Từ điển · Nhóm Nhịp và thói quen · Mục 4 trên 8
Làm ca đêm, ngủ ban ngày
Mốc quy chiếu
Tan ca lúc 6 giờ sáng, chạy xe về dưới nắng, 8 giờ mới nằm được; ngoài ngõ tiếng xe, tiếng hàng rong, phòng nóng dần lên. Ngủ chập chờn tới trưa là tỉnh, tối vào ca lại díp mắt.
Nếu bạn nhận ra cảnh này, mục từ dưới đây là về nó.
Người làm ca đêm phải ngủ vào lúc đồng hồ sinh học thúc đẩy tỉnh táo, trong môi trường ban ngày sáng và ồn. Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Mỹ (AASM) mô tả rối loạn giấc ngủ do làm ca (shift work disorder) xảy ra khi người lao động khó thích nghi với giờ ngủ, giờ thức do lịch làm việc; biểu hiện gồm buồn ngủ quá mức, khó ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ, thiếu năng lượng, kém tập trung, nhức đầu, dễ cáu [2]. Không phải ai làm ca cũng mắc rối loạn này [2].
Một phân tích gộp 29 nghiên cứu ước tính tỉ lệ rối loạn giấc ngủ do làm ca ở người làm ca là 26,5% [3]. Theo bài này, tiêu chí ICSD-3 yêu cầu than phiền mất ngủ hoặc buồn ngủ đi kèm giảm tổng thời gian ngủ, kéo dài ít nhất 3 tháng, và theo dõi bằng nhật ký giấc ngủ hoặc thiết bị đeo tay ít nhất 14 ngày [3].
NIOSH (Mỹ) khuyên người làm ca đảm bảo chỗ ngủ thật tối, có thể lắp rèm hoặc mành cản sáng, đeo bịt mắt, và chặn tiếng ồn bằng nút tai hoặc máy tạo tiếng ồn trắng [1]. AASM khuyên tránh ánh nắng buổi sáng nếu cần ngủ ban ngày, đeo kính râm nếu phải ra ngoài, và nhờ người trong nhà giữ yên lặng trong giờ ngủ [2].
Năm 2019, Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) xếp làm ca đêm vào nhóm 2A, 'có thể gây ung thư cho người' (probably carcinogenic) [4]. Nhóm 2A được dùng khi bằng chứng ở người còn hạn chế và bằng chứng trên động vật thí nghiệm là đủ; phân loại này nói về độ mạnh của bằng chứng rằng một tác nhân có thể gây ung thư, không nói về mức độ nguy cơ [4]. IARC ghi nhận các liên quan dương tính giữa làm ca đêm và ung thư vú, tuyến tiền liệt, đại tràng và trực tràng [4].
Tự kiểm tối nay
(1) Ghi nhật ký ít nhất 14 ngày, cả ngày làm và ngày nghỉ: giờ tan ca, giờ ngủ được, giờ dậy, số lần tỉnh và lý do (sáng, ồn, nóng, đói, buồn tiểu), giấc ngủ phụ trước ca [3]. (2) Tính tổng thời gian ngủ trong 24 giờ cho mỗi ngày, so ngày làm ca đêm với ngày nghỉ. (3) Kiểm tra phòng ngủ ban ngày lúc 9–10 giờ sáng: nằm ở chỗ ngủ, có thấy sáng qua rèm, khe cửa không; có nghe rõ tiếng đường, tiếng hàng xóm không [1]. (4) Ghi những lần buồn ngủ khó cưỡng trong ca và trên đường về; buồn ngủ quá mức là một biểu hiện AASM liệt kê [2]. (5) Giới hạn: nhật ký tự ghi dễ bỏ sót những lần tỉnh ngắn; vòng đeo tay chỉ ước đoán; tiêu chí chẩn đoán cần bác sĩ đánh giá [3].
Vì sao mục này khó
Mệt mỏi, khó ngủ ban ngày thường bị coi là cái giá đương nhiên của nghề, nên ít người làm ca tìm hiểu hay đi khám. Thời gian nằm trên giường có thể dài, nhưng ngủ thật bị cắt vụn bởi ánh sáng, tiếng ồn và nhịp sinh học [1][2]. Rối loạn giấc ngủ do làm ca cũng khó tách khỏi các rối loạn giấc ngủ khác; AASM ghi có thể cần đo giấc ngủ khi bác sĩ nghi có rối loạn khác góp phần [2].
Đừng nhầm với
Mục này
Làm ca đêm, ngủ ban ngày
Hay bị nhầm
Buồn ngủ của người làm ca dồn vào giờ làm đêm và đỡ trong những đợt nghỉ dài. Buồn ngủ mọi lúc, kể cả khi đã nghỉ ca nhiều ngày và ngủ đủ, cần tìm nguyên nhân khác.
Mục này
Làm ca đêm, ngủ ban ngày
Hay bị nhầm
Nếu giờ ngủ thay đổi theo lịch ca và mệt mỏi dồn vào những ngày làm ca đêm, đây là chuyện làm ca. Giờ ngủ xê dịch mà không có ca làm việc thì xem mục giờ ngủ thất thường.
Mục này
Làm ca đêm, ngủ ban ngày
Hay bị nhầm
Người ngủ đêm tỉnh sớm vì trời sáng lúc rạng đông. Người làm ca đêm thì vấn đề là ánh sáng ban ngày suốt giờ ngủ; cả hai đều cần phòng tối, nhưng mức che sáng cho người ngủ ngày phải kín hơn.
Khi nào không còn là chuyện phòng ngủ
Theo AASM, nếu sau vài tuần áp dụng các biện pháp mà vẫn khó ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ, bạn có thể mắc rối loạn giấc ngủ do làm ca và nên gặp bác sĩ chuyên về giấc ngủ [2]. Tiêu chí ICSD-3 lấy mốc triệu chứng kéo dài từ 3 tháng, kèm giảm tổng thời gian ngủ [3]; mang theo nhật ký 14 ngày khi đi khám. Buồn ngủ quá mức là một biểu hiện AASM liệt kê [2]; theo chúng tôi, nếu buồn ngủ tới mức díp mắt khi lái xe, chạy xe máy về nhà sau ca thì nên đi khám sớm hơn, và dừng lại ở nơi an toàn thay vì cố đi tiếp. Bác sĩ có thể đề nghị đo giấc ngủ nếu nghi có rối loạn giấc ngủ khác góp phần [2].
Nguồn
- NIOSH/CDC (Mỹ). Work Hour Training for Nurses — Module 9. Coping with the Night and Evening Shifts: Sleep. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- American Academy of Sleep Medicine (AASM) — Sleep Education. Shift Work (duyệt nội dung 11/2020). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Pallesen S, Bjorvatn B, Waage S, Harris A, Sagoe D (2021). Prevalence of Shift Work Disorder: A Systematic Review and Meta-Analysis. Frontiers in Psychology 12:638252. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- IARC (05/07/2019). IARC Monographs Volume 124: Night Shift Work — Questions and Answers. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30