Từ điển · Nhóm Nhịp và thói quen · Mục 8 trên 8
Tỉnh lúc 2–3 giờ sáng rồi trằn trọc
Mốc quy chiếu
Ngủ được lúc 11 giờ, rồi tự nhiên mở mắt lúc 2 giờ hơn, tỉnh như sáo; nằm nghe tiếng quạt, tính chuyện tiền nong, đến gần 4 giờ mới thiếp đi được một chút trước khi chuông báo thức reo.
Nếu bạn nhận ra cảnh này, mục từ dưới đây là về nó.
Thức giấc giữa đêm rất phổ biến. Trong một khảo sát qua điện thoại với 8.937 người lớn ở Mỹ, 35,5% cho biết thức giấc giữa đêm ít nhất 3 đêm mỗi tuần [6]. Nhưng thức giấc tự nó không phải vấn đề: nghiên cứu này cho thấy chỉ thức giấc mà không có triệu chứng mất ngủ khác thì khó gắn với suy giảm chức năng ban ngày [6]. Bản tóm lược khuyến nghị của NSF coi thức dậy không quá một lần mỗi đêm và tổng thời gian thức sau khi đã ngủ từ 20 phút trở xuống là dấu hiệu của giấc ngủ chất lượng tốt [5]. Thời gian thức sau khi đã ngủ cũng tăng dần theo tuổi ở người khoẻ mạnh [4].
Điểm phân biệt là có ngủ lại được không. Trong cùng khảo sát, 43% người hay thức giấc cho biết khó ngủ lại; khi đã khó ngủ lại, 77% trường hợp có ảnh hưởng ban ngày [6]. Nhóm tác giả đề xuất dùng tiêu chí 'khó ngủ lại' để nhận ra những người thức giấc có ảnh hưởng đáng kể [6]. Thức dậy sớm và không ngủ lại được cũng nằm trong danh sách triệu chứng mất ngủ của NHS [1], và tiêu chí mất ngủ mạn tính (từ 3 đêm mỗi tuần, từ 3 tháng, có ảnh hưởng ban ngày) áp dụng cho cả kiểu khó duy trì giấc ngủ này [2].
Thức giấc giữa đêm có nhiều nguyên nhân bên ngoài: phòng nóng lên, tiếng ồn, rượu buổi tối, đi tiểu đêm, hoặc thở ngắt quãng khi ngủ. NHS ghi các triệu chứng ngưng thở khi ngủ như ngừng thở rồi thở lại, thở hổn hển, khịt mũi, nghẹn, và ngáy to [7]. Với kiểu tỉnh rồi trằn trọc, các hướng dẫn hành vi khuyên không nằm thức trên giường quá 15–20 phút [3].
Tự kiểm tối nay
(1) Ghi nhật ký 14 đêm vào mỗi sáng: tỉnh mấy lần, ước chừng lúc mấy giờ, vì sao tỉnh (nóng, tiếng động, buồn tiểu, mơ, không rõ lý do), bao lâu mới ngủ lại. Không bật điện thoại xem giờ mỗi lần tỉnh. (2) Ghi kèm: có uống rượu bia tối hôm trước không, ăn tối lúc mấy giờ, nhiệt độ phòng lúc đi ngủ và lúc thức dậy nếu có nhiệt kế. (3) Nhờ người ngủ cùng để ý vài đêm xem bạn có ngáy to, ngừng thở rồi thở hắt ra không [7]; hoặc bật ứng dụng ghi âm trong đêm. (4) Lần tỉnh tới, nếu sau 15–20 phút chưa ngủ lại được, rời giường làm việc gì nhẹ nhàng dưới ánh đèn mờ rồi mới quay lại khi buồn ngủ [3]. (5) Giới hạn: người ta thường nhớ được lần tỉnh dài, quên những lần tỉnh ngắn; vòng đeo tay đo thức giấc không chính xác bằng đo giấc ngủ tại cơ sở y tế; nhật ký giúp tìm quy luật, không thay chẩn đoán.
Vì sao mục này khó
Người thức giấc thường nhớ đúng giờ tỉnh (2–3 giờ) và dễ nghĩ đó là một 'giờ đặc biệt' của cơ thể, trong khi điều đáng chú ý là có ngủ lại được hay không [6]. Nhiều nguyên nhân bên ngoài như nóng, ồn, rượu, đi tiểu cùng gây tỉnh giấc vào khoảng giờ đó, nên dễ đổ nhầm cho một thứ duy nhất. Ngưng thở khi ngủ thì người ngủ thường không biết mình ngừng thở; người ngủ cùng mới là người nhận ra [7].
Đừng nhầm với
Mục này
Tỉnh lúc 2–3 giờ sáng rồi trằn trọc
Hay bị nhầm
Tỉnh vì nóng thì người ướt mồ hôi, đá chăn, nhiệt kế phòng cao hơn lúc đi ngủ; bật quạt, hạ điều hoà là ngủ lại được. Phòng vẫn mát mà tỉnh rồi trằn trọc thì không phải chuyện nhiệt.
Mục này
Tỉnh lúc 2–3 giờ sáng rồi trằn trọc
Hay bị nhầm
Tỉnh vì buồn tiểu thì biết ngay lý do và thường dậy đi vệ sinh. Tỉnh mà không buồn tiểu, nằm nghĩ ngợi không ngủ lại được, thì là chuyện khó duy trì giấc ngủ.
Mục này
Tỉnh lúc 2–3 giờ sáng rồi trằn trọc
Tỉnh vì tiếng xe, tiếng còi thì thường nhớ được tiếng động vừa xảy ra, giờ tỉnh trùng giờ xe chạy, và ngủ lại khá nhanh. Tỉnh không rõ lý do rồi nằm trằn trọc cả tiếng, kể cả đêm yên tĩnh, thì nguyên nhân nằm ở chỗ khác.
Mục này
Tỉnh lúc 2–3 giờ sáng rồi trằn trọc
So nhật ký: tỉnh giấc nửa sau đêm dồn vào những tối có uống rượu bia thì đọc mục rượu buổi tối. Tỉnh cả những đêm không uống thì rượu không phải lời giải thích duy nhất.
Khi nào không còn là chuyện phòng ngủ
Nên trao đổi với bác sĩ nếu: khó ngủ lại sau khi thức giấc, xảy ra từ 3 đêm mỗi tuần và kéo dài từ 3 tháng, kèm mệt mỏi hay ảnh hưởng ban ngày [2]; thay đổi thói quen ngủ không giúp được gì, hoặc tình trạng đã kéo dài nhiều tháng, ảnh hưởng tới sinh hoạt [1]. Đi khám nếu người ngủ cùng thấy bạn ngừng thở rồi thở lại, thở hổn hển, nghẹn, ngáy to, hoặc ban ngày bạn luôn thấy rất mệt [7]. Với mất ngủ mạn tính, hướng dẫn ACP xếp liệu pháp nhận thức hành vi (CBT-I) là lựa chọn đầu tiên [2]; mang theo nhật ký 2 tuần khi đi khám.
Nguồn
- NHS (Anh). Insomnia. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Qaseem A, Kansagara D, Forciea MA, Cooke M, Denberg TD; Clinical Guidelines Committee of the American College of Physicians (2016). Management of Chronic Insomnia Disorder in Adults: A Clinical Practice Guideline From the American College of Physicians. Annals of Internal Medicine 165(2):125–133. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- The Royal Australian College of General Practitioners (RACGP). Resource G. GP guide to behavioural therapy for insomnia. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Ohayon MM, Carskadon MA, Guilleminault C, Vitiello MV (2004). Meta-analysis of quantitative sleep parameters from childhood to old age in healthy individuals: developing normative sleep values across the human lifespan. Sleep 27(7):1255–1273. Bản ghi Europe PMC. đọc tóm tắt · tra cứu 2026-10-30
- Roy S. Good Quality Sleep: National Sleep Foundation Provides Guidance. Sleep Review, 25/01/2017 (bài tạp chí ngành tóm lược báo cáo NSF của Ohayon 2017). đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- Ohayon MM, Krystal A, Roehrs TA, Roth T, Vitiello MV (2010). Using difficulty resuming sleep to define nocturnal awakenings. Sleep Medicine 11(3):236–241. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30
- NHS (Anh). Sleep apnoea. đọc toàn văn · tra cứu 2026-10-30