giacngungon.vnĐo trước khi nói.

Nghiên cứu giấc ngủ: bề mặt nằm

33 nghiên cứu, xếp theo bậc bằng chứng: từ tổng quan và phân tích gộp tới mô hình, vật liệu và tiêu chuẩn. Mỗi bản ghi ghi rõ thiết kế, khí hậu nơi làm và hạn chế.

Chỉ số và hiện tượng nhóm bề mặt nằm →

Tổng quan và phân tích gộp · 6

Li và cs., 2024

Tổng quan hệ thống · 9 nghiên cứu gốc · Úc · nhiều vùng

Đối tượng
9 nghiên cứu gốc so sánh chất lượng giấc ngủ giữa ít nhất hai loại xơ của đồ ngủ hoặc chăn ga, trên người trưởng thành, người lớn tuổi và người trẻ.
Điều kiện
Đồ ngủ cotton, polyester, len, hỗn hợp; chăn cotton, lông vịt, lông ngỗng, polyester, len; ga linen và cotton-polyester.
Đo gì
Chất lượng giấc ngủ (khách quan và chủ quan).
Kết quả
Chỉ 9 nghiên cứu đủ tiêu chí. Ga linen đi kèm chất lượng giấc ngủ tốt hơn ở người trẻ trong điều kiện ấm; chăn lông ngỗng đi kèm tăng giấc ngủ sóng chậm ở người trẻ trong điều kiện mát. Tóm tắt không đưa con số hiệu ứng.
Hạn chế
Tác giả nêu: phương pháp các nghiên cứu khác nhau nhiều nên khó so sánh; cần phương pháp chuẩn hoá, mẫu xơ chuẩn, dân số đa dạng. Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; mỗi kết luận về từng loại xơ dựa trên một vài nghiên cứu nhỏ.

Li X., Halaki M., Chow C.M. How do sleepwear and bedding fibre types affect sleep quality: A systematic review. Journal of Sleep Research (2024). trích từ tóm tắt · doi:10.1111/jsr.14217

Caggiari và cs., 2021

Tổng quan hệ thống · 39 nghiên cứu gốc · Ý · nhiều vùng

Đối tượng
39 nghiên cứu (2000–2019, tiếng Anh, người trên 18 tuổi): 1 tổng quan hệ thống, 7 thử nghiệm ngẫu nhiên, 27 thử nghiệm có đối chứng không ngẫu nhiên, 4 nghiên cứu mô tả. Không có tổng số người tham gia gộp.
Điều kiện
Phân loại nệm theo các nhóm độ cứng của Uỷ ban Tiêu chuẩn hoá châu Âu: mềm, cứng vừa, rất cứng, tuỳ chỉnh; thêm tấm phủ bơm hơi và nệm có đặc tính nhiệt.
Đo gì
Đau lưng, chất lượng giấc ngủ, chất lượng sống.
Kết quả
Tổng quan gom 39 bài và nhận định nệm cứng vừa có nhiều ưu điểm hơn với người đau thắt lưng không đặc hiệu. Các nghiên cứu được dẫn gồm Kovacs (313 người) và Jacobson (59 người; báo cáo đau lưng giảm khoảng 48% và chất lượng giấc ngủ tăng khoảng 55% sau 28 ngày với nệm cứng vừa). Tác giả nhấn mạnh kết quả không đồng nhất và cần thêm nghiên cứu.
Hạn chế
Tác giả nêu: kết quả không đồng nhất, cần thêm nghiên cứu; đa số đánh giá độ cứng theo cảm nhận, chỉ Kovacs dùng thang tiêu chuẩn châu Âu; người tham gia ít được chuẩn hoá về đặc điểm thể chất và sức khoẻ; loại đau thắt lưng xác định kém. Nhận xét biên tập: phần lớn nghiên cứu (27/39) là thử nghiệm không ngẫu nhiên, mức bằng chứng III; sơ đồ chọn bài không giải thích được cách 129 bản còn lại sau loại trùng (323 − 194) được sàng xuống 70 bài đọc toàn văn; không có phân tích gộp định lượng.

Caggiari G, Talesa GR, Toro G, Jannelli E, Monteleone G, Puddu L (2021). What type of mattress should be chosen to avoid back pain and improve sleep quality? Review of the literature. Journal of Orthopaedics and Traumatology 22:51. trích từ toàn văn · doi:10.1186/s10195-021-00616-5

Lei và cs., 2021

Tổng quan · Trung Quốc · nhiều vùng

Đối tượng
Các nghiên cứu 1997–2021 về chiều cao gối (khoảng mười nghiên cứu, bài không nêu tổng số), chủ yếu trên sinh viên trẻ.
Điều kiện
Bốn nhóm chủ đề: thẳng hàng cột sống cổ, kích thước cơ thể, áp lực tiếp xúc, hoạt động cơ.
Đo gì
Chiều cao gối khuyến nghị theo tư thế, góc cột sống cổ, áp lực, điện cơ.
Kết quả
Với tư thế nằm ngửa, một nghiên cứu đề xuất 10 cm và một nghiên cứu khác thấy 7 cm dễ chịu nhất. Với nằm nghiêng, Sacco và cs. thấy gối 10 cm tiện nghi nhất và có điện cơ cổ thấp nhất; điện cơ cao nhất ở 5 cm, tiếp đến 14 cm. Theo Ren và cs., nâng chiều cao gối làm tăng có ý nghĩa áp lực trung bình và áp lực đỉnh ở vùng sọ và cổ.
Hạn chế
Tác giả nêu: chưa có đồng thuận về chiều cao gối tối ưu; không đánh giá chất lượng nghiên cứu; đa số nghiên cứu ngắn hạn; vật liệu và độ cứng gối thường không được mô tả. Nhận xét biên tập: dù có sàng lọc theo PRISMA, bài không nêu tổng số nghiên cứu đưa vào và không gộp số liệu; các con số cm đến từ từng nghiên cứu nhỏ riêng lẻ, chủ yếu trên sinh viên trẻ.

Lei JX, Yang PF, Yang AL, Gong YF, Shang P, Yuan XC. Ergonomic Consideration in Pillow Height Determinants and Evaluation. Healthcare 2021;9(10):1333. trích từ toàn văn · doi:10.3390/healthcare9101333

Pang và cs., 2021

Phân tích gộp · 555 nghiên cứu gốc · Hồng Kông (Trung Quốc) · nhiều vùng

Đối tượng
35 bài đạt tiêu chí; 9 nghiên cứu chất lượng cao (tổng 555 người, chủ yếu người đau cổ mạn tính) đưa vào phân tích gộp.
Điều kiện
So sánh các thiết kế gối (gối cao su, gối lò xo, gối lông vũ…) trong thử nghiệm lâm sàng.
Đo gì
Đau cổ, triệu chứng khi thức dậy, tàn tật vùng cổ, hài lòng với gối, chất lượng giấc ngủ, độ thẳng hàng cột sống.
Kết quả
Gối cao su đi kèm đau cổ thấp hơn (SMD −0,263; p<0,001), đau khi thức dậy thấp hơn (SMD −0,228; p<0,001) và tàn tật vùng cổ thấp hơn (SMD −0,506; p=0,020); mức hài lòng cao hơn (SMD 1,144; p<0,001). Thiết kế gối không ảnh hưởng chất lượng giấc ngủ (SMD 0,047; p=0,703).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc được tóm tắt; các hệ số SMD về đau là nhỏ; đối tượng chủ yếu là người đã đau cổ mạn tính nên không áp dụng trực tiếp cho người không có triệu chứng; 'gối cao su' là nhóm gộp, không nêu rõ độ cao gối.

Pang JCY, Tsang SMH, Fu ACL (2021). The effects of pillow designs on neck pain, waking symptoms, neck disability, sleep quality and spinal alignment in adults: a systematic review and meta-analysis. Clinical Biomechanics 85:105353. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.clinbiomech.2021.105353

Wong và cs., 2019

Tổng quan · 18 nghiên cứu gốc · Hồng Kông (Trung Quốc) · nhiều vùng

Đối tượng
18 bài báo (2008–2018) dùng phương pháp cơ sinh học đánh giá nệm; cỡ mẫu từng nghiên cứu từ 3 đến 200 người, đa số là người trẻ khoẻ mạnh.
Điều kiện
Áp lực tiếp xúc cơ thể–nệm, độ thẳng hàng cột sống, mô hình phần tử hữu hạn.
Đo gì
Các chỉ số đánh giá nệm: áp lực, góc cột sống.
Kết quả
Một nghiên cứu được dẫn ghi nhận nệm latex giảm áp lực đỉnh tới 35,1% so với nệm polyurethane. Một nghiên cứu khác cho thấy nệm phân vùng tuỳ chỉnh cho góc ngực–thắt lưng nhỏ nhất (4,10°, so với 8,9° ở nệm cứng và 12,66° ở nệm mềm). Một số nghiên cứu dùng ngưỡng áp lực 30–40 mmHg cho vùng chẩm và đề xuất thêm lớp topper mềm khi có hơn ba điểm vượt 60 mmHg; bài tổng quan đặt câu hỏi liệu ngưỡng này có áp dụng cho thân mình hay không.
Hạn chế
Tác giả nêu: không đánh giá chất lượng phương pháp của các nghiên cứu; sàng lọc thủ công khó lặp lại; không nghiên cứu nào so sánh giới; mẫu nệm thường được mô tả mơ hồ. Nhận xét biên tập: các ngưỡng mmHg dẫn lại từ nghiên cứu khác, chưa được chuẩn hoá thành tiêu chuẩn.

Wong DWC, Wang Y, Lin J, Tan Q, Chen TLW, Zhang M. Sleeping mattress determinants and evaluation: a biomechanical review and critique. PeerJ 2019;7:e6364. trích từ toàn văn · doi:10.7717/peerj.6364

Radwan và cs., 2015

Tổng quan hệ thống · 24 nghiên cứu gốc · Hoa Kỳ · nhiều vùng

Đối tượng
24 thử nghiệm có đối chứng công bố từ năm 2000, trên người trưởng thành có hoặc không có đau lưng.
Điều kiện
Nệm được phân loại theo cảm nhận: mềm, cứng vừa, cứng, bơm hơi tuỳ chỉnh; có gồm các nghiên cứu về nhiệt độ nệm.
Đo gì
Tiện nghi khi ngủ, chất lượng giấc ngủ, đau, độ thẳng hàng cột sống.
Kết quả
24 bài đạt tiêu chí, chất lượng phương pháp ở mức trung bình đến cao theo thang PEDro. Tác giả kết luận nệm cứng vừa, bơm hơi tự điều chỉnh là tối ưu cho tiện nghi, chất lượng giấc ngủ và độ thẳng hàng cột sống; bằng chứng chưa đủ để xác định nhiệt độ nệm lý tưởng, dù tác giả vẫn khuyến nghị nhiệt độ ấm.
Hạn chế
Phân loại độ cứng là chủ quan. Nhận xét biên tập: chỉ đọc được tóm tắt; không có phân tích gộp định lượng; khuyến nghị về nhiệt độ ấm của tác giả không áp dụng trực tiếp cho phòng ngủ nóng ẩm ở Việt Nam.

Radwan và cs. (2015). Effect of different mattress designs on promoting sleep quality, pain reduction, and spinal alignment in adults with or without back pain: systematic review of controlled trials. Sleep Health 1(4):257–267. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.sleh.2015.08.001

Thử nghiệm có đối chứng · 11

Thử nghiệm topper dẫn nhiệt, 2026

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 15 · Không rõ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
15 người trẻ khoẻ mạnh, hoạt động thể lực.
Điều kiện
Ngẫu nhiên, mù đôi, chéo: topper dẫn nhiệt cao so với nệm đối chứng, 2 đêm ở 22 °C và 2 đêm ở 32 °C trong phòng điều nhiệt; đo đa ký giấc ngủ, nhiệt độ lõi, nhiệt độ da và bề mặt nệm.
Đo gì
Tổng thời gian ngủ, hiệu suất giấc ngủ, giấc ngủ REM và N3, thức giữa đêm.
Kết quả
Phòng 32 °C so với 22 °C làm tổng thời gian ngủ giảm 24,8 ± 7,1 phút (p=0,02). Ở 32 °C, topper dẫn nhiệt cao làm tổng thời gian ngủ tăng 21,4 ± 16,1 phút so với nệm đối chứng (p=0,04), kèm hiệu suất giấc ngủ và thời lượng REM cao hơn (p=0,04 và 0,03). Ở 22 °C, tổng thời gian ngủ không khác, N3 dài hơn (p=0,03).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt qua trang tổng hợp PubMed; không xác định được danh sách tác giả, quốc gia và nguồn tài trợ; mẫu nhỏ, mỗi điều kiện một đêm; không rõ độ ẩm phòng. Đây là một trong số ít nghiên cứu nệm ở 32 °C, gần điều kiện phòng không điều hoà mùa nóng ở Việt Nam.

(2026). Protective Effect of a High Heat Conductivity Mattress Topper on Sleep During Heat Night. Journal of Sleep Research. PMID 40704570. trích từ tóm tắt · guidelinecentral.com

Stevenson và cs., 2025

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 34 · Úc · ôn đới

Đối tượng
34 người trưởng thành khoẻ mạnh, hoạt động thể lực (20 nữ, 14 nam), khoảng 30 tuổi.
Điều kiện
Ngẫu nhiên, đối trọng, chéo tại nhà: 7 đêm bật chức năng điều nhiệt của tấm phủ nệm dùng nước (khoảng 13–43 °C) và 7 đêm tắt; phòng trung bình 21 ± 3 °C, độ ẩm 60 ± 7%.
Đo gì
Giấc ngủ đo bằng vòng đeo tay, nhịp tim, biến thiên nhịp tim, đánh giá chủ quan hằng ngày và hằng tuần.
Kết quả
Chất lượng giấc ngủ tự đánh giá hằng tuần tăng rõ khi bật điều nhiệt (p=0,001; d=0,92); tiện nghi nhiệt hằng ngày cũng tốt hơn (F=41,53; p<0,001). Các chỉ số khách quan (tổng thời gian ngủ, thức giữa đêm, độ trễ vào giấc, hiệu suất giấc ngủ) không khác biệt có ý nghĩa.
Hạn chế
Tác giả nêu: chỉ 7 đêm mỗi điều kiện; không đo vi khí hậu giường, nhiệt độ lõi hay da; người tham gia biết mình đang ở điều kiện nào nên có thể có hiệu ứng kỳ vọng; phòng khoảng 21 °C nên có thể không áp dụng cho phòng nóng. Nhận xét biên tập: cải thiện chủ yếu ở cảm nhận, không thấy trên số đo khách quan.

Stevenson S, Suppiah H, Mündel T, Driller M (2025). Under the Covers: The Effect of a Temperature-Controlled Mattress Cover on Sleep and Perceptual Measures in Healthy Adults. Clocks & Sleep 7(4):55. trích từ toàn văn · doi:10.3390/clockssleep7040055

Wei và cs., 2023

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 20 · Trung Quốc

Đối tượng
20 sinh viên khoẻ mạnh (10 nam, 10 nữ), 22,1 ± 1,25 tuổi; phân tích 79 đêm.
Điều kiện
Bốn đêm liên tiếp đo đa ký, xen kẽ nệm hơi ba vùng tự điều chỉnh áp lực mỗi 5 phút và nệm foam/xơ dừa thông thường, thứ tự đối trọng. Không báo cáo nhiệt độ phòng.
Đo gì
Tổng thời gian ngủ, hiệu suất giấc ngủ, tỉ lệ các giai đoạn ngủ, biến thiên nhịp tim.
Kết quả
Ở nữ, nệm hơi đi kèm tổng thời gian ngủ dài hơn (p=0,035), chất lượng tự đánh giá cao hơn (p=0,025) và hiệu suất giấc ngủ cao hơn (B=2,666; p=0,033). Ở nam không thấy khác biệt chủ quan có ý nghĩa.
Hạn chế
Tác giả nêu: mỗi người chỉ một sơ đồ thứ tự; chỉ 4 đêm; người trẻ khoẻ, phạm vi tuổi và BMI hẹp. Một tác giả làm việc cho công ty nệm cung cấp thiết bị. Nhận xét biên tập: phân tích theo giới là khám phá, cỡ mẫu mỗi giới chỉ 10 người.

Wei Y, Zhu Y, Zhou Y, Yu X, Lin H, Ruan L, Lei H, Luo Y (2023). Investigating the influence of an adjustable zoned air mattress on sleep: a multinight polysomnography study. Frontiers in Neuroscience 17:1160805. trích từ toàn văn · doi:10.3389/fnins.2023.1160805

Kayaba và cs., 2019

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 10 · Nhật Bản

Đối tượng
10 nam trẻ khoẻ mạnh, không hút thuốc, 21–28 tuổi (11 người tuyển, loại 1).
Điều kiện
Ngẫu nhiên, chéo trong phòng ngủ thí nghiệm: nệm polyurethane cấu trúc 3D bốn lớp so với nệm đối chứng bằng xơ polyester đặc; đo đa ký giấc ngủ.
Đo gì
Cấu trúc giấc ngủ, số và độ dài các đợt ngủ sóng chậm, mật độ công suất delta, đánh giá chủ quan.
Kết quả
Số đợt ngủ sóng chậm ít hơn với nệm chức năng (10,3 ± 1,8 so với 16,9 ± 1,2; p=0,022) và mỗi đợt dài hơn (10,9 ± 1,7 so với 5,6 ± 0,5 phút; p=0,013). Tổng thời gian ngủ sóng chậm (91,3 so với 94,5 phút), hiệu suất giấc ngủ (96,8% so với 97,1%) và độ trễ vào giấc không khác biệt.
Hạn chế
Tác giả nêu: mẫu rất nhỏ, cần nghiên cứu lớn hơn; môi trường phòng không được đo đầy đủ. Công ty sản xuất nệm chức năng tài trợ. Nhận xét biên tập: nệm chức năng cũng mềm hơn và khác khối lượng riêng nên không quy được tác động riêng cho việc phân tán áp lực; chỉ số 'độ liên tục sóng chậm' chưa được kiểm định.

Kayaba M, Ogata H, Park I, Ishihara A, Kawana F, Kokubo T, Fukusumi S, Hayashi M, Tokuyama K, Yanagisawa M, Satoh M (2019). Improvement of slow wave sleep continuity by mattress with better body pressure dispersal. Sleep Medicine Research 10(2):75–82. trích từ toàn văn · doi:10.17241/smr.2019.00423

Chiba và cs., 2018

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 30 · Nhật Bản · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Nam khoẻ mạnh: 10 người trẻ (26,7 ± 7,7 tuổi) và 20 người lớn tuổi (61,2 ± 3,2 tuổi); thêm 8 sinh viên nam trong phần đo điện cơ ban ngày.
Điều kiện
Ngẫu nhiên, mù đơn, chéo: topper đàn hồi cao (sợi nhựa polyethylene) so với topper memory foam đàn hồi thấp, dày khoảng 3,5 cm; nhiệt độ phòng khoảng 25–26 °C lúc tắt đèn; đo đa ký giấc ngủ.
Đo gì
Nhiệt độ lõi cơ thể, công suất sóng delta, độ trễ vào giấc, điện cơ khi trở mình.
Kết quả
Nhiệt độ lõi tối thiểu ở nhóm trẻ là 36,05 °C với topper đàn hồi cao so với 36,35 °C với memory foam theo tóm tắt (phần kết quả ghi giá trị tối thiểu của memory foam là 36,15 °C). Công suất delta đầu đêm tăng 27,8% ở người trẻ và 24,7% ở người lớn tuổi. Độ trễ vào giấc không khác biệt có ý nghĩa (người trẻ 7,15 so với 9,10 phút). Điện cơ khi trở mình thấp hơn 53,0–66,1% (p<0,05 ở 3/4 cơ).
Hạn chế
Tác giả nêu: mẫu nhỏ và hai nhóm không đều (10 so với 20 người); nhiệt độ phòng cao (25–26 °C lúc tắt đèn); chưa đo chênh lệch nhiệt độ da xa–gần; hoạt động cơ khi trở mình đo trong thí nghiệm ban ngày riêng, không đo trong lúc ngủ. Nghiên cứu do nhà sản xuất topper đàn hồi cao (airweave) tài trợ. Nhận xét biên tập: chỉ có nam giới; phòng nóng nên kết quả có thể không áp dụng cho phòng mát hơn; số liệu nhiệt độ lõi và công suất delta không thống nhất giữa tóm tắt và phần kết quả (phần kết quả ghi công suất delta ở người lớn tuổi cao hơn 17%).

Chiba S, Yagi T, Ozone M, Matsumura M, Sekiguchi H, Ganeko M, Uchida S, Nishino S (2018). High rebound mattress toppers facilitate core body temperature drop and enhance deep sleep in the initial phase of nocturnal sleep. PLOS ONE 13(6):e0197521. (Nghiên cứu do nhà sản xuất tấm topper đàn hồi cao tài trợ.) trích từ toàn văn · doi:10.1371/journal.pone.0197521

Kräuchi và cs., 2018

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 15 · Ý · phòng thí nghiệm

Đối tượng
15 nam trẻ khoẻ mạnh hoàn thành (26,9 ± 2,1 tuổi), từ 28 người sàng lọc.
Điều kiện
Ngẫu nhiên, mù đơn, chéo: nệm nhiệt dung cao (lớp mặt polyurethane, khối lượng riêng 1006 kg/m³) so với nệm foam nhiệt dung thấp (80 kg/m³); phòng khoảng 23 °C, 45–55% RH; đo đa ký giấc ngủ.
Đo gì
Nhiệt độ lõi, nhiệt độ da lưng, nhiệt độ bề mặt nệm, giấc ngủ sóng chậm (N3), tiện nghi chủ quan.
Kết quả
Trên nệm nhiệt dung cao, nhiệt độ lõi trung bình 8 giờ giảm 0,163 ± 0,035 °C (p=0,0001) và nhiệt độ da lưng giảm 0,74 °C (p=0,0007). Tỉ lệ giấc ngủ sóng chậm tăng từ 23,1% lên 26,8% (tăng 16%, p<0,05); tiện nghi chủ quan 78 so với 74 mm.
Hạn chế
Tác giả nêu: cần mẫu lớn hơn nên phân tích hồi quy chỉ mang tính sơ bộ; nhiệt độ da chỉ là thước đo gián tiếp của lưu lượng máu và mất nhiệt; chỉ đo vào tháng 11–12, mùa khác có thể khác. Technogel Italia (công ty sản xuất vật liệu nệm) tài trợ không điều kiện cho khoa của nhóm nghiên cứu. Nhận xét biên tập: mẫu nhỏ, chỉ nam trẻ; toàn văn đọc từ bản PDF lưu trên máy chủ của một nhà bán lẻ; phòng 23 °C mát hơn phòng ngủ Việt Nam mùa nóng.

Kräuchi K, Fattori E, Giordano A, Falbo M, Iadarola A, Aglì F, Tribolo A, Mutani R, Cicolin A (2018). Sleep on a high heat capacity mattress increases conductive body heat loss and slow wave sleep. Physiology & Behavior 185:23–30. trích từ toàn văn · doi:10.1016/j.physbeh.2017.12.014

Shin và cs., 2016

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 17 · Úc · phòng thí nghiệm

Đối tượng
17 người trẻ khoẻ mạnh (10 nam, 7 nữ), 24,6 ± 6,9 tuổi.
Điều kiện
Thiết kế giai thừa 2×2×2: đồ ngủ cotton hoặc len, chăn polyester hoặc len, nhiệt độ phòng 17 °C hoặc 22 °C, độ ẩm khoảng 60%; 8 điều kiện theo thứ tự ngẫu nhiên, đo đa ký giấc ngủ.
Đo gì
Độ trễ vào giấc, thời gian ngủ, hiệu suất giấc ngủ, tỉ lệ các giai đoạn ngủ.
Kết quả
Loại chăn (polyester so với len) không ảnh hưởng có ý nghĩa tới bất kỳ biến giấc ngủ nào (p ≥ 0,14). Ở 17 °C, đồ ngủ len cho độ trễ vào giấc 9,9 ± 6,6 phút so với 18,1 phút với cotton (p=0,006).
Hạn chế
Tác giả nêu: không ghi nhận nhiệt độ và độ ẩm vi khí hậu trong giường; phương pháp đo độ dày và nhiệt trở của chăn chưa tin cậy với vật liệu chần bông có độ dày không đều; không đánh giá cảm giác nhiệt cục bộ và cử động cơ thể khi ngủ; đồ ngủ thường ngày của người tham gia có thể khác đồ ngủ thử nghiệm. Nghiên cứu do Australian Wool Innovation tài trợ, hai tác giả là nhân viên của tổ chức này. Nhận xét biên tập: mẫu nhỏ (17 người), chỉ người trẻ khoẻ; hai mức nhiệt 17 °C và 22 °C thấp hơn nhiều so với phòng ngủ Việt Nam mùa nóng.

Shin M., Halaki M., Swan P., Ireland A., Chow C.M. The effects of fabric for sleepwear and bedding on sleep at ambient temperatures of 17°C and 22°C. Nature and Science of Sleep 2016;8:121–131 (tài trợ: Australian Wool Innovation). trích từ toàn văn · doi:10.2147/NSS.S100271

Jeon và cs., 2014

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 20 · Hàn Quốc

Đối tượng
20 người khoẻ mạnh (10 nam, 10 nữ), 21–30 tuổi.
Điều kiện
Mỗi người thử ba gối, nằm ngửa 30 phút mỗi gối: gối lông vũ, gối memory foam, gối chỉnh hình.
Đo gì
Đường cong cột sống cổ, mức tăng nhiệt độ gối, tiện nghi (thang VAS).
Kết quả
Gối chỉnh hình cho đường cong cổ cao hơn có ý nghĩa so với hai gối còn lại (p<0,001) và mức tăng nhiệt độ gối thấp hơn có ý nghĩa so với memory foam và lông vũ (p<0,001). Tóm tắt không công bố giá trị nhiệt độ cụ thể.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; mỗi gối chỉ thử 30 phút khi nằm ngửa, không phải cả đêm; mẫu nhỏ, người trẻ; quốc gia suy ra từ cơ quan tác giả (Hàn Quốc).

Jeon MY, Jeong H, Lee S, Choi W, Park JH, Tak SJ, Choi DH, Yim J. Improving the Quality of Sleep with an Optimal Pillow: A Randomized, Comparative Study. Tohoku J Exp Med 2014;233(3):183–188. trích từ tóm tắt · doi:10.1620/tjem.233.183

Gordon và cs., 2011

Thực nghiệm chéo có đối chứng · n = 95 · Úc

Đối tượng
95 người trên 18 tuổi ngủ nghiêng; số phân tích mỗi gối 91–95.
Điều kiện
Trong phòng thí nghiệm, mỗi người tự làm đối chứng, thứ tự gối ngẫu nhiên: polyester, foam thường, foam định hình, lông vũ, latex; nằm nghiêng phải trên nệm lò xo, chụp ảnh ở phút 0 và 10.
Đo gì
Độ dốc từng đoạn cột sống cổ–ngực (EOP-C2, C2-C4, C4-C7, C7-T3).
Kết quả
Độ dốc các đoạn EOP-C2, C2-C4 và C4-C7 khác nhau có ý nghĩa giữa các gối ở cả phút 0 và phút 10. Gối lông vũ cho độ dốc C2-C4 dương nhất (trung bình 0,015 ở phút 0) so với khoảng −0,144 của foam định hình. Foam thường và foam định hình cho độ dốc tương tự.
Hạn chế
Tác giả nêu: người tham gia nằm nghỉ chứ không ngủ; thời gian ổn định 10 phút dựa trên giường khám cứng, có thể không phù hợp với nệm lò xo mềm hơn; không kiểm soát vị trí xương bả vai; chỉ đo trên mặt phẳng đứng dọc. Gối do nhà sản xuất (Dentons, Tontine) cung cấp, ngoài ra nghiên cứu không có tài trợ. Nhận xét biên tập: chỉ nằm nghiêng phải; chỉ thử một độ sâu gối định hình (tác giả đề xuất nghiên cứu thêm); không đo đau hay giấc ngủ nên không suy ra được tác động lâm sàng.

Gordon S, Grimmer-Somers K, Trott P. A randomized, comparative trial: does pillow type alter cervico-thoracic spinal posture when side lying? Journal of Multidisciplinary Healthcare 2011;4:321–327. trích từ toàn văn · doi:10.2147/JMDH.S23028

Gordon và cs., 2010

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 106 · Úc · ôn đới

Đối tượng
106 người trưởng thành ngủ nghiêng, dùng một gối, không đang khám chữa vấn đề cổ hay lưng trên; 7 người rút lui hoàn toàn.
Điều kiện
Thử nghiệm tại nhà, phân bổ ngẫu nhiên theo khối, có làm mù: năm gối (polyester, foam thường, foam định hình, lông vũ, latex) mỗi loại 7 đêm, xen tuần dùng gối của mình.
Đo gì
Cứng cổ, đau đầu, đau vai/cánh tay khi thức dậy (nhật ký hằng ngày).
Kết quả
Tuần nền với gối của mình: 33,9% có cứng cổ, 19,6% đau đầu, 17,9% đau vai/cánh tay khi thức dậy. Gối lông vũ cho kết quả kém nhất (OR cứng cổ 2,0; KTC 95% 1,0–4,2 so với gối của mình). Gối latex cho kết quả tốt nhất; so với gối polyester, OR đau đầu là 0,3 (KTC 95% 0,1–0,8). Gối foam định hình không tốt hơn foam thường.
Hạn chế
Tác giả nêu: không làm mù hoàn toàn được vì hình dạng và cảm giác gối; kết cục tự báo cáo hằng ngày; ít thông tin về gối của chính người tham gia nên đối chứng này chưa chuẩn; có thể có thiên lệch kỳ vọng khi báo cáo triệu chứng. Nhận xét biên tập: người tham gia khoẻ mạnh, không có bệnh lý cổ vai đang theo dõi, nên chưa áp dụng thẳng cho người đã có triệu chứng; mỗi gối chỉ dùng 7 đêm; tỉ lệ hoàn thành với gối lông vũ chỉ 67,3%; tóm tắt ghi khoảng 20% có triệu chứng ở tuần nền trong khi phần kết quả cho cứng cổ 33,9%.

Gordon SJ, Grimmer-Somers KA, Trott PH. Pillow use: the behavior of cervical stiffness, headache and scapular/arm pain. Journal of Pain Research 2010;3:137–145. trích từ toàn văn · pmc.ncbi.nlm.nih.gov

Kovacs và cs., 2003

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng · n = 313 · Tây Ban Nha · ôn đới

Đối tượng
313 người trưởng thành đau thắt lưng mạn tính không đặc hiệu, không có đau lan, đều đau lưng khi nằm và khi thức dậy.
Điều kiện
Phân ngẫu nhiên, mù đôi: nệm cứng (H(s) 2,3) so với nệm cứng vừa (H(s) 5,6) theo thang độ cứng tiêu chuẩn châu Âu; theo dõi 90 ngày.
Đo gì
Đau khi nằm trên giường, đau khi thức dậy và mức tàn tật do đau lưng.
Kết quả
Sau 90 ngày, nhóm nệm cứng vừa có kết cục tốt hơn nhóm nệm cứng về đau khi nằm (OR 2,36; KTC 95% 1,13–4,93) và mức tàn tật (OR 2,10; KTC 95% 1,24–3,56). Với đau khi thức dậy tại ngày 90, OR là 1,93 (KTC 95% 0,97–3,86); khoảng tin cậy chứa 1 nên chưa có ý nghĩa thống kê.
Hạn chế
Đối tượng là người đã có đau thắt lưng mạn tính, không phải người khoẻ mạnh nói chung. Thời gian theo dõi 90 ngày. Nhận xét biên tập: chỉ so hai mức độ cứng cụ thể (H(s) 2,3 và 5,6) nên không xác định được độ cứng tối ưu cho từng người; nghiên cứu thực hiện ở Tây Ban Nha, không đo vi khí hậu giường nên không cho biết gì về nệm trong khí hậu nóng ẩm.

Kovacs FM và cộng sự (2003). Effect of firmness of mattress on chronic non-specific low-back pain: randomised, double-blind, controlled, multicentre trial. The Lancet. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/S0140-6736(03)14792-7

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · 6

Bhadra và cs., 2026

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 17 · Anh · phòng thí nghiệm

Đối tượng
17 người trưởng thành.
Điều kiện
Ba điều kiện: ngủ tại nhà mùa hè; phòng thử 30 °C với chăn ga thường; phòng thử 30 °C với topper làm mát. Đo giấc ngủ bằng thiết bị đeo tay, đánh giá tiện nghi.
Đo gì
Tổng thời gian ngủ, thời gian vào giấc, tiện nghi.
Kết quả
Trong phòng 30 °C, topper làm mát làm tổng thời gian ngủ trung bình tăng 19 phút và thời gian vào giấc trung bình giảm 10 phút so với chăn ga thường.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc thông cáo báo chí, chưa đọc được bài báo (ScienceDirect không truy cập được); không rõ thiết kế ngẫu nhiên, độ ẩm phòng, p-value; đo bằng thiết bị đeo tay; mẫu nhỏ. Các con số lấy từ thông cáo báo chí, chưa đối chiếu được với bảng số liệu trong bài; phần tóm tắt của bài được ghi ở bản ghi Bhadra và cs., 2026 trong nhóm Nhiệt.

Bhadra J, Beizaee A, Hartescu I và cs. (2026). The effects of bed cooling on sleep quality and sleep thermal comfort in overheated bedrooms. Building and Environment 291:114213. Số liệu trong bản ghi này lấy từ thông cáo báo chí của Loughborough University ngày 29/5/2026. trích từ tóm tắt · lboro.ac.uk

Weaver và cs., 2025

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 64 · Hoa Kỳ · ôn đới

Đối tượng
64 người tự thấy nóng khi ngủ và có điều hoà (89% nữ, tuổi trung bình 48), khu vực Boston, tháng 6–10/2024.
Điều kiện
Trước–sau, không ngẫu nhiên, không làm mù: 2 tuần nền rồi 4 tuần dùng ga cotton 100% xử lý hoàn tất 'làm mát'. Không đo nhiệt độ phòng.
Đo gì
Điểm PSQI, khó ngủ vì nóng, thời lượng ngủ, độ trễ vào giấc, hiệu suất giấc ngủ (tự báo cáo).
Kết quả
Điểm PSQI giảm từ 8,0 xuống 6,1 (thay đổi 1,94; KTC 95% 1,31–2,56; p<0,001). Tỉ lệ khó ngủ vì nóng ít nhất hằng tuần giảm từ 82,5% xuống 39,7%. Thời lượng ngủ tự báo cáo tăng 26 phút (KTC 95% 14–38); hiệu suất giấc ngủ 81,6% → 84,1% (p=0,08, không có ý nghĩa).
Hạn chế
Tác giả nêu: không có nhóm đối chứng, không làm mù; người tham gia vốn quan tâm mua sản phẩm và được tuyển qua cộng đồng của hãng; chỉ một sản phẩm; mẫu không đại diện; tự báo cáo. Nhà sản xuất tài trợ và hoàn tiền mua ga. Nhận xét biên tập: thiết kế này không tách được hiệu ứng kỳ vọng và biến động theo mùa.

Weaver MD, Qadri S, Ejikeme C, Quan SF, Czeisler CA, Robbins R (2025). A non-randomized pre-post pilot study of cooling bed sheets in hot sleeping people. Frontiers in Sleep 4:1587801. trích từ toàn văn · doi:10.3389/frsle.2025.1587801

Li và cs., 2020

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · Không rõ

Đối tượng
Người tham gia thí nghiệm ngủ; tóm tắt không nêu số lượng.
Điều kiện
So sánh bốn nệm trong thời tiết nóng: nệm có ống nước tuần hoàn, nệm có đệm nước liền khối, nệm vải lưới 3D (air mesh) và nệm cao su foam thông thường.
Đo gì
Tiện nghi nhiệt, nhiệt độ bề mặt tiếp xúc người–nệm, vi khí hậu giường, chất lượng giấc ngủ.
Kết quả
Khoảng nhiệt độ thấy dễ chịu là 32,3–33,8 °C tại bề mặt tiếp xúc người–nệm và 32,8–33,6 °C cho vi khí hậu giường. Các nệm điều nhiệt làm mát tốt hơn nệm cao su foam; nệm đệm nước khiến người dùng thấy hơi lạnh và hơi ẩm.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc được tóm tắt; không rõ cỡ mẫu, quốc gia và điều kiện phòng; khoảng nhiệt độ dễ chịu được suy ra từ thí nghiệm của nhóm tác giả, chưa phải ngưỡng chuẩn.

Li X, Shen L, Califano R. The comparative study of thermal comfort and sleep quality for innovative designed mattress in hot weather. Science and Technology for the Built Environment 2020;26(5):643–657. trích từ tóm tắt · doi:10.1080/23744731.2020.1720445

Kim và cs., 2018

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 35 · Hàn Quốc

Đối tượng
35 người tham gia.
Điều kiện
Bốn loại nệm: latex, memory foam, polyurethane loại mềm và polyurethane loại cứng; ba tư thế: nằm ngửa, nghiêng trái, nghiêng phải.
Đo gì
Áp lực cơ thể trung bình và đỉnh, tiện nghi chủ quan.
Kết quả
Áp lực trung bình khác biệt có ý nghĩa giữa các nệm; ở tư thế nằm ngửa memory foam cho áp lực trung bình thấp nhất và polyurethane cứng cho áp lực cao nhất. Memory foam cũng có áp lực đỉnh thấp hơn có ý nghĩa so với ba nệm còn lại. Tóm tắt không công bố giá trị áp lực.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc được tóm tắt, không có giá trị mmHg hay kPa; đo trong thời gian nằm ngắn, không đo giấc ngủ; không đo nhiệt độ hay độ ẩm bề mặt nên không cho biết memory foam nóng hơn hay không.

Kim Y.-H., Cheng H.-I. A Comparative Study on Body Pressure and Subjective Comfort for the Mattress Forms. Journal of the Ergonomics Society of Korea 2018;37(1):75–82. trích từ tóm tắt · doi:10.5143/JESK.2018.37.1.75

Keller và cs., 2005

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · n = 20 · Hà Lan

Đối tượng
20 tình nguyện viên khoẻ mạnh (7 nam, 13 nữ), 20–56 tuổi, BMI trung bình 24.
Điều kiện
Nằm ngửa 5 phút trên mỗi bề mặt theo thứ tự cố định: tấm nệm phủ lõi foam 5 cm, nệm chân không, ván cứng cột sống; thảm đo áp lực 6912 cảm biến.
Đo gì
Áp lực tiếp xúc đỉnh (mmHg) ở bả vai, xương cùng, gót chân; tiện nghi.
Kết quả
Áp lực đỉnh ở xương cùng là 118,0 mmHg trên nệm foam, 165,6 trên nệm chân không và 174,9 trên ván cứng; ở bả vai lần lượt 89,9; 131,6 và 176,6 mmHg. Điểm tiện nghi 7,0 (foam), 6,6 (chân không) và 4,6 (ván cứng).
Hạn chế
Tác giả nêu: áp lực bề mặt da có thể không phản ánh áp lực mô sâu. Nhận xét biên tập: bối cảnh cấp cứu chấn thương, chỉ nằm 5 phút, thứ tự cố định; dùng làm mốc tham chiếu về độ lớn áp lực tiếp xúc, không phải so sánh nệm gia dụng.

Keller BPJA, Lubbert PHW, Keller E, Leenen LPH. Tissue-interface pressures on three different support surfaces for trauma patients. Injury 2005;36(8):946–948. (Bản lưu tại kho Đại học Utrecht.) trích từ toàn văn · dspace.library.uu.nl

Kawabata và cs., 1996

Thực nghiệm không ngẫu nhiên · Nhật Bản · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Người tham gia trưởng thành; tóm tắt không nêu số lượng.
Điều kiện
Gối A có chất làm mát (natri sulfat và sợi gốm) so với gối B nhồi xơ polyester; phòng 27 ± 1 °C, độ ẩm 55 ± 5%; pyjama cotton mỏng, nằm trên đệm cotton, đắp chăn cotton, 22:30–6:30.
Đo gì
Nhiệt độ trực tràng, nhiệt độ da trán, lòng bàn tay, đùi, nhịp tim, cảm nhận giấc ngủ.
Kết quả
Trong nửa sau của đêm, nhiệt độ trực tràng, nhiệt độ da trán và nhịp tim thấp hơn có ý nghĩa với gối làm mát; nhiệt độ da lòng bàn tay và đùi cao hơn. Tất cả người tham gia đánh giá gối làm mát tốt hơn cho giấc ngủ sâu (tự cảm nhận).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; không rõ cỡ mẫu (nhiều khả năng rất nhỏ); không đo đa ký giấc ngủ; người tham gia có thể nhận ra gối nào làm mát; nghiên cứu cũ (1996).

Kawabata A, Tokura H (1996). Effects of Two kinds of Pillow on Thermoregulatory Responses during Night Sleep. Applied Human Science 15(4):155–159. trích từ tóm tắt · doi:10.2114/jpa.15.155

Nghiên cứu quan sát · 1

Bai và cs., 2024

Nghiên cứu cắt ngang · n = 400 · Trung Quốc

Đối tượng
400 người (23–35 tuổi, tuổi trung bình 28,3; 64% nam; BMI trung bình 22,4), tuyển thuận tiện tại một khu công nghiệp.
Điều kiện
Phòng thí nghiệm giấc ngủ ở Tuyền Châu (Phúc Kiến), 3–4/2023; giường thông minh nguyên mẫu với bốn tấm điều chỉnh; mỗi người trải nghiệm một cấu hình tư thế trong 30 phút; thảm đo áp lực 8.064 điểm.
Đo gì
Tiện nghi cảm nhận (thang −3 đến +3) toàn thân và từng vùng; áp lực cơ thể trung bình và đỉnh.
Kết quả
Tiện nghi toàn thân và vùng lưng tương quan nghịch với áp lực trung bình và áp lực đỉnh. Trong hồi quy hiệu chỉnh, áp lực trung bình có ý nghĩa với tiện nghi vùng mông–đùi (t = −2,207; p = 0,028); tiện nghi bắp chân không liên quan áp lực.
Hạn chế
Tác giả nêu: mẫu nhỏ, chọn thuận tiện nên hạn chế khái quát hoá; biến khảo sát chưa đầy đủ do giới hạn thời gian và kinh phí; nên đo tiện nghi và khó chịu bằng thang riêng; cần nghiên cứu dài hạn với dải tuổi, địa lý, học vấn rộng hơn. Nhận xét biên tập: chỉ một giường nguyên mẫu, mỗi người một cấu hình trong 30 phút; nghiên cứu không thay đổi độ mềm nệm hay vật liệu chăn ga dù phần bàn luận đề cập; tuyển 420 người, 408 đủ điều kiện, loại 8 người thiếu dữ liệu còn 400.

Bai X, Liu Y, Dai Z, Chen Y, Fang P, Ma J. Determinants of perceived comfort: multi-dimensional thinking in smart bedding design. Sensors 2024;24(13):4058. trích từ toàn văn · doi:10.3390/s24134058

Mô hình, vật liệu và tiêu chuẩn · 9

Akimoto và cs., 2025

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Đan Mạch · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Manikin nhiệt; 84 điều kiện thử.
Điều kiện
Hai loại chăn (chăn mỏng và chăn bông/duvet), hai mức quần áo (không mặc và pyjama), bốn tỉ lệ che phủ cơ thể (23,3–94,1%), tư thế nằm ngửa và nghiêng, nhiệt độ không khí 18,6 / 22,6 / 26,4 °C.
Đo gì
Tổng cách nhiệt của hệ chăn ga (IT), nhiệt độ tương đương.
Kết quả
Tổng cách nhiệt của các hệ chăn ga đo được nằm trong khoảng 1,06 đến 5,71 clo. Cùng một giá trị cách nhiệt toàn thân, nhiệt độ da cục bộ vẫn khác nhau tuỳ vùng cơ thể được che hoặc tiếp xúc với nệm.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; manikin, không có người ngủ; nhiệt độ cao nhất thử là 26,4 °C, thấp hơn nhiều đêm nóng ở Việt Nam; tóm tắt không quy đổi sang m²K/W.

Akimoto M, Shinoda J, Bivolarova MP, Tanabe S-I, Wargocki P. Effect of bedding on total thermal insulation in different sleeping postures measured with thermal manikin and modelled with JOS-3. Building and Environment 2025;279:113074. trích từ tóm tắt · doi:10.1016/j.buildenv.2025.113074

Zhao và cs., 2024

Khác · Trung Quốc · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Ba mẫu vải chiếu mềm dệt kim (sợi UHMWPE, nylon hoặc polyester phối polyester siêu mảnh) so với một chiếu cói và một chiếu mây thương mại.
Điều kiện
Thử nghiệm vật liệu trong phòng thí nghiệm: độ mềm, độ thoáng khí, độ thấm hơi ẩm, hút và dẫn ẩm, cảm giác mát.
Đo gì
Độ thoáng khí (mm/s), độ thấm hơi ẩm, hệ số truyền nhiệt.
Kết quả
Độ thoáng khí của chiếu cói thương mại chỉ 59,82 mm/s, của chiếu mây 961,74 mm/s; ba mẫu vải dệt kim 303,79–658,19 mm/s. Độ thấm hơi ẩm của vải dệt kim 6.801–7.616 g/(m²·24 h), cao hơn nhiều so với chiếu thương mại. Mẫu UHMWPE có hệ số truyền nhiệt cao nhất, 54,05 W/(m²·°C).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; thử nghiệm vật liệu, không có người nằm; mỗi loại chiếu thương mại chỉ một mẫu, không đại diện cho chiếu cói, chiếu mây hay chiếu trúc nói chung; nhóm tác giả phát triển sản phẩm đang so sánh.

Zhao Y, Cong H, Sun J (2024). 针织软凉席面料设计与性能评价 (Design and performance evaluation of knitted soft mat fabric). Journal of Textile Research (纺织学报) 45(11):99–105. trích từ tóm tắt · doi:10.13475/j.fzxb.20230601501

Abedin và cs., 2023

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Hoa Kỳ · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Bốn loại vải dệt kim 100%: len merino, cotton, viscose, polyester (188–213 g/m², dày 0,65–0,69 mm).
Điều kiện
Thử độ hồi ẩm động, thử theo ISO 16533 (chuyển mẫu giữa khoảng 10% và 90% RH) và tấm nóng động Naylor (độ ẩm tăng từ 45% lên 85% RH).
Đo gì
Nhiệt toả ra khi hút ẩm, mức tăng nhiệt độ, độ hồi ẩm.
Kết quả
Trên tấm nóng động, nhiệt toả ra khi hút ẩm là 12.050 J/m² (len), 10.447 (viscose), 5.686 (cotton) và 5.541 J/m² (polyester). Sau 30 phút hút ẩm nhanh, độ hồi ẩm là 7,4% (viscose), 7,0% (len), 4,7% (cotton), 0,3% (polyester). Theo ISO 16533, nhiệt độ mẫu tăng tới 4,8–6,9 °C với len, viscose, cotton và gần 0 với polyester.
Hạn chế
Tác giả nêu: buồng mất 23–40 phút để tăng độ ẩm nên không phải bước nhảy tức thời; kết quả ISO 16533 phụ thuộc cách gập mẫu và kích thước cảm biến; không có dữ liệu trên người. Nhận xét biên tập: tóm tắt ghi len toả nhiệt hơn cotton 50% nhưng bảng số cho khoảng 112%; đây là vải dệt kim, không phải vải ga dệt thoi.

Abedin F, DenHartog E (2023). The Exothermic Effects of Textile Fibers during Changes in Environmental Humidity: A Comparison between ISO:16533 and Dynamic Hot Plate Test Method. Fibers 11(5):47. trích từ toàn văn · doi:10.3390/fib11050047

Thử nghiệm nệm làm mát nhiệt điện, 2022

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Không rõ

Đối tượng
Nguyên mẫu nệm làm mát bằng module nhiệt điện; không có người tham gia.
Điều kiện
Hai kiểu lớp điều nhiệt: đệm nước liền khối và ống nước tuần hoàn; nhiệt độ cài đặt 20, 18 và 16 °C.
Đo gì
Nhiệt độ các lớp đệm, thời gian đạt trạng thái ổn định.
Kết quả
Đệm nước liền khối làm mát tốt hơn ống nước tuần hoàn trong điều kiện tương tự; mặt trên của nó thấp hơn nhiệt độ không khí trong phòng 1,97 °C, 2,46 °C và 3,08 °C ở nhiệt độ cài đặt 20, 18 và 16 °C.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; trang không ghi tên tác giả; không có người ngủ, không đo giấc ngủ hay độ ẩm bề mặt; không nêu nhiệt độ phòng và điện năng tiêu thụ.

An experiment to assess the heat transfer performance of thermoelectric-driven conditioned mattress. Thermal Science 2022, 26(1):785–799 (trang tóm tắt; tên tác giả không hiển thị trong phần đã đọc). trích từ tóm tắt · doi:10.2298/TSCI201111146L

Wölfling và cs., 2020

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · n = 5 · Đức · phòng thí nghiệm

Đối tượng
18 chăn đo trên manikin tiết mồ hôi; kiểm chứng trên 5 nam khoẻ mạnh (24–33 tuổi) với 3 chăn.
Điều kiện
Manikin Sherlock (da 31 °C) nằm trên giường trong buồng 15 °C, 50% RH, chăn phủ lỏng tạo 'hang giường'; thử trên người ở 20 °C, 50% RH. Ruột chăn gồm polyester, lông vũ, len, lyocell/polyester, linen/cotton…
Đo gì
Nhiệt trở Rc, trở hơi nước Re, nhiệt độ và độ ẩm trong hang giường.
Kết quả
Nhiệt trở các chăn từ 0,56 đến 1,00 m²K/W; thấp nhất là chăn linen/cotton (0,56) và cũng có trở hơi nước thấp nhất (51,89 m²Pa/W), cao nhất là chăn lông vũ (Re tới 104,84 m²Pa/W). Vi khí hậu hang giường 25,67–28,89 °C và 54,43–67,43% RH, một số mẫu vượt mốc 60% RH.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: bài không có mục hạn chế riêng; phép đo manikin chỉ ở một điều kiện buồng (15 °C, 50% RH), một hồ sơ tiết mồ hôi, tắt tiết mồ hôi vùng lưng và đo chăn không có vỏ bọc; chỉ 5 người kiểm chứng trên 3 chăn; tác giả không thấy tương quan rõ giữa trở hơi nước và vi khí hậu hang giường; điều kiện 15–20 °C rất khác phòng ngủ nóng ẩm.

Wölfling B-M, Classen E, Gerhardts A. Characterization of the thermophysiological comfort of duvets in consideration of the bed cave. Communications in Development and Assembling of Textile Products 2020;1(1):39–47. trích từ toàn văn · doi:10.25367/cdatp.2020.1.p39-47

Worsley và cs., 2018

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Anh · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Không có người tham gia; mô hình vật lý là bồn 20 L nước 37 °C đặt trên bề mặt đỡ, mô phỏng tiết mồ hôi 1,5 mL/phút trong 25 phút.
Điều kiện
So sánh bề mặt có vải spacer (có và không có luồng khí chủ động, có vỏ thông gió) với foam đàn hồi chậm (viscoelastic); cảm biến nhiệt ẩm trên tấm cotton mỏng, theo dõi 24 giờ.
Đo gì
Thông lượng nhiệt, độ ẩm tương đối tại mặt tiếp xúc, tốc độ truyền hơi nước.
Kết quả
Vải spacer tản nhiệt 33,6 W/m² so với 10,4 W/m² của foam viscoelastic. Khi không có luồng khí, cả hai chỉ giảm độ ẩm mặt tiếp xúc rất ít; vải spacer có luồng khí chủ động đưa độ ẩm từ bão hoà (99%) về mức môi trường (40%) trong 24 giờ, tốc độ truyền hơi nước 0,9 g/m²·giờ.
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; mô hình vật lý, không có người ngủ; bối cảnh là bề mặt chống loét trong y tế; độ ẩm môi trường 40% thấp hơn nhiều so với phòng ngủ Việt Nam.

Worsley P, Bader D. A modified evaluation of spacer fabric and airflow technologies for controlling microclimate at the loaded support interface. Textile Research Journal 2018. trích từ tóm tắt · doi:10.1177/0040517518786279

Troynikov và cs., 2015

Mô hình, thử nghiệm vật liệu · Úc · phòng thí nghiệm

Đối tượng
Manikin nhiệt tiết mồ hôi 20 vùng (Newton); không có người tham gia.
Điều kiện
Quy trình rút gọn 3 giờ 20 phút xen kẽ pha sinh nhiệt và tiết mồ hôi; manikin nằm trên nệm latex hoặc nệm lò xo với các bộ chăn ga khác nhau; buồng 17 °C, 50% RH.
Đo gì
Nhiệt độ và độ ẩm vi khí hậu chăn ga theo vùng cơ thể.
Kết quả
Bộ chăn ga trên nệm latex có nhiệt độ vi khí hậu cao hơn tới 3 °C so với nệm lò xo; chênh lệch trước–sau thân trên nệm latex tới 2,5 °C. Độ ẩm vùng lưng trên nệm latex gấp đôi nệm lò xo, đạt 50% RH (p<0,05).
Hạn chế
Nhận xét biên tập: tóm tắt hội nghị, chưa phải bài báo đầy đủ; manikin, không có người ngủ; bài không nêu số mẫu nệm mỗi loại nên chưa khái quát được cho mọi nệm latex hay lò xo; buồng 17 °C khác xa phòng ngủ nóng ẩm.

Troynikov O, Nawaz N, Watson C (2015). The development of an objective method for evaluating transient sleeping environments. Extreme Physiology & Medicine 4(Suppl 1):A141. trích từ toàn văn · doi:10.1186/2046-7648-4-S1-A141

Woodcock và cs., 2006

Khác · Anh · ôn đới

Đối tượng
10 gối đã qua sử dụng từ các gia đình (5 gối xơ tổng hợp, 5 gối lông vũ), tuổi gối từ khoảng 18 tháng đến hơn 20 năm.
Điều kiện
Nuôi cấy định lượng nấm từ ruột gối và bụi hút từ gối.
Đo gì
Số loài nấm, mật độ khuẩn lạc (CFU/g).
Kết quả
Aspergillus fumigatus có trong cả 10 gối; ngoài ba loài phổ biến nhất còn phân lập thêm 47 loài, mỗi gối 4–16 loài. Gối xơ tổng hợp có trung bình 10 loài nhận dạng được so với 7,8 loài ở gối lông vũ; mật độ A. fumigatus trung bình khoảng 2.745 CFU/g (tổng hợp) so với 1.863 CFU/g (lông vũ).
Hạn chế
Tác giả nêu: mẫu rất nhỏ, biến thiên lớn giữa các gối; một số chủng không nhận dạng được. Nhận xét biên tập: không đo sức khoẻ người dùng; không ghi nhận độ ẩm phòng; số mẫu trong bảng không khớp hoàn toàn với phần văn bản.

Woodcock AA, Steel N, Moore CB, Howard SJ, Custovic A, Denning DW (2006). Fungal contamination of bedding. Allergy 61:140–142 (bản PDF lưu tại Fungal Infection Trust). trích từ toàn văn · doi:10.1111/j.1398-9995.2005.00941.x

Weedall và cs., 2001

Khác · n = 16 · Anh · phòng thí nghiệm

Đối tượng
16 người đánh giá xếp hạng cảm giác mát/ấm của nhiều loại vải.
Điều kiện
Đo thông lượng nhiệt cực đại (Qmax) và độ hấp thụ nhiệt b bằng máy Alambeta T675, so với xếp hạng của người đánh giá.
Đo gì
Mức tương quan giữa Qmax, b và cảm giác mát khi chạm.
Kết quả
Khi so vải khác loại xơ, Qmax và b tương quan kém với xếp hạng của người đánh giá. Với vải cùng loại xơ, cả hai chỉ số theo đúng cảm giác mát–ấm; để người đánh giá xếp cùng thứ tự với máy, Qmax cần chênh khoảng 0,2–0,3 W/m².
Hạn chế
Nhận xét biên tập: chỉ đọc tóm tắt; cảm giác mát khi chạm là cảm giác tức thời, không phản ánh tiện nghi nhiệt cả đêm; kết quả cho thấy không nên so Qmax giữa các loại xơ khác nhau như một chỉ báo cảm giác.

Weedall P.J., Goldie L. The objective measurement of the 'cool feeling' in fabrics. Journal of The Textile Institute 92(1, Part 4):379–386 (2001). trích từ tóm tắt · researchportal.hw.ac.uk

Nhóm khác trong kho

  • Nhiệt
  • Ẩm
  • Âm thanh
  • Ánh sáng
  • Không khí
  • Nhịp và thói quen
  • Chất nạp vào