kiện
- Dùng máy hút ẩm và điều hoà để giữ độ ẩm tương đối trong nhà dưới 51%; theo dõi độ ẩm 17 tháng.
- Đo gì
- Số mạt sống trên mỗi gam bụi và nồng độ dị nguyên Der 1.
- Kết quả
- Ở các nhà giữ độ ẩm dưới 51%, số mạt sống trung bình giảm từ 401,2 con/g bụi lúc đầu xuống 8,2 con/g cuối mùa sưởi đầu tiên và 6,7 con/g cuối nghiên cứu; dị nguyên Der 1 giảm từ 17,5 µg/g xuống 4,0 µg/g. Ở 75% RH ổn định, vòng đời mạt là 36,8 ngày; ở 60% RH là 40,4 ngày.
- Hạn chế
- Khí hậu ôn đới có mùa sưởi với độ ẩm trong nhà tự nhiên 25–45% trong 3–5 tháng, khác hẳn Việt Nam. Nhận xét biên tập: đọc qua báo cáo dự án chứ không phải bài báo; DOI ghi theo bài báo trên J Allergy Clin Immunol; ở khí hậu nóng ẩm, giữ độ ẩm dưới 51% quanh năm tốn năng lượng hơn nhiều.
Arlian LG và cộng sự. Báo cáo cuối kỳ dự án EPA NCER (Wright State University, 1996–2000) về giảm độ ẩm tương đối để kiểm soát mạt bụi nhà; kết quả công bố trong Arlian LG, Neal JS, Morgan MS, Vyszenski-Moher DL, Rapp CM, Alexander AK (2001). Reducing relative humidity is a practical way to control dust mites and their allergens in homes in temperate climates. J Allergy Clin Immunol 107(1):99–104. trích từ toàn văn · cfpub.epa.gov
Kemp và cs., 1996
Nghiên cứu cắt ngang · New Zealand · ôn đới
- Đối tượng
- 9 cặp gối (lông vũ và xơ polyester) lấy từ cùng giường, tại New Zealand.
- Điều kiện
- Lấy mẫu bụi gối tháng 12/1995.
- Đo gì
- Dị nguyên Der p I trong bụi gối.
- Kết quả
- Gối polyester có tổng lượng Der p I cao gấp 8,05 lần gối lông vũ (KTC 95% 1,69–38,2; P = 0,015) và gấp 3,57 lần tính trên mỗi gam bụi mịn (KTC 95% 1,13–11,27; P = 0,034). Khối lượng bụi mịn không khác nhau (0,065 g so với 0,060 g).
- Hạn chế
- Mẫu rất nhỏ (9 cặp gối), thư ngắn. Nhận xét biên tập: không đo độ ẩm; đưa vào để cho thấy gối là ổ chứa dị nguyên mạt sát đường thở khi ngủ.
Kemp TJ, Siebers RW, Fishwick D, O'Grady GB, Fitzharris P, Crane J. House dust mite allergen in pillows. BMJ 1996;313(7062):916. trích từ toàn văn · doi:10.1136/bmj.313.7062.916